Sưu Tầm- Liên Kết

Đồng Bằng Sông Cửu Long 2020 CÁNH ĐỒNG CHẾT VÀ 45 NĂM ẢO VỌNG TRÍ THỨC

posted Apr 8, 2020, 4:59 AM by Le Phan   [ updated Apr 8, 2020, 5:25 AM ]

Đồng Bằng Sông Cửu Long 2020 
CÁNH ĐỒNG CHẾT VÀ 
45 NĂM ẢO VỌNG TRÍ THỨC

 
Tưởng nhớ GS Nguyễn Duy Xuân, và GS Phạm Hoàng Hộ, hai tượng đài trí tuệ kiệt xuất, bất khuất của Miền Nam.

Lời Dẫn Nhập: Giáo sư Phạm Hoàng Hộsau khi hoàn tất bộ sách đồ sộ Cây Cỏ Việt Nam” mà Giáo sư gọi là công trình của đời tôi" và vào mấy năm cuối đời,như một Di Chúc,đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho:

      “Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã 
quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước. 
      Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, 
mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh. 
      Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào.

Thế hệ sinh sau 30 tháng 4, 1975 nay cũng đã 45 tuổi, cũnglà 45 năm của một chính sách ngu dân lãng phí / huỷ diệt nguồnchất xám, và lăng nhục cả một thế hệ trí thức Miền Nam.Và nghĩ xa hơn, một Đồng Bằng Sông Cửu Long sẽ không chết như ngày nay nếu có một nhà nước biết trân trọngsử dụng nguồn chất xám ấy, mà biểu tượng là hai trí tuệ kiệt xuất củaMiền Nam như Giáo sư Phạm Hoàng Hộ và Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, là hai thành viên sáng lập Viện Đại học Cần Thơ năm 1966, và sau 1975 cả hai có cùng một ý nguyện chọn ở lại để xây dựng đất nước sau chiến tranh và thống nhất. Để rồi, GS Nguyễn Duy Xuân thì chết thảm sau 11 năm bị đầy đọa trong trại tù cải tạo Hà-Nam-Ninh ở Miền Bắc, và GS Phạm Hoàng Hộ thì trải qua một chặng đường vô cùng đau khổ qua “một thời kỳ sống trong ảo vọng là sẽ thấy đất nước đi lên, giai đoạn đi xe đạp, ăn gạo hẩm, tưởng hoa sẽ nở trên đường quê hương” để rồi kết thúc là một cái chết buồn bã xa nửa vòng trái đất bên ngoài quê hương, một quê hương mà ông suốt đời gắn bó và chẳng bao giờ muốn xa rời. Hình ảnh một Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, một Giáo sư Nguyễn Duy Xuân những năm sau 1975, là tấm gương và cũng là một trải nghiệm đau đớn cho cả một thế hệ trí thức Miền Nam. Trang sử ảm đạm ấy là một bài học đắng cay cho cả một dân tộc sẽ không thể và không bao giờ quên. Với các thế hệ trẻ sau 1975 ở khắp năm châu, cùng với bản tiếng Việt, nay có thêm bản tiếng Anh  để các bạn dễ dàng tiếp cận hơn với bài học lịch sử ấy.

NHỮNG NĂM ẢO VỌNG 
GIÁO SƯ PHẠM HOÀNG HỘ 
VÀ BỘ SÁCH CÂY CỎ VIỆT NAM

 

Hình 1: Chân dung Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ [nguồn: tư liệu gia đình Gs PHH]

Peter Shaw Ashton, Giáo Sư Charles Bullard 
Ngành Lâm Học, Đại Học Harvard

"Với những ghi chú bằng tiếng Anh, cùng với những nét minh hoạ tinh vi của hơn 10,500 chủng loại, bộ sách Hoạ Hình Cây Cỏ Việt Nam / Illustrated Flora of Vietnam của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã cung cấp cho giới độc giả tiếng Anh lần đầu tiên và cập nhật một tài liệu tham khảo thấu đáo mà chúng tôi ít biết đến. Công trình này sẽ đứng như một tượng đài của sự quyết tâm, cống hiến, và uyên bác với lòng can đảm của tác giả. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hầu như đơn độc hình thành một công trình sinh học thực vật có tầm vóc hàn lâm/ academic tại Đại Học Sài Gòn giữa những năm tháng khó khăn. Trong hoàn cảnh cực kỳ thử thách ấy, giáo sư Hộ đã sưu tập được những chất liệu cho bộ sách đặc sắc này và cả những chuyến du khảo nhằm thu thập những mẫu vật để minh hoạ. Và nay công trình được xuất bản, đó sẽ là nguồn khích lệ cho các nhà sinh học trẻ ở Việt Nam và cả ở hải ngoại.

"Cây cỏ Việt Nam có thể lên tới 12,000 chủng loại. Bởi vì xứ sở này nằm sát bờ Thái Bình Dương Á Châu nhiệt đới, đó là hành lang cho những chuyển dịch theo chu kỳ bắc-nam / periodic north-south migration của thảm thực vật vô cùng phong phú từ phía nam Trung Hoa và phong phú hơn nữa là thảm thực vật xích đạo Mã Lai / equatorial flora of Malaysia. Trên các rặng núi vẫn còn lưu lại những chủng loại tùng bách / conifer và thực vật có hoa / angiosperm taxa có tầm quan trọng vô song, trong khi các vùng bình nguyên mang dấu ấn của quá khứ có liên hệ tới các vùng hải đảo Phi Luật Tân và Borneo Nam Dương. Đến nay sự phong phú này hầu như tiêu vong. Những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong chiến lược trồng cây tái sinh và bảo tồn sẽ được hỗ trợ bởi công trình của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ như một hồ sơ theo dõi các thảm thực vật đến nay còn tồn tại." 

***

TIỂU SỬ:

GS Phạm Hoàng Hộ, trên giấy tờ ngày sinh là 3 tháng 8 năm 1931 tại An Bình, Cần Thơ. Nhưng theo cáo phó mới đây của gia đình, GS Hộ sinh năm Kỷ Tỵ 1929, mất ngày 29 tháng Giêng năm 2017 tại Montréal, Canada hưởng thọ 89 tuổi. Anh Phạm Hoàng Dũng, con trai GS Phạm Hoàng Hộ xác nhận là "Ba tôi sinh năm Kỷ Tỵ 1929, nhưng theo lệ ngày xưa thì lâu sau đó mới khai sinh, là năm 1931".

Văn Bằng:

  • 1953: Cử nhân Khoa học, thủ khoa Thực Vật học, Paris
  • 1955: Cao học Vạn Vật học, Paris
  • 1956: Thạc sĩ / Agrégé Vạn vật học
  • 1962: Tiến sĩ Khoa học / Vạn vật học, Paris

Chức Vụ:

  • 1957-1984: Trưởng phòng Thực vật Đại học Khoa học Sài Gòn
  • 1965-1984: Giáo sư Thực vật học Đại học Khoa học Sài Gòn
  • 1962-1966: Giám đốc Hải học viện Nha Trang
  • 1963-1963: Khoa trưởng Đại học Sư phạm Sài Gòn
  • 1963: Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục
  • 1966-1970: Viện trưởng sáng lập Viện Đại học Cần Thơ
  • 1978-1984: Chủ bút tuần báo Khoa học Phổ thông Sài Gòn
  • 1984-1989: Giáo sư Khảo cứu tại Viện bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris

Hội viên Khoa học:

  • 1956: Hội viên Hội Thực vật học Pháp
  • 1963: Hội viên Hội Tảo học Quốc tế (International Phycological Society)
  • 1964: Hội viên Sáng lập Hội Sinh học Việt Nam
  • 1965: Phó Chủ tịch Uỷ ban Danh từ Việt Nam
  • 1967: Hội viên Hội Viện trưởng Đại học Quốc tế (APU)
  • 1969: Sáng lập viên Niên san Đại học Cần Thơ
  • 1971: Hội viên Uỷ ban Thẩm định hậu quả chất Da cam tại Nam Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia, Hoa Kỳ.
  • 1973: Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Quốc Tế Sông Mekong (MRC)

Ấn phẩm:

  • 1960: Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam (Flore Illustrée du Sud Vietnam) 
    Bộ Giáo dục Việt Nam: 1 vol., 803 pp., 275 pls.
  • 1964: Sinh học Thực vật
    Bộ Giáo dục Việt Nam: 1 vol., 861 pp., nhiều hình
  • 1968: Hiển hoa Bí tử 
    Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 506 pp., 264 pls.
  • 1969: Rong Biển Việt Nam
    Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 558 pp., 493 figs.
  • 1970: Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam, in kỳ 2, quyển I
    Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 1115 pp., figs. 2787
  • 1972:  Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam, in kỳ 2, quyển II 
    Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 1139 pp., figs. 5272

 Cây cỏ Việt Nam: An illustrated Flora of VietNam

  • 1991, Tập 1 Quyển I: Khuyết Thực Vật. Loã Tử. Hoa-cánh-rời đến Tiliaceae
  • 1992, Tập 1 Quyển II Hoa-cánh-rời từ Elaeagnaceae đến Apiaceae
  • 1993, Tập 1 Quyển III Từ Smilacaceae...Cyperaceae... Poaceae... đến Orchidaceae   
  • 1991, Tập 2 Quyển I Hoa-cánh-rời từ Sterculiaceae đến Fabaceae
  • 1993, Tập 2 Quyển II Từ Daphniphyllum ... Fagaceae…  Apocynaceae đến Scrophulariaceae
  • 1993, Tập 2 Quyển III Từ Smilacaceae... Cyperaceae... Poaceae ... đến Orchidaceae
  • 1998: Cây cỏ có vị thuốc ở Việt Nam 
    Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh: 860 pp., 
    Mô tả 2149 loài có vị thuốc gặp ở Việt Nam

Vẫn trong bản Tóm lược sự nghiệp Khoa học, GS Phạm Hoàng Hộ tâm sự: "Có lẽ vì lúc còn rất nhỏ tôi đã sống ở nơi vườn tược, ruộng đồng xanh um vùng châu thổ sông Cửu Long, nên từ nhỏ tôi đã thích cây cỏ. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh của bông Súng ở ruộng hay ao, lộng lẫy dưới ánh mặt trời ban mai, hay hình ảnh của bông Nhãn lồng phơi mình dựa bờ ruộng. Nên Thực vật học và Sinh học Nhiệt đới đã hấp dẫn tôi lúc đi du học. Và lúc học ở Đại học Khoa học Paris, tôi đã bắt đầu tìm hiểu Cây cỏ Đông Dương. Tiếp xúc đầu tiên một cách khoa học với Cây cỏ ấy, tôi thực hiện ở Viện Bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris. Lúc mới học Vạn vật, tôi đã vào nhà kiếng của Viện này để tìm coi có loại nào ở nước nhà hay không. Và một số loài đã được vẽ từ lúc ấy! Tôi nhớ một số Lan đã được vẽ từ năm 1950, trong nhà kiếng ấy. Đó là những hình "xưa" nhất của bộ Cây cỏ của tôi. Sau này khi làm luận án Cao học, cũng ở Viện ấy, tôi mới có dịp vào Thảo Tập, và nhiều hình, nhất là của giống Ficus, khó, vì chưa nhiều loài đã được vẽ vì ngại sự khó khăn ấy về sau khi về bên nhà mà tài liệu thật là khó kiếm. Thật ra lúc ấy tham vọng của tôi vô cùng khiêm tốn, là sau này được biết các loại Ficus Việt Nam mà thôi! Cũng đã quá sung sướng rồi.

Sau khi thi đậu Thạc sĩ / Agrégation hạng sáu, trên 300 thí sinh, và chỉ có 30 đậu, năm 1956 tôi về nước.

[* Ghi chú của người viết: cần phân biệt với bằng Thạc sĩ hiện nay ở Việt Nam tương đương với cao học/ master, trong khi Thạc sĩ / Agrégé ở Pháp là học vị về sư phạm, trải qua kỳ thi tuyển khó khăn, nếu thi đậu sẽ trở thành giáo sư thực thụ / professeur titulaire từ bậc trung học / lycée tới các trường cao đẳng / enseignement supérieur thuộc các ngành Khoa học, Y dược, Luật khoa]

Giáo sư Hộ viết tiếp: "Lúc ấy tham vọng của tôi chỉ là về dạy học ở một trường Trung học, và lúc rảnh rang sẽ tìm hiểu cây cỏ của vùng Lục tỉnh mà thôi, nhưng Viện Đại học Sài Gòn và Hải học viện Nha Trang "kéo" tôi về giảng dạy và trông nom Hải học viện. Khi làm việc ở Nha Trang tôi khảo cứu Rong biển, như là một phận sự. Và sau vài năm khảo cứu dưới sự hướng dẫn của Giáo sư J. Felmann, tôi hoàn thành luận án Tiến sĩ mà tôi trình ở Đại học Paris, năm 1961. Công trình này được đăng trong Niên san Khoa học Đại học đường Sài Gòn, và trong quyển Rong biển Việt Nam, cũng như một số ấn phẩm trong vài tạp chí khoa học.

