Sưu Tầm- Liên Kết

Điêu khắc gia NGUYỄN THANH THU.

posted Aug 7, 2015, 1:52 PM by Le Phan

Hoài bão của người dựng tượng Tiếc Thương

Nguyễn Thanh Thu, 76/68 Nguyễn Thượng Hiền, 
Phường 1, Quận Phú Nhuận. TP. Sài Gòn.

image

Từ trước Tết Đinh Hợi, tôi đã có dịp gặp anh Nguyễn Thanh Thu, tác giả của tác phẩm điêu khắc nổi danh “Tiếc Thương”, chắc bạn đọc ở Việt Nam chưa ai quên. Anh đã đi định cư tại Hoa Kỳ, nhưng gần đây có nhiều bạn bè và “tin đồn” anh đã trở về Việt Nam. Và cũng không ít dư luận cho rằng nhân dịp Nghĩa Trang Quân Đội được trả lại cho tỉnh Bình Dương, có thể tác giả sẽ có cơ hội dựng lại tác phẩm ở một… nơi nào đó.  

Tôi nhận được e mail và điện thoại của anh Huy Phương từ Mỹ, nhờ đi tìm anh Nguyễn Thanh Thu. Nhưng oái oăm thay cái địa chỉ anh cho lại rất mơ hồ: Phường 5, đường Lê Quang Định và anh còn “vẽ đường cho hươu chạy… lạc” rằng “ở phía cổng sau Bộ Tổng Tham Mưu cũ, cứ hỏi, ai cũng biết”. Tôi đem cái địa chỉ đó đi hỏi lung tung, chẳng ai biết và chẳng ai có thể “đoán” ra nó  nằm ở cái chỗ nào trên con đường đã có quá nhiều thay đổi này. Tôi thuê xe ôm đi tìm một lần, nhưng cái Phường 5 đường Lê Quang Định rối rít tít mù với hàng dãy phố xá, đường hẻm, đường cụt. Anh xe ôm chuyên nghiệp ở vùng này cũng không thể mò ra. Nhưng thì giờ của tôi còn lại ở Sài Gòn rất ít, và bạn bè đã nhờ thì không thể bỏ cuộc. Tôi điện thoại cho Thái Phương rủ thày giáo này cùng đi kiếm, hay nói cho đúng hơn là đi “mò kim đáy biển”, may ra thì gặp. 

Đi tìm “ông nặn tượng”

Đi suốt một buổi sáng, hai anh em chúng tôi muốn “cãi lộn” vì hẻm này hẻm kia, đường này đường khác. Nhưng cuối cùng tôi “vớ” được một bà già trong con hẻm đường Lê Quang Định, bà đang ngồi vo gạo ở phía cổng sau căn nhà mặt tiền. Tôi hỏi bà cụ ở đây lâu chưa? Bà vui tính nói: “Mới gần 60 năm cuộc đời thôi”. - “Thế thì chắc cụ biết, hồi xưa có ông chuyên nặn tượng ở gần đây?”. Bà cụ suy nghĩ một chút rồi nhớ ra: “Ở vùng này, chỉ có ông nặn tượng ở đường bên cạnh đây chứ không phải đường này”. 

Đúng rồi, “nghề nặn tượng” là một nghề hiếm nên có hy vọng đúng là dịa chỉ chỉ cần tìm. Bà cụ chỉ “vòng vo Tam quốc” nhưng cũng không khó tìm lắm. Đi loanh quanh qua con ngõ hẹp, chỉ đủ cho 2 chiếc xe gắn máy tránh nhau, chúng tôi lại ngớ ngẩn trước một ngã ba. Vừa cất tiếng hỏi thăm đường thì một thiếu phụ khá trẻ và… khá đẹp, lên tiếng:
“Các ông cần tìm nhà ông nặn tượng,  cứ đi theo tôi. Nhân thể tôi cũng đi qua đường đó”.  Được lời như cởi tấm lòng, thày giáo Thái Phương hộc tốc phóng xe theo thiếu phụ không quên ca một câu hơi lớn đủ để người đàn bà nghe được: “Người Sài Gòn bây giờ hiếu khách thật anh nhỉ”. Tôi không quên “bốc” thêm: “Cũng tùy người thôi ông ạ, gặp người tử tế thì may. Có những người “gắt như mắm tôm”, đã không chỉ đường còn bị mắng, bị nguýt nữa mới buồn”. Nhưng có một điều anh Huy Phương chỉ đúng, hầu như tên những người nghệ sĩ dù là từ thời xưa, những người dân ở đây, nếu là người ở Sài Gòn lâu năm, nhiều người còn nhớ.