Ở Sài Gòn, phận sự chính của tôi là giảng dạy Thực vật và Sinh học Thực vật (thay thế Giáo sư Pháp Roger, một nhà chuyên môn về nấm gây bệnh cây) cho sinh viên dự bị và chuyên khoa. Chính vì muốn giảng dạy tốt, thích nghi vào điều kiện nhiệt đới Việt Nam, các môn ấy mà tôi lục lạo và sau đó cho ra đời công trình mà sau này sẽ là công trình của đời tôi là Cây cỏ Việt Nam. [trích dẫn tư liệu gia đình GS. Phạm Hoàng Hộ: Văn Bằng, Sự Nghiệp Khoa Học của Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Thực vật học].

1959-1960, tôi / người viết bài này mới chỉ là sinh viên lớp dự bị Y khoa PCB / Physique Chimie Biologie tại Đại học Khoa học Sài Gòn và được học Thầy Hộ mới tốt nghiệp Thạc sĩ ở Pháp về, dạy môn Sinh Học Thực vật. Tuy chỉ được học Thầy một năm, nhưng Thầy đã để lại cho đám sinh viên và riêng tôi một niềm cảm hứng với những dấu ấn rất khó phai mờ. Vào trường Y khoa rồi, không còn được học Thầy Hộ nhưng tôi vẫn mang lòng ngưỡng mộ và cả theo dõi những bước đi và sưu tập những bộ sách công trình nghiên cứu khoa học của Thầy.

 
Hình 2: Bộ sách Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam gồm 2 quyển, do Trung tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục VNCH xuất bản 1970 [nguồn: Sách Xưa]

Vào đầu thập niên 1990, giới khoa học trong nước và hải ngoại rất đỗi vui mừng khi bộ sách Cây Cỏ Việt Nam của GS. Phạm Hoàng Hộ được lần lượt xuất bản. Theo GS Thái Công Tụng, hiện định cư tại Montréal thì các sách của GS. Phạm Hoàng Hộ hiện có đầy đủ ở Bibliothèque du Jardin botanique de Montréal, Canada, và dĩ nhiên là có trong nhiều thư viện lớn trên thế giới.

Trọn bộ Cây cỏ Việt Nam gồm hai Tập, mỗi Tập 3 Quyển, tổng cộng khoảng 3600 trang, chưa kể Phần Từ Vựng tên Việt Nam và Từ Vựng tên Khoa học các Giống (Chi) bao gồm thêm cả công trình của những năm tháng giáo sư rời quê hương Việt Nam sang Pháp, vẫn tiếp tục cặm cụi làm việc.

Riêng tôi / người viết đã sớm có được trọn bộ 6 Quyển Cây Cỏ Việt Nam xuất bản ở hải ngoại do bác sĩ Phạm Văn Hoàng nguyên Giám đốc Trung Tâm Phục Hồi Cần Thơ, một đàn anh trong Y khoa gửi tặng. (Anh Phạm Văn Hoàng chính là bào đệ của GS Phạm Hoàng Hộ.)

Tưởng cũng nên ghi lại ở đây, là trước 1975, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã từng là Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Sông Mekong/ Mekong River Committee và khoảng năm 1974 hai Giáo sư Phạm Hoàng Hộ và Thái Công Tụng đã có một nghiên cứu chung về Môi sinh Đồng Bằng Sông Cửu Long: The Mekong Delta, Its environment, Its Problems; [do Bộ Canh Nông VNCH xuất bản, Sài Gòn 1974]; khi tìm kiếm tới tài liệu có tính cách lịch sử ấy, tôi được anh GS Thái Công Tụng bùi ngùi cho biết là đã mất hết sau cơn binh lửa...

Để tìm hiểu thêm tại sao, các tác phẩm khoa học của Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ lại được ưu tiên xuất bản bằng tiếng Việt cho dù ngôn ngữ chính thông thạo của GS. Hộ trong suốt quá trình đào tạo và giảng dạy là tiếng Pháp.

      Trong lời mở đầu quyển Rong Biển Việt Nam xuất bản năm 1969, GS. Phạm Hoàng Hộ viết: "Lúc đầu, quyển sách này được thảo bằng ngoại ngữ, khi làm việc ở Hải học viện Nha Trang và ở Museum, và tôi có hoài bão được xuất bản trong ngoại ngữ ấy để công bố công trình khảo cứu của mình ra bốn phương, như lời hứa ngầm lúc trình luận án.

      Song nay tôi đã đổi ý và cho xuất bản bằng tiếng Việt Nam. Đó là để chứng minh rằng ngôn ngữ nào, miễn được chăm sóc, đều có thể diễn tả kiến thức ở mọi trình độ. Tôi biết rằng có nhiều người cho rằng không ấn hành trong một ngôn ngữ quốc tế là phí công, giới khảo cứu làm sao biết đến. Nhưng tôi thấy chẳng cần đến việc ấy. Được mấy mươi triệu người Việt Nam biết và dùng, có giá trị hơn là được vài ngàn học giả chuyên môn thưởng thức. Tôi đã bỏ cái tự hào sai là tranh đua cùng người ngoài để tự tạo lấy thanh danh, "làm thơm lây dân Việt". Tôi tin rằng cái tự hào ấy không thực tế, vì một người Việt Nam hay, không bằng nhiều người Việt Nam khá: cầm đuốc soi thành phố người có vẻ không thức thời trong khi nước nhà còn u ám. Cái tự hào trên thật ra chỉ để che đậy sự trốn trách nhiệm, sự bỏ phận sự trước con cháu chúng ta một cách không tha thứ được. 

      Tạo ra cho chúng ta một nền văn chương khoa học là một công trình rất bao la. Vì thấy nó quá to tát nên nhiều học giả chấp nhận giải pháp dễ nhất: học ngay trong văn chương khoa học ngoại ngữ vô cùng phong phú, dồi dào. Cái học như vậy sẽ cho ta những người giỏi, nhưng ta không quên rằng nền văn minh bây giờ là văn minh của đại chúng chứ không phải của vài người được nữa. Ta đừng để cho sự phong phú của văn hoá nước ngoài đè bẹp ta. Người Nhật, cách đây một thế kỷ, há đã không hoảng sợ trước sự hùng mạnh của khoa học nước ngoài sao? Mà nay họ đã tự tạo được một nền văn chương khoa học riêng biệt đã đến lúc gần hay hơn cả những nước ấy!

Hơn lúc nào hết, câu của Nguyễn Văn Vĩnh vẫn còn vẳng bên tai: "Nước Việt Nam ta sau này hay hay dở là ở chữ quốc ngữ". Trong thế giới tương lai, sự lệ thuộc về văn hoá, nhất là về văn hoá khoa học sẽ là sự lệ thuộc chánh". [Lời Mở Đầu của quyển Rong Biển Việt Nam; Trung Tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục xuất bản 1969].

 
Hình 3: Mấy dòng tiểu sử của GS. Phạm Hoàng Hộ cùng với Lời Tựa của Peter Shaw Ashton, nhà sinh học gốc Anh, Tiến sĩ Đại Học Cambridge,Giáo Sư Charles Bullard ngành Lâm Học, Đại Học Harvard nơi bìa sau của bộ sách Cây Cỏ Việt Nam [Quyển II, Tập 2] xuất bản tại Montréal 1993

 
Hình 4: Một số hình bìa bộ sách đồ sộ Cây Cỏ Việt Nam gồm 6 Quyển 2 Tập của Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ xuất bản tại hải ngoại [nguồn: Ngô Thế Vinh]

CHẶNG ĐƯỜNG ĐAU KHỔ

Hình ảnh một Giáo sư Phạm Hoàng Hộ những năm sau 1975, là một tấm gương và cũng là một trải nghiệm đau đớn cho cả một thế hệ trí thức Miền Nam mà Giáo sư Phạm Hoàng Hộ là một biểu tượng.

Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ thì bộ sách Cây cỏ Việt Nam đã được thực hiện qua 4 giai đoạn:

-- Nghiên cứu giai đoạn một: hợp tác với GS Nguyễn Văn Dương về phần dược tính, Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, do bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1960 mô tả 1650 loài thông thường của Miền Nam, "Đó là giai đoạn còn mò mẫm, học hỏi một thực-vật-chúng chưa quen thuộc đối với một sinh viên vừa tốt nghiệp từ vùng xa lạ mới về.

-- Nghiên cứu giai đoạn hai: kỳ tái bản lần hai 1970 bộ Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, số loài lên được 5328 [Hình 2]. "Đó là giai đoạn mà tôi xem như vàng son của một nhà thực vật học Việt Nam chúng ta. So với bây giờ, lúc ấy tôi yên ổn làm việc, có nhiều phương tiện cá nhân cũng như của non nước và nhất là được sự khuyến khích của mọi giới, bạn bè cũng như chính quyền.    

-- Nghiên cứu giai đoạn ba: tiếp tục công việc nghiên cứu sau 1975, đưa thêm được vào bộ sách Cây cỏ Miền Nam Việt Nam 2500 loài và bộ được nới rộng cho toàn cõi Việt Nam.

Sau biến cố 1975, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ cũng như người bạn đồng hành trí tuệ của ông là Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đã cùng chọn ở lại để xây dựng đất nước sau chiến tranh và thống nhất, nhưng với cái giá rất đắt mà sau này được GS Hộ ghi lại là: thời kỳ sống trong ảo vọng là sẽ thấy đất nước đi lên. Giai đoạn đi xe đạp, ăn gạo hẩm, tưởng hoa sẽ nở trên đường Quê hương.”

Tuy Giáo sư Phạm Hoàng Hộ vẫn còn chức danh là Hiệu phó [phó Khoa trưởng] Đại học Khoa học, nhưng chính quyền mới chỉ sử dụng trí thức cũ như ông chủ yếu là “làm kiểng", không có vai trò tương xứng trong giáo dục. Vì không là đảng viên, nên khi có vấn đề gì thì Đảng bộ họp riêng và quyết định, có việc ông không bao giờ được biết. Năm 1977 sau trải nghiệm những ngày học chính trị, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức Miền Nam tổ chức tại TP Hồ Chí Minh; từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”. [Huy Đức, Bên Thắng Cuộc]

Rồi phải chứng kiến một thiểu số trí thức cũ xu thời, mau chóng hợp tác toàn diện với chế độ mới, bất chấp sự liêm khiết, sẵn sàng cống hiến những công trình mệnh danh khoa học theo phong trào để mừng các ngày lễ hội 3-2 hay 19-5 như các bài báo chứng minh "ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký thịt bò" hoặc là "ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo"... những công trình "giả khoa học / pseudo-science " ấy đã mau chóng trở thành giai thoại đầy mỉa mai được lan truyền trong các trại tù Cải tạo, nơi mà đám tù nhân Miền Nam đang bị thiếu ăn suy dinh dưỡng với thực phẩm cung cấp chủ yếu là gạo hẩm "đại mễ" của Trung Cộng cùng với bo bo và khoai mì / ngoài bắc gọi là sắn.  

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, cũng như số trí thức cũ khảng khái của Miền Nam còn ở lại, thấy không thể tiếp tục sống trong một xã hội giả dối và suy đồi đến như thế, việc ông đi tới quyết định phải chấm dứt những năm "ảo vọng" và lãng phí ấy, là điều không thể tránh.Và rồi dịp ấy đã tới, năm 1984 khi được chính phủ Pháp mời sang làm giáo sư thỉnh giảng, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã quyết định chọn cuộc sống lưu vong và ở lại Pháp.

-- Nghiên cứu giai đoạn bốn: một giai đoạn mà giáo sư Phạm Hoàng Hộ gọi là "vừa hiếm có vừa đau khổ nhất". Giáo sư Hộ viết tiếp: "Đau khổ vì rời quê hương mà không hy vọng trở lại. Đau khổ vì xa gia đình thân yêu, vĩnh biệt mẹ hiền đã trọn đời hy sinh cho các con. Đau khổ vì thấy đất nước thân yêu đang ở trong một nỗi khổ khôn lường, một sự nghèo khôn tả, một sự tuyệt vọng thương tâm."