 Đi loanh quanh vài con hẻm, chúng tôi dừng lại trước của một tiệm cà phê rất “hoành tráng” có cái tên cũng khá “ ấn tượng” là “TƯỢNG ĐÁ”. Quán cà phê rộng, trong một khu cứ như công viên, có những cây cổ thụ gốc rễ xù xì, cao ngất ngưởng. Bên cổng là một cái nhà nhỏ cho mấy anh “bảo vệ”. Thấy cái cảnh có vẻ “bế thế”, tôi trở nên ngập ngừng hỏi thăm bác Nguyễn Thanh Thu. 

image

Anh bảo vệ chỉ ngay một anh thanh niên: “con ông Thu đó”. Chúng tôi thở phào, tay bắt mặt mừng với người con trai của anh Thu, như đã… quen nhau từ khuya. Anh thanh niên đưa chúng tôi vào theo con đường nhỏ bên phải quán cà phê. Lúc đó điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đang đổi nghề điêu khắc sang “thợ làm vườn”. Anh đang tưới cho mấy chậu cảnh quý ngoài hiên nhà. Xung quanh anh là một số những tác phẩm lẫn lộn cả cũ và mới nằm rải rác trong khu vườn hoa tĩnh lặng. Phía bên kia mới là những dãy bàn ghế cho quán cà phê đang đông khách, được ngăn chia bằng mấy thân cây si, cây đề cổ thụ xòe những tàn lá che kín nửa vùng sân. 

Nhận ra người quen, anh Thu rời cây kéo tỉa hoa, vui mừng ôm vai bạn. Kiểu “ăn diện” của Nguyễn Thanh Thu bao giờ cũng giản dị đến… quá bình dân. Cái “mũ nồi” từ đời tám kiếp nào vẫn chùm hụp trên đầu, có vẻ cố giấu cái đầu hơi lớn. Nhưng đó là “dấu ấn đặc biệt made in Nguyễn Thanh Thu”, không lẫn đi đâu được. Cứ như, nếu không có cái “mũ nồi đen” và không có vẻ lam lũ thì không phải là Nguyễn Thanh Thu.

Nhà điêu khắc đang làm gì?

 image

Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn nhỏ được tạo hình bằng một gốc cây. Anh Thu bắt đầu tâm sự: “Tôi về Việt Nam hai năm rồi đấy, chứ không như dư luận cho rằng tôi mới về để… làm một cái gì đó”. 

Thái Phương hỏi thẳng thừng:

– Không phải là để dựng lại tượng Tiếc Thương sao?

Nguyễn Thanh Thu cười hà hà, có vẻ khoái chí vì câu hỏi thẳng thắn này. Anh bật người ra phía sau, hất hàm hỏi lại:

– Ai cho làm mà làm? 

Thái Phương gặng tiếp:

– Nhưng anh có ý định đó không?

– Tôi về đây hai năm rồi với một hoài bão khác chứ không phải là dựng lại tượng Tiếc Thương. Người nghệ sĩ chỉ sáng tạo một lần. Lần thứ hai không thể làm như lần thứ nhất. Nhưng nó sống được trong lòng mọi người thì tự nó còn mãi. Tôi tự hào về tác phẩm này. Dựng lại là một điều chẳng hay ho gì. “Nó” sống trong lòng mọi người là đủ.  

Chúng tôi hiểu ý anh, nhưng thật tình sống ở đây lâu, chúng tôi biết, có những điều mà những người như anh Thu hơi ngại, cần phải “giữ mình”. Chúng tôi cũng chẳng khác gì anh. Tôi thông cảm dễ dàng, tuy nhiên cũng cố moi xem anh Thu có gặp trở ngại gì trước những dư luận đó không. Anh lắc đầu:

– Chẳng có gì đáng nói cả. Thật sự là tôi có một hoài bão đã ấp ủ từ lâu chứ chẳng phải là bây giờ mới có. Một bức tượng nói về cuộc sống tươi đẹp của người dân Đồng bằng sông Cửu Long. 

Thái Phương vốn “nhậy cảm” nên mỉm cười hỏi lại:

– Anh không cho rằng làm như thế là… hơi kỳ cục trong lúc này sao? Người khác có thể hiểu lầm anh về đấy… 
Nguyễn Thanh Thu xua tay, trả lời đầy tự tin:

– Dự định sáng tác một tác phẩm lớn đã có từ vài chục năm nay. Ngay khi ở Mỹ, tôi cũng đã từng nói chuyện với anh Huy Phương và một số anh em thân gần về dự định này. Nhưng ở Mỹ tôi không có phương tiện làm việc này. Về đây có không gian rộng, cuộc sống gần gia đình, ổn định hơn, tôi hy vọng nối tiếp được những cảm hứng từ xa xưa, tiếp được cái mạch sống của những người dân Việt trên những mảnh ruộng vườn cây… Như thế có cơ hội khơi lại cảm hứng hơn, tác phẩm sẽ “sống” hơn. 

Anh chỉ tay về phía bức tượng một thôn nữ, ôm bó lúa, đứng trên khoảng không gian bao la:

– Đó là tác phẩm mới nhất của tôi đấy. Về đây tôi mới làm. Tôi đã làm chừng hơn mười bức tượng như thế rồi. Kể cả khi còn ở bên Mỹ và thời gian đầu, khi trở về đây. Nhưng làm rồi phá, phá rồi làm. Cái gì không có hồn, tôi dẹp liền. 

– Có phải là tác phẩm anh ưng ý nhất không?

– Đúng thế, bức tượng này là hình mẫu, trong toàn cảnh bức tượng lớn mà tôi đang ấp ủ. Còn chín cái đầu rồng đang phun nước nữa, tôi sẽ chỉ cho các anh xem sau. Đây là bức tượng nhỏ, cũng như hồi tôi làm tượng Tiếc Thương thì trước hết phải có một bức tượng nhỏ trong cái mô hình của nó. Đến khi có điều kiện thực hiện, nói cho rõ là khi có “ngân quỹ”, cứ theo đó mà dựng tượng lớn. Lúc dựng tượng lớn, khó mà thay đổi được hoặc không thể thay đổi được. Các anh vào đây, tôi chỉ cho xem cái này sẽ rõ hơn.

Anh đứng lên, đưa chúng tôi vào trong căn nhà nhỏ phía sau. Treo trên bức tường khoảng 4 thước vuông là một mô hình được vẽ bằng tranh màu. Trên đó có thể hình dung ra toàn cảnh bức tượng. Anh dừng lại, say sưa giới thiệu:

– Đây là tất cả ước vọng và tâm tư của tôi. Cảnh chín cái đầu rồng từ mặt biển phun lên vựa lúa dưới chân cô thôn nữ. Đó là hình tượng rất Việt Nam, nó là tượng trưng cho người dân Việt của tất cả mọi thời đại, chứ chẳng riêng thời nào. Đó cũng là ước mơ của tất cả người Việt chúng ta. 

image

Và anh nhắc lại:

– Xin nói rõ, là chín cái đầu rồng chứ không phải chín con rồng. Cũng là đặc trưng của nền văn hóa Á châu chúng ta nữa.

Tôi nghĩ, mỗi người nghệ sĩ đều có những “giấc mơ” của riêng mình. Người nghệ sĩ thật sự, thường âm thầm nuôi những hoài bão lớn lao. Còn có thực hiện được hay không lại là chuyện khác. Không phải là những kẻ chỉ hành động nhất thời, mưu cầu một chút danh lợi hoặc tiếng tăm, “ăn bám” trên những tên tuổi của người khác. Cũng không phải là người chỉ đắc chí với một tác phẩm nổi danh rồi ngồi đó… làm “thượng đế”, vuốt râu hoài cho đến bạc phếch. Nguyễn Thanh Thu còn hăng lắm, còn say sưa với những cái mới hơn, lạ hơn. Có thể cái sau không bằng cái trước, đã có không biết bao nhiêu nghệ sĩ danh tiếng, sáng tác những tác phẩm cuối đời dở hơn những tác phẩm đầu đời. Nhưng tâm hồn người nghệ sĩ luôn tràn đầy ước vọng mới là điều cần thiết. Nguyễn Thanh Thu đang có được sức sống mãnh liệt đó. Rất có thể nó là sự “hoang tưởng” như anh Huy Phương đã nhận định. Và ngay chính chúng tôi, cũng thấy được điều này khi anh nói đến số tiền phải bỏ ra thực hiện tác phẩm của anh.

Tiền đâu và ai sẽ tài trợ để thực hiện?

Anh Nguyễn Thanh Thu tính toán: Bức tượng sẽ được mang tên “Cửu Long được mùa”, chiều cao 30m, chiều ngang tương ứng cân bằng với chiều cao. Tuy nhiên, xung quanh sẽ còn được tô điểm thêm những cảnh trí khác như hồ nước hoặc khung cảnh đồng quê, thì chiều ngang chưa thể tính hết được lúc này.

Thực tế hơn, tôi hỏi:

– Có nghĩa là những “đồ trang trí” cho thêm phần “hoành tráng” tráng còn tùy thuộc vào ngân khoản sẽ có là bao nhiêu?