Nhưng rồi với hùng tâm, ông cũng vượt lên trên sự khổ đau khôn lường ấy. Giáo sư Hộ đã kiên nhẫn đằm mình trong Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris, cật lực làm việc ròng rã suốt sáu năm. Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia ở Paris / Muséum National d'Histoire Naturelle (MNHN) thuộc hệ thống Đại học Sorbonne, bên tả ngạn Sông Seine, được thành lập từ thế kỷ XVIII thời kỳ Cách Mạng Pháp.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ cho rằng: "Hiếm có một nhà Thực vật học, nhất là người Việt Nam, đã lục lạo cây cỏ ở nước nhà, lại được ở lại nghiên cứu tại Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Pháp, chứa một thảo tập phong phú vào bậc nhất thế giới, với 8 tới 10 triệu mẫu vật cây cỏ. Ít nhất cho Việt Nam, nó là kho tàng duy nhất, vì chứa hơn 10 ngàn loài thu được ở nước ta. Trong sáu năm làm việc ở Viện ấy, không một ngày nào mà khi chiều ra về, dù trời đông âm u lạnh lẽo, hay chiều hè vắng vẻ nóng khô, mà tôi không thốt ra câu "Thật là một ngày tuyệt" vì đã biết thêm cho Việt Nam ít nhất là một loài hiếm, lạ hay mới!" Trong giai đoạn chót này, ông bổ túc thêm cho bộ Cây Cỏ được trên 3000 loài. Số loài mô tả khoảng 10,500.

Tại Pháp khi gặp lại người học trò cũ, nay đã là thành viên trong ban giảng huấn Đại học Khoa học Sài Gòn, cũng đang làm việc tại Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Pháp nghiên cứu về Cá / Laboratoire d'Ichthyology, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã tâm sự:  

Tôi ráng làm càng nhiều càng tốt. Bộ sưu tập của Pháp rất dồi dào, đúng phương pháp khoa học. Do được sưu tập từ mấy mươi năm trước, các mẫu vật đã cũ, mình không làm gấp e sẽ hư hỏng thì uổng quá... Nhiều người Trung Quốc từ đại lục và cả từ Đài Loan, Singapore đã đến tìm học các bộ sưu tập thực vật Đông Dương của Pháp. Tôi không biết họ có chủ trương gì đó không. Tài nguyên nước mình, mình phải biết. Mình không biết mà người ta biết thì người ta xài hết của dân mình. Lãnh vực nào cũng vậy riết rồi người ta áp chế mình, ăn trên ngồi trước còn mình cắm đầu dưới đất, tiếng là có độc lập mà còn thua hồi thuộc Pháp!” [4]

 
Hình 5:Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Pháp, Paris nơi Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đơn độc làm việc ròng rã suốt sáu năm để hoàn tất bộ sách Cây Cỏ Việt Nam. [nguồn: internet] 

Sau khi hoàn tất bộ sách Cây Cỏ Việt Nam, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã bày tỏ lòng tri ân sâu xa đối với Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris và các bạn đồng sự Pháp, ông đã rất chân thành tâm sự: "thực hiện những điều mà lúc nhỏ dù điên rồ tới đâu tôi cũng không dám mơ ước: nô lệ của một thuộc địa, học ở một trường thường, ở một tỉnh nhỏ, bao giờ dám nghĩ đến tạo một quyển sách dù nhỏ bé, mê cây cỏ xung quanh nhưng bao giờ nghĩ đến biết cây cỏ cả nước!"

Người "trí thức đau khổ" Phạm Hoàng Hộ đã vươn lên và hoàn tất được "giấc mơ điên rồ" tưởng như không thể được ấy và trở thành cây "đại thụ" trong Khoa học Thực vật của Việt Nam và cả thế giới.     

CHÚT GIAI THOẠI VĂN HỌC

Trong cuốn Bông Hồng Tạ Ơn, khi viết về bộ sách của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn nhớ lại: "Các năm trước 1975, bộ sách của giáo sư Phạm Hoàng Hộ còn mang tên là Cây Cỏ Miền Nam. Cuộc chia cắt đất nước đã giới hạn tầm mức của cuốn sách. Thế nhưng công trình của giáo sư Phạm Hoàng Hộ không phải chỉ được coi là quý đối với các nhà chuyên môn về thực vật học, mà theo nhà văn Võ Phiến có kể lại trong bộ sách Văn Học Miền Nam soạn thảo tại hải ngoại sau 75, thì đã có nhiều nhà văn, [trong số đó có Nguyễn Đình Toàn] đã tìm đọc cuốn Cây Cỏ Miền Nam để biết thêm về một vài loại cây cỏ quanh mình, để khi cần, có thể đưa vào tác phẩm". Giai thoại văn học này có lẽ, chính Giáo sư Phạm Hoàng Hộ không hề biết tới.

SÁNG LẬP VIỆN ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Khoảng thập niên 1960, do sự vận động của các nhân sĩ trí thức Cần Thơ, với hai tên tuổi hàng đầu là Giáo sư Phạm Hoàng Hộ và bác sĩ Lê Văn Thuấn, Viện Đại học Cần Thơ được phép thành lập vào ngày 31.03.1966 và cũng là Đại học đầu tiên của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Giáo sư Phạm Hoàng Hộ là Viện trưởng đầu tiên của Đại học Cần Thơ từ 1966 tới 1970.

Với uy tín lớn về thành tích khoa học và cả về nhân cách, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã quy tụ được rất nhiều "chất xám" tinh hoa của Miền Nam thời bấy giờ; chỉ riêng trong lãnh vực Nông Nghiệp có thể kể tới sự hợp tác của những tên tuổi như GS Tôn Thất Trình, GS Thái Công Tụng, TS Nguyễn Viết Trương, TS Trần Đăng Hồng với công lao bước đầu đưa giống Lúa Thần Nông/ HYV / High Yield Variety vào ĐBSCL.

Rồi phải kể tới một đội ngũ giảng huấn đầy khả năng khiến Đại Học Cần Thơ mau chóng trở thành một trung tâm giáo dục và khoa học có tầm cỡ, đáp ứng nhu cầu trí tuệ của một vùng châu thổ rộng lớn rất giàu nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng chưa được khai thác. Để có thể thấy được thành quả bước đầu của Viện Đại học Cần Thơ, đó là các lớp sinh viên đầu tiên trưởng thành và tốt nghiệp 4 năm sau đó.

Giáo sư Đỗ Bá Khê [là thầy dậy tôi môn Vật lý năm PCB], trong "think tank"  của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, cũng đến từ Đại học Khoa học Sài Gòn, cách đây 50 năm, trong bài diễn văn “xuất trường” của Viện Đại Học Cần Thơ, đã có một tầm nhìn rất xa về vai trò của Viện Đại Học này đối với tương lai vùng Đồng Bằng Châu Thổ:

 “Ngày nay (19/12/1970) trong Thời Đại Khoa Học Kỹ Thuật, các tỉnh ĐBSCL đang trông chờ nơi ánh sáng soi đường của Viện Đại Học Cần Thơ và ước mơ một chân trời mới, tô điểm bằng những cành lúa vàng nặng trĩu, những mảnh vườn hoa quả oằn cây, dân cư thơ thới, một cộng đồng trù phú trong một xã hội công bằng.”

Giáo sư Đỗ Bá Khê cũng là người khai sinh ra hệ thống Đại học Cộng đồng [ĐHCĐ] tại Miền Nam trước 1975, theo mô hình Community College Concept của Mỹ, với điển hình là Đại học Cộng đồng Tiền Giang thành lập năm 1971 tại Mỹ Tho, tiếp theo là ĐHCĐ Duyên Hải tại Nha Trang… nhưng rồi sau 1975, cùng chung số phận của cả một hệ thống giáo dục tốt đẹp Miền Nam bị sụp đổ, mô hình Đại học Cộng đồng cũng đã hoàn toàn bị chế độ mới làm cho biến thể, và mất hết ý nghĩa tâm nguyện ban đầu của người khai sinh sáng lập.

 
Hình 6: Những năm về sau này, cho dù đã phải sống xa quê nhà, nhưng tấm lòng GS Đỗ Bá Khê vẫn cứ luôn đau đáu hướng về “tương lai ĐBSCL và vai trò của Đại Học Cần Thơ trong việc bảo vệ và phát triển vùng này.”[tư liệu Ngô Thế Vinh: thư tay của GS Đỗ Bá Khê viết từ thành phố Concord, California ngày 29.05.2002]

 

GIÁO SƯ NGUYỄN DUY XUÂN
NGỌN HẢI ĐĂNG TRÍ TUỆ MIỀN TÂY

NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH

Đến năm 1970, bước đầu xây dựng được một Đại học Cần Thơ vững vàng, để có thể trở về Sài Gòn tiếp tục các công trình nghiên cứu khoa học và giảng dạy, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ chính thức mời Giáo sư Nguyễn Duy Xuân về thay ông làm Viện trưởng thứ hai của Viện Đại Học Cần Thơ.

Giáo sư Nguyễn Duy Xuân cũng là người Cần Thơ, sinh năm 1925 hơn Giáo sư Phạm Hoàng Hộ 4 tuổi, tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Vanderbilt Hoa Kỳ, trở về Việt Nam 1963, giáo sư Luật. Nhận chức Viện trưởng từ Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đã nỗ lực phát triển Viện Đại học Cần Thơ trên mọi lãnh vực từ chương trình giảng dạy, đào tạo ban giảng huấn, xây cất thêm giảng đường, phòng thí nghiệm, thiết lập ký túc xá như hệ thống campus cho sinh viên đến từ các tỉnh xa Miền Tây. Ông là người tiên phong thực hiện giáo dục đại học theo tín chỉ / credits (thay vì chứng chỉ, certificate như trước đây); giống như mô hình hệ thống Đại học Hoa Kỳ. Ông còn gửi cả một đội ngũ giảng viên trẻ đi du học, điển hình như anh Trần Phước Đường đi Mỹ tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Michigan, sau đó họ trở về trường phục vụ ngành Sinh học. (Giáo sư Trần Phước Đường sau này trở thành Viện trưởng Đại học Cần Thơ từ 1989 tới 1997.)

Năm 1972, ông cũng đích thân mời nhà nông học trẻ Võ Tòng Xuân khi ấy đang công tác ở Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế Los Banos Philippines về trường giảng dạy. Sau này anh Võ Tòng Xuân kể lại, khi nhận được thư của GS Nguyễn Duy Xuân: “Anh Nguyễn Duy Xuân nói ĐBSCL là cái vựa của lúa gạo nên rất cần những nhà khoa học về nông nghiệp. Chiến tranh rồi có ngày hòa bình, đất nước sẽ cần những người như tôi. Đó là một trong những lý do tôi về công tác ở Đại học Cần Thơ.” TS Võ Tòng Xuân sau này trở thành một Giáo sư Nông học danh tiếng, "Doctor Rice" tên tuổi anh VTX gắn liền với sự tiếp nối phát triển cây Lúa Thần Nông và sau đó anh là Viện trưởng Đại học An Giang là Đại học lớn thứ hai của ĐBSCL sau Viện Đại học Cần Thơ. 

Chỉ trong vòng 9 năm [1966 - 1975] với công lao xây dựng của hai Viện trưởng tiền nhiệm: GS Phạm Hoàng Hộ và GS Nguyễn Duy Xuân, Viện Đại Học Cần Thơ như một Ngọn Hải đăng Miền Tây, trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học, đặc biệt bước đầu ưu tiên phát triển hai lãnh vực Sư phạm và Nông nghiệp, vững vàng sánh bước với các Viện Đại học lâu đời khác của Miền Nam, đóng góp cho sự thăng tiến của vùng ĐBSCL.   

TỪ ẢO VỌNG TỚI THẢM KỊCH

Chỉ mấy ngày trước biến cố 30 tháng 4, 1975, cũng như GS Phạm Hoàng Hộ, GS Nguyễn Duy Xuân như một trí thức dấn thân, quyết định ở lại và giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, ông vẫn can đảm nhận chức Tổng trưởng Bộ Văn hóa Giáo dục cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Giữ chức vụ đó chưa đầy một tuần lễ thì chính quyền Miền Nam sụp đổ, TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

GS Nguyễn Duy Xuân bị đưa vào trại tù cải tạo, sau đó bị đưa ra Bắc, giam trong trại tù Hà-Nam-Ninh, hầu như không có ngày về. Vẫn theo anh Võ Tòng Xuân (VTX), năm 1983, trong một lần ra Hà Nội dự họp, anh VTX đã vô trại Ba Sao để thăm lại vị Viện trưởng của mình khi còn ở Viện Đại học Cần Thơ. Gặp lại đồng nghiệp, GS Nguyễn Duy Xuân rất mừng, và dù đang trong nghịch cảnh tù đầy, ông vẫn đau đáu quan tâm hỏi han tới hiện trạng của Đại học Cần Thơ, nơi mà ông và GS Phạm Hoàng Hộ đã dầy công xây dựng.