– Đúng thế. Có nhiều, làm nhiều. Cứ nói thẳng ra là “tiền nào của nấy”. 

– Vậy khu đất anh cần cho bức tượng khổng lồ đó là bao nhiêu mét vuông?

Bái toàn đã có sẵn trong đầu nên anh nói ngay:

– Phải có một mẫu (1 ha).

– Còn số tiền dự trù sẽ là bao nhiêu?

– Ít nhất là hai triệu rưởi đô la (USD) trở lên. 

Đây là ngân khoản để dùng vào việc này anh đã nói với tôi và anh Thái Phương lần gặp nhau trước Tết, còn khi nói chuyện qua điện thoại với anh Huy Phương từ Cali gọi về thì số tiền lại lớn hơn nhiều (5 triệu USD). Còn đến khi tôi điện thoại lại cho anh vào ngày 1 tháng 3 vừa qua để xác nhận lại những điều cần nói thì anh “hạ xuống” còn một triệu rưởi USD. Có lẽ trong đầu óc anh còn đang luẩn quẩn với sự tính toán này, chưa dứt khoát chăng? Hay là anh muốn nói “có nhiều làm nhiều, có ít làm ít” thì ngân khoản đó từ 1 triệu 500 ngàn đến 5 triệu USD? 

Con số nghe qua hơi “khủng”- nói theo kiểu chữ nghĩa bây giờ của các cô cậu tuổi “tin” ở Sài Gòn, xin tạm “dịch” là kinh khủng, ghê gớm, vĩ đại… 

So với tầm vóc một tác phẩm điêu khắc để làm biểu tượng hoặc làm đẹp cho một vùng, một tỉnh, một lãnh thổ thì không có gì là nhiều. Người ta còn có thể làm những công trình vĩ đại hơn mà… chẳng để làm gì cả, đôi khi chỉ là có cái làm để “ăn có”, xong rồi mặc cho thời gian tàn phá. Như làm một  cái chợ, một cái trường, một khu dân cư, một lâu đài kỷ niệm vớ vẩn nhưng chẳng ai buồn đến. Chuyện đó xảy ra không ít. Vậy số tiền bỏ ra làm một bức tượng như của Nguyễn Thanh Thu đang mơ ước cũng không phải là nhiều.

image 

Nhưng như Huy Phương đã phân tích, giấc mộng của nhà điêu khắc nổi danh này khó mà thực hiện được. Có thể gọi là “hoang tưởng”. Tôi đồng tình với nhận định này. Nhưng cứ để cho người nghệ sĩ được quyền mơ những giấc mơ của mình.

Vì vậy nên theo ý muốn của anh, tôi thông báo đến độc giả ý định này. Có thể liên lạc với anh qua địa chỉ: 

Nguyễn Thanh Thu, 76/68 Nguyễn Thượng Hiền, Phường 1, Quận Phú Nhuận. TP. Sài Gòn.  Điện thoại: 51.51.320. (Quán café Tượng Đá). 

Vài nét chính về cuộc đời Nguyễn Thanh Thu

Chúng tôi đến bên bức tượng  nhỏ Tiếc Thương, anh còn để bên những bức khác trên kệ. Đây là hình tượng lúc ban đầu của khi anh bắt tay vào sáng tác “Tiếc Thương” và được dựng tại Nghĩa Trang Quân Đội vào ngày 1-11- 1966. Hình dung lại khung cảnh đó, tôi không khỏi bùi ngùi. 

Trở ra sân, chúng tôi đã đứng trước bức tượng người thiếu nữ khỏe mạnh còn đang đứng đợi… những cái đầu rồng phun nước, mà chẳng biết đến bao giờ con rồng mới thức dậy để được hưởng những vòi nước trong lành từ dòng Cửu Long Giang. 

 Hỏi đến chuyện gia đình, anh Thu cho biết: hiện nay anh đang sống cùng với vợ và 7 người con. Đã có 6 người lập gia đình, có công ăn việc làm. Chỉ duy còn cô con gái út gần 30 tuổi chưa lập gia đình là cháu Nguyễn Minh Kỳ Nữ. Theo anh thì cháu rất giỏi sinh ngữ và ước mong có thể kiếm được việc làm hợp với khả năng mình. Quán cà phê Tượng Đá cũng đủ sống. Anh nói gia đình anh thừa hưởng lại của ông bà cha mẹ khu đất này rộng 3.000 m2. 

Trước đây anh là sĩ quan QĐVNCH, cấp bậc sau cùng là Thiếu Tá thuộc ngành quân nhu, phụ trách tổng quát về các công trình ở Sài Gòn và đặc trách về Nghĩa Trang Quân Đội.