Tôi, người viết bài này không thể không tự hỏi nếu không có 11 năm giam hãm đầy đoạ độc ác và vô ích của những người Cộng sản thắng cuộc, nếu GS Nguyễn Duy Xuân, một Tiến sĩ Kinh tế tài ba và giàu lòng yêu nước như ông vẫn tiếp tục ở lại xây dựng Viện Đại học Cần Thơ với nhịp độ 1966-1975, không biết Viện Đại học Cần Thơ và ĐBSCL sẽ phát triển và tiến xa tới đâu.

Năm 1983 là lần gặp gỡ đầu tiên của hai Giáo sư cùng tên Xuân sau 1975 ở trại Ba Sao và cũng là lần cuối cùng GS VTX được gặp lại GS Nguyễn Duy Xuân. Tiếp tục bị đầy ải thêm 3 năm nữa tổng cộng 11 năm, GS Nguyễn Duy Xuân đã chết trong tù cải tạo Hà- Nam-Ninh ngày 10 tháng 11 năm 1986 trong đói khát và bệnh tật không thuốc men. Xác của ông được vùi nông trong nghĩa địa tù cải tạo trên triền núi phía sau trại tù Ba Sao.

Phải mãi đến tháng 4 năm 2015, gần 30 năm sau, di cốt của GS Nguyễn Duy Xuân, mới được người con gái là bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga từ Pháp về bốc mộ đưa từ nghĩa địa trại tù Ba Sao Hà-Nam-Ninh về Chùa Thiên Hưng, Quận Bình Thạnh Sài Gòn để lưu giữ tại đây. Trong buổi lễ cầu siêu, ngoài các thành viên của gia đình cố Viện trưởng Nguyễn Duy Xuân, còn có một số cựu giảng huấn và các cựu sinh viên tốt nghiệp Đại học Cần Thơ trước 1975 như GS Võ Tòng Xuân, TS Nguyễn Tăng Tôn (cựu SV), TS Nguyễn Văn Mận (Cựu SV), KS Minh (Cựu SV), Ông Hòa (nhân viên hành chánh), đến tham dự buổi lễ.

 
Hình 7: Trại tù Ba Sao Hà-Nam-Ninh, Miền Bắc Việt Nam, nơi triền núi phía sau trại tù là nghĩa địa chôn vùi xác rất nhiều tù nhân cải tạo có gốc từ Miền Nam sau 1975, trong đó có thân xác Giáo sư Nguyễn Duy Xuân được vùi nông. Mãi 30 năm sau, con gái ông là bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga từ Pháp về bốc mộ cha đưa từ nghĩa địa trại tù Ba Sao về Chùa Thiên Hưng, Quận Bình Thạnh Sài Gòn.

 
Hình 8: từ trái, GS Võ Tòng Xuân, bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga con gái GS Nguyễn Duy Xuân, ôm bình tro cốt của cha, bạn trai Alan và một thân hữu  [nguồn: Võ Tòng Xuân] 

VIỆN ĐẠI HỌC CẦN THƠ SAU 1975

Thay thế Giáo sư Viện trưởng Nguyễn Duy Xuân là ông Phạm Sơn Khai, gốc Miền Nam Tập kết là đảng viên Cộng sản, với học vị "Chuyên Ngành Lịch Sử Đảng", ông Khai được đề cử giữ chức Viện trưởng và lãnh đạo Đại học Cần Thơ trong suốt 13 năm từ 1976 tới 1989.

Kể từ sau 1975, chính quyền mới với chủ trương một nền giáo dục "hồng hơn chuyên" nên học trình của Đại học Cần Thơ, cũng như toàn hệ thống các Đại học Miền Nam đã có thêm môn học chính trị cưỡng bách "Chủ nghĩa Mác Lê và Tư Tưởng Hồ Chí Minh". Một môn học mà "thầy không muốn dạy, trò không muốn học" nhưng vẫn cứ được duy trì cho đến ngày hôm nay. Ngót nửa thế kỷ, 45 năm sau ngày thống nhất đất nước, trên toàn cõi Việt Nam vẫn chưa có được một nền "tự trị đại học". Quá sớm để nói tới dân chủ hoá đất nước, khi mà các Đại Học như những "Think Tank" vẫn còn bị chi phối lãnh đạo bởi những Chi bộ Đảng Cộng Sản.

 
Hình 9: Những Hiệu trưởng Viện Đại học Cần Thơ từ ngày thành lập tới nay; từ trái, 1. GS Phạm Hoàng Hộ, 1966-1970; 2. GS Nguyễn Duy Xuân, 1970-1975; 3. Ông Phạm Sơn Khai, 1976-1989; 4. GS Trần Phước Đường, 1989-1997; 5. TS Trần Thượng Tuấn, 1997-2002; 6. TS Lê Quang Minh, 2002-2006; 7. GS Nguyễn Anh Tuấn, 2007-2012; 8. TS Hà Thanh Toàn, 2013 đến nay. [nguồn: tư liệu Lê Anh Tuấn]

 
Hình 10: GS Võ Tòng Xuân mời GS Phạm Hoàng Hộ tham gia chuyến khảo sát Đồng Tháp Mười của Đại học Cần Thơ, tháng 3, 1981. Từ trái, TS Trần Thượng Tuấn, TS Nguyễn Thị Thu Cúc (bị che), ThS Đỗ Thanh Ren, GS Võ-Tòng Xuân, GS Trần Phước Đường, một cán bộ Phân Viện Quy Hoạch, GS Phạm Hoàng Hộ, một cán bộ tỉnh Đồng Tháp. [nguồn: tư liệu Võ Tòng Xuân]

Qua một eMail, anh Võ Tòng Xuân kể lại: "Tôi nhớ mãi GS Hộ trong chuyến đi đó, ông rất kỹ về vấn đề ăn uống, đem theo đồ ăn và bình ton đựng nước uống riêng".

GS PHẠM HOÀNG HỘ SINH NHẬT 80

Tháng 7 năm 2009, một số môn sinh đã tổ chức tại Montréal một lễ mừng sinh nhật 80 tuổi của GS Phạm Hoàng Hộ, cùng với một bức tượng được đem tới tặng Thầy với phát biểu đầy xúc động của một môn sinh: "Bức tượng không phải chỉ là hình ảnh của một giáo sư Thực Vật đáng kính mà còn là biểu tượng của người trí thức Miền Nam, đã hiến trọn đời mình cho khoa học, hết sức khiêm tốn so với tài năng của mình và nhất là hết lòng yêu quê hương đất nước."

Cũng rất ý nghĩa, trong buổi họp sinh nhật ấy, bác sĩ Tăng Quang Kiệt đã đọc lời chúc của Giáo sư Phùng Trung Ngân, định cư tại California, người sáng lập ra Bộ Môn Sinh Môi Học / Ecology Department cũng là Khoa trưởng Đại Học Khoa Học Saigon từ 1973-1975, là bạn đồng môn và cùng tuổi với GS Phạm Hoàng Hộ: 

      "Anh Hộ thân mến, Tôi thành thật cám ơn Anh Chị và gia đình đã cho phép tôi gởi bài phát biểu trong buổi lễ long trọng này. Với 80 tuổi đời, Anh đã đóng góp một công trình đồ sộ về Cây Cỏ Việt Nam đồng thời với việc hướng dẫn sinh viên yêu Thực vật và Thiên nhiên Việt Nam. Là người cộng tác gần gũi với Anh trong công tác giáo dục sinh vật cho lớp trẻ VN tôi đã thấy sự tận tụy với nghề nghiệp của Anh và lòng hăng say nghiên cứu của Anh. Kết quả là công trình nghiên cứu vĩ đại về Cây Cỏ Nam Việt Nam và nhứt là công trình bổ sung đầy đủ Cây cỏ toàn bộ VN với các mẫu cây quý báu đang bị bỏ quên trong Viện Thảo Tập ở Paris. Trước năm 1975 Anh và tôi thường dẫn sinh viên đi thực tập ở Lâm Đồng-Đà Lạt, cho các em leo lên đỉnh Lâm Viên, một trong những ngọn núi cao khoảng 2000m ở miền Nam, chúng ta thường ước mong khi hòa bình trở lại sẽ cùng nhau ra miền Bắc khảo sát Cây cỏ Đỉnh Fan Xi Pan cao hơn 3000m ở Hoàng Liên Sơn. Rất tiếc đến ngày hôm nay ước mong của chúng ta chắc không bao giờ thực hiện được. Tuy nhiên Anh đã tự mình tiếp xúc với đỉnh Fan Xi Pan qua các mẫu cây còn lưu trữ tại Viện thảo Tập Paris và cũng từ đó hình thành bộ công trình Cây Cỏ Việt Nam cho Khoa học. Tôi rất may mắn là cộng tác viên thân cận của Anh trong nhiều năm nên đã học được tính chu đáo trong nghiên cứu, sự tận tụy trong giảng dạy và lòng say mê nghiên cứu Thiên nhiên Việt Nam." [3]

 
Hình 11: GS Phạm Hoàng Hộ bên bức tượng bán thân do một điêu khắc gia người Canada là bác sĩ Megerditch Tarakdjian thực hiện nhân dịp sinh nhật thứ 80 do một số môn sinh tổ chức tại Montréal, Canada. (3)

DI CHÚC GIỮ XANH ĐẤT MẸ

Trong Quyển cuối cùng của bộ sách Cây Cỏ Việt Nam [Quyển III, Tập 2] xuất bản tại Montréal 1993, chỉ với hai trang Thay Lời Tựa, GS Phạm Hoàng Hộ đã để lại một Thông điệp; cũng có thể coi như một Di Chúc cho Việt Nam. 

      "Thực-vật-chúng Việt Nam có lẽ gồm vào 12,000 loài. Đó là chỉ kể các cây có mạch, nghĩa là không kể các Rong, Rêu, Nấm.

      Đó là một trong những thực-vật-chúng phong phú nhất thế giới.  Sự phong phú ấy là một diễm phúc cho dân tộc Việt Nam. Vì như tôi đã viết từ 1968, Hiển hoa là ân nhân vô giá của loài người. Hiển hoa cho ta nguồn thức ăn căn bản hàng ngày; Hiển hoa cung cấp cho ta, nhất là người Việt Nam, nơi sinh sống an khang. Biết bao cuộc tình duyên êm đẹp khởi đầu bằng một miếng Trầu, một miếng Cau. Bao nhiêu chúng ta đã không chào đời bằng một mảnh Tre để cắt rún, rời nhao? Lúc đầy nguồn sống lúc nhàn rỗi, chính Hiển hoa cung cấp cho loài Người thức uống ngon lành để say sưa cùng vũ trụ. Lúc ốm đau, cũng chính Cây cỏ giúp cho ta dược thảo hiệu linh.

      Các điều ấy rất đúng hơn với chúng ta, người Việt Nam mà ở rất nhiều nơi còn sống với một nền văn minh dựa trên thực vật.

      Nhưng ân nhân của chúng ta ấy đang bị hiểm hoạ biến mất, vì rừng nước ta đã lùi dưới mức độ an toàn, đất màu mỡ bị xoi mòn mất ở một diện tích lớn, và cảnh sa mạc đang bành trướng mau lẹ. Đã đến lúc theo nhạc của một bài ca, ta có thể hát: "Thần dân nghe chăng? Sơn hà nguy biến. Rừng dày nào còn, Xoi mòn đang tiến... Đâu còn muôn cây làm êm ấm núi sông." [Ghi chú của người viết: bài ca Hội nghị Diên Hồng, nhạc của Lưu Hữu Phước, lời: Huỳnh Văn Tiểng - Mai Văn Bộ - Lưu Hữu Phước].

      Kho tàng thực vật ấy chúng ta có phận sự bảo tồn. Sự bảo tồn và phục hồi thiên nhiên ở nước ta rất là cấp bách. Nó có thể thực hiện, vì mỗi người của chúng ta, dù lớn dù nhỏ đều có thể góp phần vào sự bảo tồn ấy. Bằng những cử chỉ nhỏ nhặt hàng ngày, sự đóng góp của chúng ta quan trọng không kém.

      Không quăng bậy một tia lửa, một tàn thuốc, là ta góp phần tránh nạn cháy rừng. Không đốn bậy một cây, là ta bảo vệ Thiên nhiên của ta. Trồng cây là phận sự của chính quyền hay của các Công ty gầy rừng. Nhưng quanh nhà chúng ta, chúng ta có thể tìm trồng một cây lạ, đặc biệt, hiếm của vùng hay chỉ có ở Việt Nam. Dân ta yêu cây hoa-kiểng, nhưng các nhà nhàn rỗi có thể trồng cây lạ, đặc biệt, cũng là một thú không kém hay đẹp. Các thị xã nên có một công viên hay vườn bách thảo, không lớn thì nhỏ để khoe các cây hay của vùng, không bắt buộc là cây hữu ích hay đẹp. Cây Dó đâu có gì lạ? Nhưng nó là niềm tự hào cho dân tộc vì từ Hồng Bàng, dân ta đã biết lấy trầm từ nó. Cả ngàn loài cây khác chỉ có ở Việt Nam mà thôi! Các cây này có thể trồng như cây che bóng mát dựa lộ. Các làng, các quận, các tỉnh nên tạo phong trào trồng nhiều loài lý thú như vậy. Ta không cần đợi các lâm viện, khu dự trữ để bảo vệ tài nguyên quý báu cho thế hệ sau, mà ta cũng có thể chính mình góp phần vào sự bảo vệ ấy. Trồng các cây lạ, đặc biệt ấy còn là một yếu tố quến [chữ GS Phạm Hoàng Hộ theo cái nghĩa quyến rũ] du khách quan trọng: Lan Thuỷ tiên hường Dendrobium amabile của ta, chỉ có ở một Vườn Bách thảo ngoại quốc trồng được và họ tự hào đến đỗi đã ghi trong "Sách ghi quán quân thế giới 1988."

      Hàng năm ta có thể tuyên dương nhà nào đã trồng cây hay, lạ. Tất nhiên là công với nước nhà mới trông không bằng những ai đã đem Rhizobium vào để tăng năng suất đậu nành, đã trồng được cây Dó tạo trầm, đã du nhập lúa Thần nông hay Nho. Nhưng nếu cả ngàn người, cả triệu người đóng góp cho non nước những "nhỏ-nhen" [chữ GS Phạm Hoàng Hộ theo cái nghĩa nhỏ nhặt], cả triệu cái nhỏ-nhen chắc chắn trở nên một khối đồ sộ.

      Đóng góp lớn, tôi vẫn cho là việc khó. Tôi quý các đóng góp nhỏ, hằng ngày mà ai cũng làm được. Nó hay hơn. Kẻ sĩ, theo tôi không phải chỉ là những kẻ đã làm được những chuyện lớn. Đóng góp những chuyện nhỏ hàng ngày cũng là hành động của một kẻ sĩ, kẻ sĩ vô danh. Kẻ sĩ vô danh cao quý không kém. Với những đóng góp nhỏ ấy, chắc chắn bạn không làm buồn lòng cho Tổ Quốc và không thẹn với Non Sông. [lược dẫn Thay Lời Tựa, bộ sách Cây Cỏ Việt Nam; Quyển III, Tập 2].

      Qua "Di Chúc" ấy của GS Phạm Hoàng Hộ, từ nay môn Sinh học Thực Vật không còn là lý thuyết mà đã đi vào đời sống; Giữ Xanh Đất Mẹ phải là kim chỉ nam cho mọi trình độ giáo dục từ Tiểu học tới Đại học, cả trong công dân giáo dục, là giá trị phổ quát và xuyên suốt cho mọi thể chế chính trị và cả trên tầm vóc toàn cầu là Giữ Xanh Trái Đất này / Keep this Planet Green.

THAY CHO MỘT KẾT TỪ

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã xem bộ sách "Cây Cỏ Việt Nam là công trình của đời tôi" và Giáo sư đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho:

“Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã 
quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước. 
Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, 
mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh. 
Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào.

Bài viết này như lời cầu nguyện gửi tới hương linh các Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Đỗ Bá Khê – những nhà khoa học với nhân cách lớn, những kẻ sĩ khí phách biểu tượng của giới trí thức Miền Nam, đã đi hết chặng đường đau khổ với trọn đời cống hiến trong một giai đoạn vô cùng đen tối của đất nước. Viết trong nỗi xúc động, cùng với nén nhang tưởng nhớ, nghĩ tới câu thơ của thi hào Nguyễn Du: Thác là thể phách còn là tinh anh. Tấm gương của các Thầy vẫn cứ mãi là Ngọn Hải Đăng soi sáng và dẫn đường cho Đồng Bằng Sông Cửu Long đang như một con tàu lạc hướng sắp đắm, sẽ vượt qua mọi sóng gió, vào được bến đỗ an toàn. Và cũng ước mong một ngày nào đó "hoa sẽ nở trên đường quê hương", và rồi ra trên một đất nước có tự do dân chủ, sẽ có một tượng đài của GS Phạm Hoàng Hộ trên đỉnh Fan Xi Pan cao hơn 3000 mét ở Hoàng Liên Sơn để các thế hệ môn sinh tiếp tục được Thầy Hộ hướng dẫn tới đó khảo sát Cây Cỏ và hoàn tất Giấc Mơ Việt Namcủa Thầy.

NGÔ THẾ VINH

Sài Gòn 30 tháng 4, 1975 – ĐBSCL 30 tháng 4, 2020
[Chân Dung VHNT & VH, Việt Ecology Press 2017]

 

Tham Khảo:

  1. GS. Phạm Hoàng Hộ & GS. Nguyễn Duy Xuân đối với việc hình thành và phát triển Viện Đại học Cần Thơ (1966 - 1975); Phạm Đức Thuận; Tập San Xưa và Nay Số 439 Tháng 11 Năm 2013; http://www.cantholib.org.vn/Database/Content/1188.pdf

  2. Vị Tổng Trưởng quyết không rời Quê hương. Trung Hiếu; Báo Thanh Niên 28.04.2015; http://thanhnien.vn/thoi-su/giu-huyet-mach-cho-hon-ngoc-vien-dong-ky-6-vi-tong-truong-quyet-khong-roi-que-huong-556577.html

  3. Anh Chị Thuỷ - Thu Vân thăm Thầy Phạm Hoàng Hộ, http://truongxuabancu.fpb.yuku.com/topic/118/Anh-Ch-ThuThu-Vn-thm-Thy-Phm-Hong-H#.WJNVUxTcdwg

  4. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, một người thầy của tôi. Lê Học Lãnh Vân;Một Thế Giới.VN 02.02.2017; http://motthegioi.vn/giao-duc-c-69/cau-chuyen-giao-duc-c-108/giao-su-pham-hoang-ho-mot-nguoi-thay-cua-toi-55462.html

  5. Đại học cộng đồng được thành lập trước 1975. GS Đỗ Bá Khê; Đặc san Tiền Giang, July 1998. 
    http://daihoc.tripod.com/199807-tiengiang.html

nguồn:  http://vietecology.org/Article/Article/2384

Passport mới độc đáo của Canada

posted Jun 11, 2015, 4:04 PM by Le Phan   [ updated Jun 11, 2015, 4:06 PM ]

Passport mới độc đáo của Canada
 
Nhiều người dân Canada đã rất thích thú khi được cấp hộ chiếu mới của quốc gia này. Ðiều đặc biệt khiến nhiều người chọn Canada là quốc gia có passport "độc nhất" chính là bởi những hình vẽ chìm, chỉ hiện ra trong bóng tối được in trên những trang hộ chiếu.
 
Khi nhìn tấm hộ chiếu trong ánh sáng thông thường, nó cũng giống như passport của những quốc gia khác. Với bóng đêm, những tấm hộ chiếu lại có những hình ảnh đầy màu sắc và nổi bật được những biểu tượng đặc trưng của đất nước Canada như hình lá phong... Không chỉ có tác dụng trang trí, những hình vẽ này còn dùng để phục vụ cho vấn đề kiểm soát an ninh nhằm tránh làm giả hộ chiếu, đồng thời giúp hành khách dễ dàng tìm kiếm hộ chiếu bị thất lạc.





Sau đây Tiến sĩ Trương Công Hiếu có vài lời giãi thích về kỹ thuật này

Muốn thấy được hình độc đáo trên passport anh cần có một UV light; fluorescent black light sẽ tạo hình rõ hơn. UV LED cũng có thể rọi được. Tốt nhất là loại UV light phát ra wavelength trong khoảng 310 nm (nanometer) đến 395 nm.

Trong những kỹ thuật về phản chiếu ánh sáng và đổi màu, tôi có phát minh 3 loại fluorescence trên đồng tiền (hoặc trên giấy hay plastic, có thể in trên passport, hay giấy bạc hoặc tem ,...)

1- Có thể dùng đèn thường rọi lên đồng tiền. Lúc tối, khi tắt đèn thì đồng tiền sẽ chiếu sáng lên. Đây là technology đã đem về cho Canada giải thưởng về kỹ thuật in tiền xu (coin) hiện đại nhất trên thế giới năm 2013 (Most Innovative Coin tại Berlin World Fair) với skeleton của một con dinosaur. Đồng tiền nầy đã bán hết hàng "sold out" từ lâu.

Nếu quý vị vào Website của Royal Canadian Mint " www.mint.ca ", click on SHOP, click on INNOVATION, click on GLOW-IN-THE-DARK. Anh sẽ thấy Royal Canadian Mint đang có bán 3 đồng tiền dùng technology nầy gọi là "Glow-in-the-dark" (Đồng số 140555; 140563; 132685 bán với giá là $104.95; these are silver coins and they are almost sold out, but still available).

2- Nếu dùng đèn (UV black light) rọi lên đồng tiền sẽ thấy những hình ảnh khác hiện lên. Đây là technology dùng trên đồng 25 cent phát hành để xài hàng ngày: ví dụ, Commemorative REMEMBRANCE circulation coin có hình poppy flower màu đỏ được phát hành bởi Nhà Máy Đánh Tiền Hoàng Gia Canada vào năm 2004, 2006; Commemorative Breast Cancer Fight phát hành năm 2005. Đồng tiền nầy đã được giải thưởng hạng nhất tại Paris và Canada cũng được các nhà máy đánh tiền trên thế giới bình chọn và tặng thêm giải thưởng hạng nhất về kỹ thuật hiện đại nầy. 

Đây cũng là technology dùng trên "Passport mới độc đáo của Canada". Mỗi khi Mint phát hành các đồng tiền với kỹ thuật mới nầy thì khi người dân Canada thu nhận vào họ thường giử lại để dành cho nên rất hiếm thấy được loại tiền nầy mang ra sử dụng ở chợ khi đi mua sắm (The Royal Canadian Mint voluntarily issued the coin at only 25 cent face value so that all Canadians can afford to have the coin).
 
Khi Canada phát hành ra đồng tiền với kỹ thuật nầy (fluorescent under the UV light), US Defence Department và báo chí Mỷ cho rằng Canada đã phát minh ra loại đồng tiền "spy" vì đây có thể là một cách cất giử tiền xu trong người khi đi họp rồi thu âm những lời nói của những buổi họp bảo mật!!. ( Bộ Quốc Phòng Mỹ có viết thơ cho Royal Canadian Mint hỏi về lập trình của đồng tiền nầy, và Mint đã đưa qua cho tôi trả lời bức thơ đó).

Nếu quý vị vào Website của Royal Canadian Mint "www.mint.ca" click như trên, anh sẻ thấy Mint đang bán coin số 148514, silver coin có đề tài là Weather Phenomenon (với giá là C$99.95), in màu và khi rọi UV light vào đồng tiền thì sẽ thấy những tia sáng như sấm chớp làm sáng bầu trời trên mặt đồng tiền.
 
3- Technology thứ 3, xuất sắc và duy nhất trên thế giới, chưa có nước nào đưa ra, kể cả Canada, vì nó quá mới (cũng là patent của tôi). Đó là đồng tiền từ từ đổi nhiều mầu, từ mầu nầy sang mầu khác, trước mắt người xem theo từng giây phút thời gian (trong vài giây đến một phút) khi đưa đồng tiền ra ánh sáng mặt trời hoặc dưới ánh đèn UV black light. Khi đóng nắp hộp đựng đồng tiền lại thì màu sắc các tia sáng sẽ tự biến mất. Khi mở hộp ra dưới ánh sáng mặt trời hoặc UV black light thì các ánh mầu sẽ xuất hiện lại. Tôi đã thực hiện thành công được sự chuyển mầu trên đồng tiền và đưa qua cho Marketing của Mint để commercialize. Technology nầy có thể áp dụng trên đồng tiền, hoặc trên giấy bạc ... và sẽ còn độc đáo hơn mầu sắc mà quý vị thấy trong Passport Canada ngày nay .... Tôi sẽ đề nghị Mint đưa technology nầy ra để ăn mừng Canada Celebrate 150 tuổi vào năm 2017.