Tôi hỏi anh có ý định ở hẳn lại Việt Nam với gia đình anh không?

Anh cười:

– Nếu có một người nào đó yển trợ cho công trình dựng tượng của tôi thì tôi sẽ ở lại thực hiện nó cho đến cuối đời, không đi đâu nữa cả. Nhưng nếu không có người tài trợ, có lẽ tôi sẽ trở lại nơi định cư như những người khác thôi.
Tôi viết bài này chỉ có mục đích thông tin về người nghệ sĩ tài hoa đã làm nên một bức tượng Tiếc Thương để lại trong lòng mọi người và anh có dịp tâm sự với bạn đọc.

Văn Quang  

Văn Quang là một tên tuổi khá nổi của Miền Nam trước 1975. Ông có nhiều độc giả và những tác phẩm của Văn Quang được nhắc đế  là tiểu thuyết Chân Trời Tím, Nguyệt Áo Đỏ, Sau 1975, ông ngưng bặt một thời gian dài. Mới đây ông xuất hiện trở lại với lá thư từ bàn viết "lưu vong" từ thị trấn đất đỏ Bình Phước, có tên là "Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự", chỉ gửi ra hải ngoại. Các bài viết của ông được báo chí và độc giả hải ngoại đón nhận nồng nhiệt.

Những bài viết đăng lại trên trang Ảo Ngôn của gio-o  đã được sự chấp thuận của nhà văn Văn Quang

image

Nguyễn Thanh Thu và Văn Quang

Chuyện bây giờ mới kể: Bức tượng “Thương Tiếc”

posted Aug 7, 2015, 1:36 PM by Le Phan

Nguồn: KIM ANH NA UY
Bức Tượng THƯƠNG TIẾC.
Nguyễn Ngọc Chính

image

Bức tượng “Thương Tiếc”, nặng 10 tấn, cao hơn 6m,
được đặt tại cổng vào Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa

Khi cuộc chiến leo thang khốc liệt, năm 1966 Nghĩa trang Quân đội tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, bắt đầu không còn đủ đất để các tử sĩ VNCH yên nghỉ. Chính phủ nền Đệ nhị Cộng hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải tính đến việc thành lập một nghĩa trang mới và địa điểm được lựa chọn nằm dọc theo phía tay trái của xa lộ Biên Hòa (nay là xa lộ Hà Nội) nếu từ hướng Sài Gòn đi Biên Hòa.

Kiến trúc sư kiêm điêu khắc gia, Đại úy Nguyễn Thanh Thu, được lệnh của Tổng thống Thiệu lên đường đi Phi Luật Tân để nghiên cứu mô hình xây dựng Nghĩa trang Quân đội Hoa Kỳ tại Manila (American Cemetery in Manila), được coi là một nghĩa trang đẹp nhất Á châu.

image

Nghĩa trang Quân đội Hoa Kỳ tại Manila
(Hình tác giả chụp tại thủ đô Manila, năm 2003,

Năm 2003, tôi đã có dịp đến Phi Luật Tân và viếng Nghĩa trang Hoa Kỳ tại thủ đô Manilla [1]. Nghĩa trang có tên American Cemetery, đây là nơi chôn cất thi hài quân nhân Mỹ và đồng minh đã nằm xuống trong cuộc chiến ở Thái Bình Dương vào thời thế chiến thứ hai.

Nghĩa trang mằn trên một khu đất rộng 615,000 mét vuông, trồng cỏ xanh rì vây quanh là những hàng cây rợp bóng mát. 17,206 ngôi mộ chiến sĩ được đánh dấu bằng các thập tự giá và xếp hàng thẳng tắp như một đội quân thầm lặng. Điểm xuyết cho nghĩa trang là một vài tượng đài kỷ niệm ghi những dòng chữ tưởng nhớ công ơn những vị anh hùng “vị quốc vong thân”.

image

Nghĩa trang Quân đội Hoa Kỳ tại Manila
(Hình tác giả chụp tại thủ đô Manila, năm 2003)

Sau chuyến đi tham khảo tại Phi Luật Tân, Đại úy Thu sẽ phải trình đề án lên Tổng thống Thiệu để giao cho công binh xây dựng một nghĩa trang mới mang tên Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa. Ông còn gợi ý phải có một tác phẩm điêu khắc tại cổng vào nghĩa trang để nói lên sự tri ân của mọi người tại hậu phương trước những tử sĩ được chôn cất tại đây.

Đại úy Nguyễn Thanh Thu xin 1 tuần để suy nghĩ về dự án và trước khi ra về anh còn được Tổng thống Thiệu nhắc nhở bằng những lời rất thân tình: “Anh cần chú ý đến ý nghĩa của nghĩa trang phải xoay quanh “cục nhưn” là bức tượng… Tôi đặt nhiều hy vọng vào anh…”.

Tất cả mọi chuyện chỉ bắt đầu một cách giản dị như vậy. Tuy nhiên, đối với nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu đó là thời gian anh trăn trở nhiều nhất với những ý tưởng của một nghệ sĩ sáng tạo cho một công trình mang tầm vóc quốc gia nói lên lòng tri ân của mọi người đối với những chiến sĩ đã bỏ mình ngoài chiến trường.

Trong suốt một tuần lễ, hầu như ngày nào anh cũng có mặt tại nghĩa trang Hạnh Thông Tây để chứng kiến những cảnh tang tóc, đau thương của vợ con tử sĩ. Nhà chứa xác đầy nghẹt, những chiếc hòm chưa chôn còn mịt mù nhang khói tại những khu phải căng lều bạt chờ chôn… trong khi trực thăng vẫn hàng ngày tiếp tục chở xác về nghĩa trang.

Ngày cuối cùng của một tuần tìm ý tưởng là vào một buổi trưa Thứ Sáu trên đường từ Nghĩa trang Hạnh Thông Tây anh Thu ghé vào một quán nước gọi ly đá chanh. Và đây chính là giờ phút “định mệnh” khi anh nhìn thấy một người lính thuộc binh chủng Nhảy dù ngồi trước những chai bia và hai cái ly…

Anh lính ngồi nói chuyện với cái ly thứ hai trước sự ngạc nhiên của chủ quán lẫn khách uống nước. Hình như anh lính là người vừa thăm bạn được chôn cất tại Nghĩa trang Hạnh Thông Tây. Một ly anh cúng bạn và một ly anh uống. Anh ngồi vừa uống vừa nói chuyện với chiếc ly!

Cảm động trước hình ảnh một người lính khổ sở khi phải mất bạn, anh Thu cầm ly nước chanh bước qua bàn lảm quen. Anh lính ngước lên nhìn anh Thu với vẻ khó chịu vì sự riêng tư của mình bị người lạ làm phiền và tiếp tục trở về với ly bia “cúng” bạn.

Anh Thu cũng bị lúng túng vì thái độ “bất hợp tác” của anh lính nhảy dù. Mấy cô bán hàng lại cười khúc khích, có lẽ các cô nghĩ nãy giờ có một người “điên” ngồi uống bia nói chuyện với cái ly và bây giờ lại thêm người “điên” nữa lân la đến làm quen.

Người lính tiếp tục gục đầu ngồi độc thoại, phớt lờ những lời xã giao làm quen của anh Thu. Dường như anh tưởng bị quân cảnh hỏi giấy nên lẳng lặng móc bóp giấy tờ cho anh Thu mà không hề ngước mắt nhìn và tiếp tục uống!

Anh Thu cầm bóp trở về bàn mình và ghi lại tên anh lính: Võ Văn Hai, cấp bậc Hạ sĩ, binh chủng Nhảy dù, cả tên tiểu đoàn lẫn KBC (Địa chỉ Khu Bưu Chính của quân lực VNCH). Khi anh Thu trả lại giấy tờ, Hạ sĩ Võ Văn Hai nhét vào túi với vẻ bất cần, cũng không thèm ngước mặt nhìn lên.

image

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu

Khuya Thứ Sáu anh Thu mới bắt đầu vẽ để sáng Thứ Bảy trình Tổng thống. Từ 8g tối đến 6g sáng anh phác thảo được 7 bản vẽ trong tiếng súng và bom thỉnh thoảng vọng về Sài Gòn. Những ý nghĩ ở một hậu phương yên bình trong khi những người lính ngày cũng như đêm xả thân ngoài chiến trường khiến anh Thu dồn hết tâm trí vào những nét vẽ của anh.

Anh Thu hôm đó chỉ ngủ 2 tiếng thì bị đánh thức bởi tiếng chó sủa, thì ra theo lời của vợ anh: “Có người đến nhà mời anh đi trình dự án!”. Họ đến sớm để mời anh đi ăn sáng trước khi gặp Tổng thống Thiệu. Lần trước đây anh gặp Tổng thống để bàn về dự án tại Bộ Tổng tham mưu nhưng lần trình dự án lại là tại dinh Gia Long.  