Đây là vài contribution của Cộng Đồng người Việt đã làm cho đất nước Canada nổi bật về kỹ thuật in tiền và đứng đầu trong kỹ nghệ đánh tiền trên thế giới. 

Xin mời quý vị vào xem Website "www.mint.ca" của Royal Canadian Mint.

Hiếu và Hiếu
 

CHỮ QUỐC NGỮ - Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách (tại Đức)

posted Dec 9, 2013, 1:16 PM by Le Phan

Sự ra đời của chữ quốc ngữ -
Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh
 
CHỮ QUỐC NGỮ

Lisboa - Bồ Đào Nha

Bồ Đào Nha là dân tộc của những người đi biển. Hơn thế nữa, từ xưa, họ là những người chịu bỏ xứ đi tha hường. Lisboa là cảng biển thiên nhiên duy nhất của bán đảo Iberia, từ trước công nguyên đã là một trung tâm chính trị và kinh tế. Lisboa nằm ngay trên cửa biển, hòa nước ngọt của sông Tejo vào nước mặn của Đại Tây Dương, mênh mông một màu nước, khơi gợi lòng viễn du của một dân tộc sẵn sàng lên đường. Thực vậy, kể từ thế kỷ thứ 15, khi tài đi biển của người Bồ Đào Nha lên đến đỉnh cao, quốc gia này bành trướng thành cường quốc số một ở Châu Âu, chiếm lĩnh nhiều thuộc địa ở Brazil, Châu Phi, Ả-rập, Ấn Độ và Trung Quốc. . .

Năm 1511 thuyền nhân Bồ Đào Nha bắt đầu nhắm đến Trung Quốc và Nhật Bản. Họ vòng từ miền nam Ấn Độ, đi đường biển dọc theo miền Trung Việt Nam để lên đảo Macau.

Nhà truyền giáo đến với cộng đồng bằng thuyền ở Việt Nam xưa
 
Hẳn họ đã dừng chân tại Hội An để buôn bán và tiếp tế lương thực, nên năm 1524 họ dựng một tấm bia đá ở cù lao Chàm. Song song, các nhà truyền giáo lần lượt đến Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Trong những năm cuối của thế kỷ thứ 16 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha của hai dòng thánh Francisco và Agustino đến Việt Nam, nhưng cuối cùng bỏ cuộc.
 
Đầu thế kỷ thứ 17 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lại đến Việt Nam một lần nữa và lần này họ thành công. Dòng Tên* chính thức được thành lập ở Đàng Trong năm 1615. Đàng Ngoài năm 1627. Trong giới giáo sĩ dòng Tên người Bồ có một nhân vật xuất sắc, đóng một vai trò lịch sử trong nền văn hóa Việt Nam, đó là Francisco de Pina. Pina sinh  năm 1585, đến Macau năm 1613, đặc biệt rất giỏi tiếng Nhật. Năm 1617 ông đến Đàng Trong truyền giáo và bắt đầu dịch một số văn bản của Ki Tô giáo ra tiếng Nôm, một thứ chữ Hán được bản địa hóa.. Thế nhưng Pina nhận thấy các nhà truyền giáo đồng nghiệp có một khó khăn trầm trọng , đó là họ không sao học được chữ Nôm. Chàng linh mục trẻ tuổi Pina thấy chữ Nôm không thể là phương tiện giao lưu với người bản xứ, ông nghĩ ra một cách đơn giản. Ông thử lắng nghe người Việt phát âm ra sao rồi dùng mẫu tự la tinh để diễn tả âm tiết theo cách mà tiếng Bồ Đào Nha thường làm. Đó là thời điểm khai sinh của chữ quốc ngữ chúng ta ngày nay. Theo lời xác nhận của chính Pina, kể từ năm 1622, ông đã xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự la tinh cho hợp với thanh điệu và lối phát âm của tiếng nói Viet Nam. Pina cũng soạn cả một tập văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới mẻ này. Có lẽ trên thế giới không có nơi nào có một thứ chữ viết được hình thành trong điều kiện như thế.
 
Năm 1624 Francisco de Pina mở trường dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo khác. Trong số người đến học với ông có hai vị quan trọng, một người đã lớn tuổi là António de Fontes (1569 -?), sinh tại Lisboa. Vị kia chính là Alexandre de Rhodes (1591-1660), sinh tại Avignon, Pháp.Hai vị này lãnh hai trọng trách, de Fontes là trụ cột cho giáo xứ truyền giáo ở Đàng Trong, còn de Rhodes sẽ ra Đàng Ngoài vào năm 1626, lúc đó trong thời kỳ của Chúa Trịnh Tráng. Một ngày nọ trong thang12 năm 1625, một chiếc tàu của Bồ Đào Nha bỏ neo ở vịnh Đà Nẵng, Pina lên tàu để mang hàng hóa vào bờ. Khi đến bờ chẳng may thuyền chìm, Pina chết tại đó, ông chỉ sống được 40 tuổi.
 
Sau cái chết bi thảm của Pina, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục xây dựng chữ quốc ngữ mà hai nhân vật có công nhất chính là hai người Bồ, Gaspar de Amaral (1549-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647). Còn Alexandre de Rhodes thì bị chúa Trịnh Tráng trục xuất năm 1630, phải đi Macau. Mười năm sau, năm 1640 de Rhodes trở lại Đàng Trong và đến năm 1645 bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. De Rhodes trở về La Mã và năm 1651 ông cho xuất bản tập tự điển Việt-Bồ Đào Nha-La Tinh (Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum).
 
Trong các đời sau, nhiều người tôn Alexandre de Rhodes là người sáng tạo chữ quốc ngữ nhưng thực ra đó là công của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, mà người đầu tiên phải là Francisco de Pina.
 
Một tình cờ của lịch sử đã đưa các vị giáo sĩ Bồ Đào Nha phát minh ra một loại chữ viết cho cả một dân tộc xa lạ, trong đó họ buộc phải dùng mẫu tự và âm tiết của ngôn ngữ mình để diễn tả một tiếng nói khác, vốn mang đầy thanh âm trầm bổng như tiếng chim. Mục đích ban đầu của chữ quốc ngữ là để cho các nhà truyền giáo nói được tiếng Việt và giao tiếp với cộng đồng tôn giáo của mình bằng chữ viết. Về sau, khi các nhà cai trị người Pháp đến Việt Nam, họ cũng không kham nổi chữ Hán lẫn chữ Nôm. Giải pháp thuận tiện của người Pháp là buộc mọi người Việt Nam phải sử dụng chữ quốc ngữ và có lẽ đó cũng là lý do tại sao vai trò của Alexandre de Rhodes được nêu bật.
 
Từ 1930 chữ quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của người Việt.
 
Chú thích: * Bài viết trích từ chương Những Người Đi Biển, trong tập bút ký "Đường Xa Nắng Mới" của TS Nguyễn Tường Bách, tên bài viết do blog tự đặt.

Sự ra đời của chữ quốc ngữ - Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh

posted Dec 9, 2013, 1:05 PM by Le Phan   [ updated Dec 9, 2013, 1:10 PM ]

CHỮ QUỐC NGỮ
 
Nhân kỷ niệm 85 năm bãi bỏ chữ Nho (1919) và
80 năm (1924) quyết định đưa chữ Quốc ngữ vào dạy
tại cấp tiểu học Việt Nam

                   

                                                                           Alexandre de Rhodes                            Nguyễn Văn Vĩnh
                                                                                (1591 - 1660)                                         (1882 - 1936)
 
Chữ Hán từng được dùng ở Việt Nam trong vòng một ngàn năm mãi đến tận đầu thế kỷ thứ 20.

Alexandre de Rhodes (sinh năm 1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư) đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630). Ông là người có công rất lớn trong việc La-mã hoá tiếng Việt (nhiều tác giả gọi là La-tinh hóa. Thực ra mẫu tự chữ cái tiếng Việt hiện nay là mẫu tự chữ Roman chứ không phải là chữ La-tinh).

Kế tục công trình của những người đi trước là các tu sĩ Jesuit (dòng Tên) người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. trong việc La-mã hóa tiếng Việt, Alexandre de Rhodes đã xuất bản Bài giảng giáo lý Tám ngày đầu tiên bằng tiếng Việt và cuốn từ điển Việt - La - Bồ đầu tiên vào năm 1651 tại Rome.

Hệ thống chữ viết tiếng Việt dùng chữ cái La-mã này được chúng ta ngày nay gọi là chữ quốc ngữ (chữ viết của quốc gia)

Nguyễn Văn Vĩnh sinh năm 1882 tại Hà Nội cái năm thành Hà Nội thất thủ vào tay quân Pháp do đại tá Henri Rivière chỉ huy. Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn. Gia đình Nguyễn Văn Vĩnh nghèo nên không có tiền cho con cái đi học. Lên tám tuổi, cậu Vĩnh đã phải đi làm để kiếm sống. Công việc của cậu lúc đó là làm thằng nhỏ kéo quạt để làm mát cho một lớp đào tạo thông ngôn do người Pháp mở ở đình Yên phụ - Hà Nội. 

Vừa kéo quạt, cậu vừa nghe lỏm bài giảng. Cậu ghi nhớ mọi thứ rất nhanh và còn trả lời được các câu hỏi của thày giáo trong khi các cậu con nhà giàu trong lớp còn đương lúng túng.  Thầy giáo người Pháp thấy vậy bèn nói với ông hiệu trưởng giúp tiền cho cậu vào học chính thức.  Năm 14 tuổi Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu khóa học và trở thành một thông dịch viên xuất sắc.  Sau đó ông được bổ làm trợ lý cho công sứ Pháp tỉnh Bắc Ninh. Năm 1906, lúc ông 24 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh được Pháp gửi sang dự triển lãm tại Marseilles. Tại đây, ông được tiếp cận với kỹ nghệ in ấn và báo chí. Ông còn là người Việt Nam đầu tiên gia nhập hội Nhân quyền Pháp. Trở về Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh từ bỏ nghiệp quan chức và bắt đầu làm báo tự do.

Năm 1907 ông mở nhà in đầu tiên ở Hà Nội và xuất bản tờ Đăng Cổ Tùng Báo - tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ.
Năm 1913 ông xuất bản tờ Đông dương Tạp chí để dạy dân Việt viết văn bằng quốc ngữ.

Ông là người đầu tiên dịch ra chữ quốc ngữ các tác phẩm của các đại văn hào Pháp như Balzac, Victor Hugo, Alexandre Dumas, La Fontaine, Molière, v.v. và cũng là người đầu tiên dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp.

Bản dịch Kiều của ông Vĩnh rất đặc sắc, vì ông không chỉ dịch cả câu mà còn dịch nghĩa từng chữ và kể rõ các tích cổ gắn với nghĩa đó - một điều chỉ có những ai am hiểu sâu sắc văn chương Việt Nam (bằng chữ Nôm),Trung Hoa (bằng chữ Nho), và Pháp mới có thể làm được. Sự cố gắng và sức làm việc phi thường của ông Vĩnh đã góp phần rất quan trọng trong việc truyền bá kiến thức và văn hoá phương Tây trong dân Việt, và đẩy xã hội Việt Nam đi đến chỗ dần dần chấp nhận chữ quốc ngữ.