Lịch gặp Tổng thống vào lúc 9  giờ sáng nhưng vì Tổng thống còn đang tiếp khách nên anh Thu trong lúc đi lại trên hành lang dinh Gia Long bỗng nảy ra câu hỏi “Tại sao lại không vẽ Võ Văn Hai?”. Nghĩ là làm ngay. Anh tưởng tượng một bố cục dựa trên hình ảnh Hạ sĩ Hai ngồi nhớ bạn tại quán nước.

Anh trở ngay vào phòng Đại tá Cầm, tùy viên của Tướng Thiệu, chụp một cây bút nguyên tử, lấy trong giỏ rác một bao thuốc lá và rút mảnh giấy bọc bao thuốc trở ra hành lang ngồi vẽ lại hình ảnh Hạ sĩ Hai.

Một lần nữa, “định mệnh” lại ra tay: trong 7 bản vẽ mang theo, anh Thu thấy bản cuối cùng, một “tốc họa” trên bao thuốc lá tại dinh Gia Long, là bản anh ưng ý nhất. Đến khi vào gặp Tổng thống, anh trải 7 bản vẽ lên sàn nhà trước bàn làm việc, bản vẽ cuối cùng trên bao thuốc lá anh vẫn còn cầm trên tay.

Tổng thống Thiệu sau khi đi tới, đi lui ngắm 7 bản vẽ, ông nói: “Anh là “cha đẻ” của dự án này nên theo ý anh, bức nào làm anh hài lòng nhất”. Phải nói, anh Thu là người thật thà, chất phác, anh thẳng thắn trình bày:

“Thưa Tổng thống, nếu Tổng thống cho tôi chọn lại thì bản vẽ mới đây tôi vừa nghĩ ra và vẽ vội trên bao thuốc lá lại là bản vẽ tôi ưng ý nhất… nhưng tôi sợ mình quá vô lễ để đưa ra tại đây”. 
       
Tổng thống Thiệu vui vẻ và đồng ý xem “tốc họa” trên bao thuốc lá. Ông cầm bản phác thảo Hạ sĩ Võ Văn Hai về ngồi trên ghế ngắm nghía, một lúc sau ông nói: “Anh Thu à, người nghệ sĩ hay lãng mạn lắm mà chiến sĩ của mình thực tế hơn, họ cần một cái tên cho đề tài, anh cho tôi biết đề tài của bức hình là gì đây?”.

Anh Thu lần lượt đề nghị các tên: (1) Khóc bạn, (2) Tình đồng đội, (3) Nhớ nhung, (4) Thương tiếc và (5) Tiếc thương. Cuối cùng Tổng thống chọn tên “Thương Tiếc” cho bức phác họa Hạ sĩ Võ Văn Hai ngồi nhớ bạn. Tổng thống còn nhắc nhở phải làm sao nói lên được ý nghĩa vừa thương tiếc bạn bè nằm xuống nhưng cũng phải thể hiện tinh thần chiến đấu của người lính VNCH lúc nào cũng vững tay súng.

Bất ngờ, Tổng thống yêu cầu anh vẽ một bản thứ hai lớn hơn, vẽ tại chỗ, ngay ở dinh Gia Long. Thế là với dụng cụ giấy vẽ, bảng đen và các loại màu được cung cấp ngay theo yêu cầu, anh Thu bắt đầu… “ra tay” trước mặt Tổng thống Thiệu và một số sĩ quan thân cận của ông.

Anh Thu có thêm yêu cầu cần một người ngồi làm mẫu… và trong số các sĩ quan hiện diện, chính Đại tá Cầm “xung phong” làm… người mẫu! Thực ra thì hình ảnh Đại tá Cầm mặc quân phục chỉnh tề, “ủi hồ láng cóng”, không thích hợp với hình ảnh người lính thật sự nhưng đó chỉ là một hình ảnh gợi ý để sáng tác cấp tốc.

Anh Thu còn xin thêm thêm 1 khẩu súng trường cho Đại tá Cầm để trên đùi, đó là khẩu Garant M1 đang được quân đội sử dụng trên chiến trường… Anh cũng đề nghị trong lúc anh vẽ, tất cả mọi người miễn đặt câu hỏi, vì nếu như thế anh sẽ mất sự tập trung trong sáng tác và sẽ thất lễ nếu anh không dừng vẽ để trả lời. 

Khó khăn của anh Thu là phải hoàn thành tác phẩm trong một thời gian gấp rút, anh tâm sự: “Lúc bấy giờ, không biết có một điều xui khiến vô hình nào đó mà tôi xuất thần phóng bút vẽ lại Hạ sĩ Hai… Không biết là tôi vẽ hay là ai nữa!”.