Năm 1915 vua Duy Tân ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi (Hương - Hội - Đình) ở Bắc Kỳ. Năm 1918 vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi này ở Trung Kỳ và đến năm 1919 bãi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Nho, thay thế bằng hệ thống trường Pháp - Việt. Ngày 18 tháng 9 năm 1924, toàn quyền Đông Dương Merlin ký quyết định đưa chữ Quốc Ngữ vào dạy ở ba năm đầu cấp tiểu học. Như vậy là, sau gần ba thế kỷ kể từ khi cuốn từ điển Việt – La - Bồ của Alexandre de Rhodes ra đời, người Việt Nam mới thật sự đoạn tuyệt với chữ viết của Trung Hoa, chính thức chuyển sang dùng chữ quốc ngữ. Đây quả thực là một cuộc chuyển hóa vô cùng lớn lao, trong đó ông Nguyễn Văn Vĩnh đã vô hình chung đóng vai trò một nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Vĩnh, tuy nhiên, đã không thể kiếm sống bằng nghề báo của mình. Ông là người luôn lên tiếng phản đối chính sách hà khắc của Pháp đối với thuộc địa, là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đã hai lần từ chối huân chương Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp ban tặng, và cũng là người đã cùng với bốn người Pháp viết đơn gửi chính quyền Đông Dương phản đối việc bắt giữ cụ Phan Chu Trinh. Vì thế chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương chẳng ưa gì ông. Tòa báo của ông vỡ nợ. Gia sản của ông bị tịch biên. Ông bỏ đi đào vàng ở Lào và mất ở đó năm 1936 vì sốt rét. Người ta tìm thấy xác ông nằm trong một chiếc thuyền độc  mộc trên một dòng sông ở Sepole. Trong tay ông lúc đó vẫn còn nắm chặt một cây bút và một quyển sổ ghi chép: Ông đang viết dở thiên ký sự bằng tiếng Pháp Một tháng với những người tìm vàng. Khi đoàn tàu chở chiếc quan tài mang thi hài ông Vĩnh về đến ga Hàng Cỏ, hàng ngàn người dân Hà Nội đứng chờ trong một sự yên lặng vô cùng trang nghiêm trước quảng trường nhà ga để đưa tiễn ông

Con người bằng tài năng và sức lao động không biết mệt mỏi của Mình đã góp phần làm cho chữ quốc ngữ trở thành chữ viết của toàn dân Việt. ---Tôi đã vẽ bức tranh Sự ra đời của chữ quốc ngữ- Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh với lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với hai vĩ nhân nói trên của dân tộc Việt Nam –

Alexandre de Rhodes và Nguyễn Văn Vĩnh.------ Lời cảm ơn:
Tác giả bài viết này biết ơn thân sinh của mình – nhà giáo Nguyễn Đình Nam, người đầu tiên kể cho tác giả về cuộc đời và sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh từ khi tác giả còn là học sinh tiểu học, khi sách giáo khoa chính thống còn gọi Alexandre Rhodes là gián điệp còn Nguyễn Văn Vĩnh là bồi bút của Pháp.

Tác giả xin chân thành cảm ơn ông Nguyễn Kỳ - con trai cụ Nguyễn Văn Vĩnh, và ông Nguyên Lân Bình - cháu nội cụ Nguyễn Văn Vĩnh vì những câu chuyện xúc động về cuộc sống và sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh cũng như của gia tộc cụ.

Tác giả xin cảm ơn thày Trí - cháu ngoại cụ Nguyễn Văn Vĩnh , đồng thời từng là thày dạy toán của tác giả khi tác giả là học sinh trung học.

Nguyễn Đình Đăng
Tokyo, 10/11/2004
Sự ra đời của chữ quốc ngữ - Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh

TƯỢNG PHẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI ĐẠI - Biên khảo của Tôn Kàn

posted Nov 20, 2013, 6:35 PM by Le Phan   [ updated Nov 20, 2013, 6:40 PM ]

• TƯỢNG PHẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI ĐẠI •

Phật giáo Tiểu Thừa lan xuống miền Bắc Việt Nam từ Trung Hoa vào khoảng thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên (SCN).  Đến khoảng thế kỷ thứ 5 SCN, Đại Thừa xâm nhập rồi phát triển mạnh mẽ , trở  thành quốc đạo dưới thời nhà Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần.

Tại miền Nam, Phật giáo hệ phái Theravada tràn vào từ Nam Ấn và Tích Lan. Ảnh hưởng Theravada duy trì và phát triển sau khi Việt nam xâm chiếm vương quốc Chàm và Khmer.

Trong chùa, ngoài tượng Phật để thờ ở chính điện  còn có tượng của các Hộ Pháp và La Hán thường thường được bày trong bái đường và hành lang.

Biên khảo của Tôn Kàn
Đầu Xuân 2012
 
HÌNH 1. Tượng Phật đứng Chàm.
Tượng bằng đồng đen , cao 122cm. Đúc vào thế kỷ thứ 5 SCN.

Đây là pho tượng cổ nhất kiếm được ở làng Đông-dương , thị xã Quảng Nam, vốn là kinh đô của vương quốc Chàm thời xưa. Ảnh hưởng của trường phái Amavarati Bắc Ấn thật rõ rệt . Dấu urna trên trán giữa hai mắt cho biết tượng này không xuất phát từ Tích lan vì Tích lankhôngdùng dấu này.  Hồi Việt Nam Cộng Hòa, tượng được bày tại viện Bảo tàng quốc gia ở Saigon.










HÌNH 2.  Phật A-di-đà tọa thiền.
Tượng tạc bằng đá xanh nguyên khối , vào khoảng năm 1066 thời Lý thánh Tông. Hiện để thờ tại chùa Phật Tích tỉnh Bắc Ninh.Tượng cao 165cm.
Đây có lẽ là pho tượng cổ nhất của nghệ thuật điêu khắc Phật giáo Việt Nam.  Đức Phật ngồi thiền trên tòa sen. Kiểu tóc và áo phản ảnh nghệ thuật thời Đường.










 

HÌNH 3 . Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tượng để thờ tại chùa MỘT CỘT là di tích lịch sử danh tiếng nhất Hà Nội và Việt Nam. Chùa  còn có tên là Diên Hựu Tự và xây  dựng năm 1049  thời vua Lý thái Tông. Trong hơn nghìn năm qua , chùa đã được tu bổ nhiều lần.









                 

HÌNH 4 &5 . Thích ca sơ sinh.
Tượng bằng gỗ sơn son thếp vàng .Thời nhà Trần ( thế kỷ thứ 14 ).
Tượng thứ nhất trưng tại viện Bảo tàng  Việt Sử, Hà Nội. Tượng thứ hai thờ ở chùa Bà Đá ( Vĩnh Nghiêm ), Bắc Giang.
Đây là hai pho tượng Phật cổ rất hiếm và rất qúy, ít người biết đến. Tương truyền rằng, khi mới sinh ra, Tất đạt Đa Cồ Đàm đi 7 bước, dưới chân nở ra 7 đóa hoa sen, một tay chỉ xuống đất, một tay chỉ lên trời, miệng nói rằng:” Trên trời dưới đất, ta là tôn qúy nhất.”.
Khi đó có 9 con rồng phun nước tắm cho Phật sơ sinh,do vậy có một tượng  gọi là tòa Củu Long, thường đặt ngay sau hương án chính , bên dưới các bộ Tam Tôn.


 
HÌNH 6 . Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn.
Tượng tạc bằng gỗ , sơn son thếp vàng , vào khoảng thời nhà hậu Lê.Hiện để thờ tại chùa Bút Tháp , tỉnh Bắc Ninh.Tượng cao 370 cm, có ghi niên đại năm tạc và tên người tạc:” Tuế thứ Bính Thân niên, thu nguyệt cốc nhật danh tạo, Nam Đông Giao Thọ nam tiên sinh phụng khắc.” Tượng gồm cả hai dạng của Quan Âm: 11 đầu và ngàn mắt ngàn tay. 














HÌNH7. Tượng Quan Âm, chùa Tây Phương, Hà Nội.
HÌNH 8. Tượng Quan Âm, chùa Dâu ,Bắc Ninh.






HÌNH 9. Quan Âm Tống Tử.                                                HÌNH 10. Quan Âm Thị Kính.
Chùa Tây phưong , Hà Nội.                                                Tượng thờ ở chùa Sùng Nghiêm tỉnh Sơn Tây.
                                                                                                    Một kiệt tác của ngành điêu khắc Phật giáo Việt Nam.


HÌNH 11. Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi voi trắng.                                            HÌNH 12. Văn Thù Bồ tát cưỡi sư tử.
                                                                                                                            Tượng thờ tại chùa Bút Tháp , tỉnh Bắc Ninh.

HÌNH 13.
Các vị LA HÁN , chùa Tây Phương , Hà Nội.
        
HÌNH 14.
Tượng Ông Thiện, chùa KEO , Thái Bình.

HÌNH 15.
 Tượng LA HÁN, chùa NÔM, Hưng Yên


                                        

HÌNH 16 . Phật Tuyết Sơn , thời Trịnh nguyễn , chùa Tây Phương.             HÌNH 17. Phật Tuyết Sơn , thời hậu Lê , chùa Bút Tháp..

    
HÌNH 18. Phật tọa thiền. Chùa Nôm , Hưng Yên.
Tượng làm bằng đất được sơn phết , không bị hư hại sau nhiều trận lụt khủng khiếp. Chùa Nôm có đến 100 bức tượng cổ bằng đất.

HÌNH 19. Phật tọa thiền.
Tạc bằng gỗ mít không sơn. Hiện thờ tại chùa Đậu , Thường Tín, HàNội .

    


HÌNH 20 . Chùa  Thiên Mụ (Linh Mụ )

Danh linh thắng cảnh của Huế thơ mộng ,chùa nằm trên đồi Hà Khê và được khởi công xây cất năm 1601 dưới thờì Chúa Nguyễn Hoàng. Trong chùa có thờ Thập điện Minh Vương.


HÌNH 21. Chùa Từ Đàm .
Đây là trung tâm tinh thần của Phật giáo miền Trung ,và có lẽ của cả miền Nam Việt Nam . Chùa được xây cất  vào thế kỷ thứ 17 SCN , dưới thời Vua Lê Hy Tông đang bị Chúa Nguyễn trấn áp. Chùa tọa trên đồi Long Sơn giữa thành phố Huế.











               

HÌNH 21 & 22Tượng Phật chùa  Từ Đàm.

Tôi không rõ xuất sứ và lịch sử hai pho tượng Phật chụp trong hình. Vậy qúy độc giả nào biết chi tiết thì xin làm ơn chỉ giáo. Xin đa tạ trước.





HÌNH 23 . A-di-đà Tam Tôn.











    
HÌNH 24. Địa Tạng Bồ Tát.                                                                                 HÌNH 25. Chùa VĩnhThạnh,MỹTho. 

Đây là một chùa khá kỳ cựu và rất nổi tiếng ở miền Nam , được xây cất vào đầu thế kỷ thứ 19.  Kiến trúc chịu ảnh hưỏng La Mã trộn với truyền thống Theravada. Trong chùa có thờ rất nhiều tượng bằng gỗ và bằng đồng chịu ảnh hương của Trung Hoa.
Đứng trưóc Phật A-di-đà là tượng Thích Ca sơ sinh. Tượng Địa Tạng  khá độc đáo ngộ nghĩnh , ít khi thấy ở các nơi khác.


HÌNH 26 . Phật nhập Niết Bàn. Chùa Linh sơn , Nha Trang.

 
                                          
HÌNH 27. Phật tọa thiền bằng khối đá ngọc.                                           Tượng Địa Tạng  khá độc đáo ngộ nghĩnh , ít khi thấy ở các nơi khác.
Chùa Tùng Vân,Vĩnh Phúc.                                                                                                            Tượng bằng đồng , nặng 100 tấn.

       
Hình 29&30 . Tượng Phật chùa Kh’leang , Sóc Trăng. 
Đây là ngôi chùa cổ nhất tỉnh Sóc Trăng , xây cất từ năm 1533 . Lối kiến trúc cho ta thấy ảnh hưởng văn hóa Khmer và hệ phái Phật giáo Theravada. Tay Phật bắt Địa Xúc Ấn ( Aksobhya mudra ).

KẾT   LUẬN
Ngắm các tượng Phật cổ Việt Nam , người ta cảm phục tài năng và tinh thần nghệ thuật của các điêu khắc gia Phật giáo. Tuy chịu ảnh hưởng rất nặng nề của Trung Hoa và Ấn độ , những nghệ sĩ này vẫn bảo vệ và phát huy một cái nhìn sâu sắc tinh tế để  trình diễn  trên các pho tượng những đặc tính độc đáo của dân tộc Việt.

Chiêm ngưỡng tượng Thích Ca sơ sinh , Phật Tuyết Sơn , Quan Âm Thiên thủ Thiên Nhãn , và nhất là tượng Quan Âm Thị Kính , mọi người đều phải công nhận rằng đây là tượng Phật Việt Nam , chứ không phải là tượng của  Ấn độ , Trung Hoa ,Triều Tiên hay Nhật Bản. Người Việt Nam đã đóng góp tiếng nói của mình để ca tụng Đức Phật , và đã giúp chúng sinh  cảm thấy gần gũi với Ngài hơn.
Những pho tượng Phật hiện đại có vẻ nhắm vào  phô trương hơn là hướng về nghệ thuật hay đạo lý . Những pho tượng khổng lồ được chế tạo rập theo một khuôn mẫu gò bó thiếu tự nhiên, khiến cho người ta cảm thấy bị áp chế đè nén , không phát huy được trí tưởng tượng hay lòng cảm hóa có thể dẫn dắt  con người  đến Giác ngộ.

Người ta mong rằng trong tương lai , những nghệ sĩ Việt Nam sẽ vươn thoát khỏi cái quan niệm chật hẹp khuê trương khuyếch đại, để theo đuổi một đường lối phù hợp với tinh thần khiêm nhường giản dị và thuyết Vô thường của Phật đạo.

TÔN  KÀN
Đầu Xuân  2012





Sài Gòn Xưa

posted Aug 6, 2013, 6:29 PM by Le Phan   [ updated Aug 6, 2013, 6:36 PM ]

Sài Gòn Xưa – Người và Cảnh: 
Trường xưa nghĩa cũ

buổi sáng Sai Gon

Trường Mạc Đĩnh Chi

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi

Tiểu sử

Tiểu sử

PHI-HUE-NGUYEN-CHANH-TIN

PHI-HUE-NGUYEN-CHANH-TIN-DANG HUU HIEU

1.7-MDCR_2.1-NgayXua_hon_vong_phu.

Ban hop ca Mac Dinh Chi (hon vong phu).

1.7-MDCR_2.1-NgayXua_kttk

Ngay Xua  - Hoat Canh...

1.7-MDCR_2.1-NgayXua_len_duong.JEPG_

Ngay Xua len duong 

1.7-MDCR_2.1-NgayXua_ptp1.JEPG_

Tat nien lop de nhat B1 khoa 1971

MDC-69-Co-Bach-Nhu-Tuyet-Phap-Van

MDC-69- Cô Bạch Như Tuyết - dạy PhápVăn

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6 h3

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6 (h.3)

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6 h4

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6 (h.5)

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6 h5

Khoa 64-65

x-1.7-MDCR_2.1-NgayXua_12b1_1971_3..

Lop de nhat B1 khoa 1971

x-1.7-MDCR_2.1-NgayXua_dung8

Nu hoc sinh khoa-71

x-khoa-68-11b1-hinh-2

Mạc Đỉnh Chi -68-di ban bao xuan

x-mdc-68-baoxuan-

khoa-68-De Tam B1

x-khoa-68-11b1

Trường Collège Chasseloup- Laubat
Lê Qúi Đôn xưa – ngôi trường xưa nhất Sài gòn

trường Laubat  - Lê Qúi Đôn xưa

Trường Collège Chasseloup- Laubat – Lê Qúi Đôn xưa – ngôi trường xưa nhất Sài gòn

LEQUYDON1969-1970

LE QUY DON (NK1969-1970)

Sơ nét về trường Lê Qúi Đôn

Sơ nét về trường Lê Qúi Đôn

Hồ con rùa năm 1972 ( khi còn con rùa )

Hồ con rùa năm 1972 ( khi còn con rùa )

Trường Marie-curie

Trường Marie-curie

Trường Marie-curie

SO-NET-VE-TRUONG-MARIE-CURIE

Sơ nét về trường MARIE-CURIE

Marie-Curie-72-73-2A1

Marie-Curie-72-73-2A1

Marie-Curie-74-75-Lop-cuoi-D1

Marie-Curie-74-75-Lop-cuoi-D1

Marie-curie sân trường


Marie-curie sân trường

Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ.

Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ.

học sinh SG 63

học sinh SG 63

Trường Gia Long

Trường Gia Long-1925

Trường Gia Long-1925

Gia Long 1925

Gia Long 1925

sân trường Gia Long 1931

Sân trường Gia Long 1931

Đội văn nghệ của trường ngày xưa này các bạn!

Đội văn nghệ của trường ngày xưa này các bạn!

sân trường Gia Long 1931

Sân trường Gia Long 1931

Cổng trường năm 1947

Cổng trường năm 1947

Cổng trường năm 1947 h2

Cổng trường năm 1947 h2

Cảnh giờ rước học sinh tại trường. Hiện cổng này nằm trên mặt tiền đường Nguyễn Thị Minh Khai.

Cảnh giờ rước học sinh tại trường. Hiện cổng này nằm trên mặt tiền đường Nguyễn Thị Minh Khai.

Tiểu sử

Tiểu sử

Nữ sinh trường Gia Long năm 1969 với chiếc áo dài thướt tha.

Nữ sinh trường Gia Long năm 1969 với chiếc áo dài thướt tha.

TruongGiaLong-3

Trường Gia Long

GIA-LONG-1975--10B11


Khuôn viên trường Nữ Trung Học Gia Long

Khuôn viên trường Nữ Trung Học Gia Long

xich lô

Xích lô: phương tiện di chuyển của học sinh ở xa trường

Trường Lê Văn Duyệt

Trường Lê Văn Duyệt

Trường Lê Văn Duyệt ( là trường Võ Thị Sáu ngày nay )

Cổng trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt sau năm 1973

Cổng trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt sau năm 1973

LVD Niên Khóa 1975

Các cô giáo trường LVD Niên Khóa 1975

Le Van Duyet 74

Le Van Duyet 74

Le Van Duyet 73

Cô giáo trường Lê Văn Duyệt NK.73

Le Van Duyet 73 h2

Cô giáo trường Lê Văn Duyệt NK.73 h2

Nữ sinh Lê Văn Duyệt

Nữ sinh Lê Văn Duyệt

truong-le-van-duyet-1970

truong-le-van-duyet-1970

http://www.levanduyet.net/

http://www.levanduyet.net/

Le Van Duyet 68

Nữ sinh Lê Văn Duyệt 68

Liên hoan lớp khoá 68, trường Lê Văn Duyệt

Liên hoan lớp khoá 68, trường Lê Văn Duyệt

Le Van Duyet 66

Nữ sinh Lê Văn Duyệt 66

Sách giáo khoa

Sách giáo khoa

Học trò xưa đến trường

Học trò xưa đến trường

Trường Trưng Vương

trường Trưng Vương xưa

Trường Trưng Vương xưa

Trường trung học nữ Trưng Vương


sơ nét tiểu sử

Sơ nét tiểu sử

Nữ sinh Trưng Vương, văn nghệ Xuân 1974

Nữ sinh Trưng Vương, văn nghệ Xuân 1974

Trưng Vương

Trưng Vương

Gốc cây này là nơi chúng ta đã bu quanh chiếc xe đạp củaông bò khô để thưởng thức ôi biêt bao mùi vị thơm ngon ngọt ngào cay chua cùng tụ lại..... trên đĩa gỏi nhỏ.

Gốc cây này là nơi chúng tôi đã bu quanh chiếc xe đạp của ông bò khô để thưởng thức 
ôi biết bao mùi vị thơm ngon ngọt ngào cay chua cùng tụ lại… trên đĩa gỏi nhỏ.

Trung-Vuong-De-Nhi-AP1-1969

Trung-Vuong-De-Nhi-AP1-1969 

Bà Hiệu trưởng Tuyết và các giáo sư cùng quan khách trên bộ Giáo Dục tới dự lễ Hai Bà Trưng tổ chức tại trường Trưng Vương.

Bà Hiệu trưởng Tuyết và các giáo sư cùng quan khách trên bộ Giáo Dục 
tới dự lễ Hai Bà Trưng tổ chức tại trường Trưng Vương.

học lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa h2

HS tham gia sinh hoạt Hướng Đạo

tiểu học VNCH

tiểu học VNCH

Trường Võ Trường Toản

Trường Võ Trường Toản (kế bên trường Trưng Vương)

Trường Võ Trường Toản (kế bên trường Trưng Vương)

Tiểu sử

Tiểu sử

Thẻ căn cước học sinh trường Võ Trường Toản 57-64 (1)

Thẻ căn cước học sinh trường Võ Trường Toản 57-64 (1)

Phù hiệu may áo học sinh trường Võ Trường Toản

Phù hiệu may áo học sinh trường Võ Trường Toản

Võ Trường Toản-hoc sinh

HS Võ Trường Toản

Học sinh hành khúc trường Võ Trường Toản

Học sinh hành khúc trường Võ Trường Toản

học sinh Võ trường Toản


VTT trang bìa

Học sinh Võ trường Toản

Trường LA SAN TABERD
bây giờ là trường Trần Đại Nghĩa

Lasan-Taberd-64-65-Toa-nha-Ban-Tieu-hoc

Lasan-Taberd-64-65-Toa-nha-Ban-Tieu-hoc

Taberd-histoire1874-1974

Taberd-histoire 1874-1974

TABERD-1930

TABERD-1930

Trường LA SAN TABERD 1930

Trường LA SAN TABERD 1930

ky-uc-taberd-sg-1

ky-uc-taberd-sg-1

taberd_02

taberd

Taberd

Bò bía - món khoái khẩu của học sinh SG

Bò bía – món khoái khẩu của học sinh SG

Trường Trung học Pétrus Ký 
Trường chuyên Lê Hồng Phong ngày nay

cổng trường Petrus Ký

Cổng trường Petrus Ký

-petrus-Ky-1930

-petrus-Ky-1930

SO-NET-VE-TRUONG-PETRUS-KY

Sơ nét về trường PETRUS-KY

cổng trường

cổng trường

Petrus Ký học sinh

Petrus Ký học sinh

Hiệu trưởng các đời

Hiệu trưởng các đời

Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký

Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký

Phá lấu trước sân trường

Phá lấu trước sân trường



Ngày Phụ Nữ 03/03/1960 tại Sài Gòn 
vidéo và hình ảnh sưu tầm của chị Linda

YouTube Video


Ngày Phụ Nữ 03/03/1960 tại Sài Gòn

Saigon 1960 - Nữ sinh Trưng Vương diễn hành trong ngày Phụ Nữ 

Xe hoa trường Nữ Trung Học Trưng Vương 

Nữ sinh Gia Long diễn hành trong ngày Phụ Nữ 

Xe hoa trường Nữ Trung Học Gia Long

Ngày lễ Phụ Nữ tại công trường Lam Sơn - Sài Gòn 1960 


Khán đài trong ngày lễ Phụ Nữ. Bà Ngô Đình Nhu mặc áo dài ngồi kế bên 1 phụ nữ mặc váy dài [sarong] là Phu Nhân 
của Cố Tổng Thống Aung San của Miến Điện, bà cũng được gọi là bà quả phụ Maha Thiri Thudamma Daw Khin Kyt.

Bà Ngô Đình Nhu đọc diễn văn khai mạc ngày lễ Phụ Nữ 

1 đại diện phụ nữ đang nêu những thành tích của phụ nữ VNCH và những quyết tâm trong tương lai 

Các phụ nữ đang đặt vòng hoa tại đài tưởng niệm Hai Bà Trưng tại công trường Mê Linh 

Các đại diện phụ nữ đang đứng trước đài tưởng niệm Hai Bà Trưng tại công trường Mê Linh 


Ca đoàn trường Nữ Trung Học Trưng Vương đang hợp ca bài "Trưng Nữ Vương" 

Hai Bà Trưng oai phong lẫm liệt trên 2 con voi 

Các Nữ Tướng và quân sĩ của 2 bà Trưng 







Xe hoa Ký Nhi Viện 

Xe hoa Phát Triển Cộng Đồng

Xe hoa Liên Đoàn Công Chức Quốc Gia
Trong dịp lễ Phụ Nữ, nhiều cuộc thi và giải thưởng được tổ chức cho phụ nữ tham dự. 

Thi Em Bé Đẹp



Một bà mẹ vóc dáng mảnh mai đang hãnh diện khoe em bé mập ú. 



Bà quả phụ của Cố Tổng Thống Aung San của Miến Điện đang trao giải thưởng cho Em Bé Đẹp. Bà quả phụ này chính là thân mẫu của bà Aung San Suu Kyi, là nữ lãnh tụ rất nổi tiếng của Miến Điện hiện nay. Tấm hình bên dưới là bà quả phụ Aung San đang nhận 1 bó hoa hồng từ 1 thiếu nữ VN

http://d.gr-assets.com/books/1347900824l/106320.jpg

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/03/Aung_San_Suu_Kyi_1951.jpg/220px-Aung_San_Suu_Kyi_1951.jpg
A portrait of Khin Kyi and her family in 1948. 



Thi làm bánh




Thi thêu


Thi Cắt May


Thi Văn Chương 



Các phụ nữ đang dự thi viết văn 

Người đoạt Giải Viết Văn: cô Phạm Thị Nguyệt trường Huỳnh Khương Ninh 


Lễ trao giải thưởng các cuộc thi tổ chức nhân Ngày Phụ Nữ VN, tại Tòa Đô Chánh Sài Gòn 03/03/1960

Các nữ sinh Trung Học Đồng Khánh, Huế, trong ngày lễ Hai Bà Trưng 

1-6 of 6