Sau khi Tổng thống Thiệu ký tên vào bức “tốc họa”, anh Thu chỉ có 3 tháng để hoàn tất công trình tượng đài trước ngày 1/11/1967, ngày Quốc khánh của VNCH. Vấn đề trước mắt là đi tìm “người mẫu” Võ Văn Hai trong quán nước ngày trước tại Gò Vấp. Anh đã tìm đến đơn vị của Hạ sĩ Hai và gặp vị Thiếu tá phụ trách đơn vị.

Thoạt đầu khi nghe anh Thu trình bày vấn đề, vị Thiếu tá có vẻ băn khoăn, suy tính… nhưng khi thấy tận mắt bức họa có chữ ký của Tổng thống Thiệu, ông lại hãnh diện khi có người lính thuộc đơn vị nhảy dù của mình được chọn làm biểu tượng cho người lính VNCH tại nghĩa trang…

Vị Thiếu tá còn ra lệnh cho tập họp đại đội với súng ống đầy đủ để anh Thu chọn “người mẫu”, vì theo ông, trong đơn vị có nhiều người cao to tới 1,7 hoặc 1,8 mét, còn Hạ sĩ Hai chỉ cao chừng thước 1,6… Chính ông Thiếu Tá cũng chọn được 4 người lính lực lưỡng trong hàng đầu còn anh Thu thì chỉ réo tên Võ Văn Hai ở gần cuối hàng quân.

Anh Thu được giao 5 người lính nhảy dù để làm mẫu cho bức tượng Thương Tiếc trong vòng 3 tháng. Anh cũng nói riêng với các “người mẫu”, sự thật anh chỉ cần Hạ sĩ Hai, nhưng tất cả đều được nghỉ phép 3 tháng tại Sài Gòn với điều kiện chỉ được mặc quần áo dân sự để không bị quân cảnh làm khó dễ.

image

Anh Thu bên bản sao bức tượng “Thương Tiếc”

Chính hình ảnh Võ Văn Hai ngồi tiếc thương bạn trong quán nước đã ám ảnh anh Thu để sáng tạo ra bức tượng “Thuơng Tiếc” ngồi trước cửa Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa. Ngày ngày, anh Hai trong bộ quần áo dân sự đạp xe lên nhà anh Thu, tại đây anh thay bộ quân phục, với ba lô, súng đạn đầy đủ để ngồi làm mẫu.

Một hôm, khi bức tượng gần hoàn chỉnh chỉ còn thiếu chi tiết khuôn mặt, anh Thu đã cố tình để cho người lính ngồi một mình trong phòng, còn anh kín đáo quan sát qua bông gió trên tường. Đây là dụng ý của nhà điêu khắc muốn để anh ngồi một mình nhớ đến người bạn đã qua đời.

Anh Thu có thể thấy từng đường nét diễn biến trên khuôn mặt lúc anh lính ngồi buồn một mình và nhà điêu khắc đã phác họa lại trên giấy khuôn mặt anh. Phần mình, Hạ sĩ Võ Văn Hai lại sợ đã làm chuyện gì khiến Đại úy Nguyễn Thanh Thu phiền lòng nên cho anh về sớm mà không biết ông đã bí mật quan sát!

image

Khuôn mặt người lính “Thương Tiếc” bạn được tái hiện qua bức tượng trong cuộc phỏng vấn

Khoảng 3 giờ sáng anh Thu thức dậy để bắt đầu giai đoạn hoàn chỉnh cuối cùng của bức tượng: nét mặt của người lính. Anh dùng đèn cầy để lấy ánh sáng chiếu vào nhiều góc cạnh, qua đó anh có thể sửa lại nét mặt người lính theo những gì anh phác họa.

Loại ánh sáng nhân tạo qua ánh đèn cầy có tác dụng điều chỉnh các góc cạnh của tác phẩm theo hướng người nghệ sĩ di chuyển từ nhiều phía. Anh Thu hoàn toàn bị cuốn hút vào những cảm xúc trên khuôn mặt người lính. Đó là những giây phút chỉ mình anh và nhân vật của bức tượng trong ánh sáng mờ ảo của cây đèn cầy.   

Sau một giấc ngủ ngắn, anh tỉnh dậy sáng hôm sau để quan sát và so sánh công trình của mình đêm qua dưới ánh đèn cầy với ánh sáng ban ngày. Anh mừng vì khuôn mặt của người lính giữa ánh sáng tự nhiên ban ngày và ánh sáng nhân tạo từ đèn cầy vẫn hiện lên một nét buồn ray rứt.

Như vậy là điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu có thể hài lòng với công trình nghệ thuật kéo dài 3 tháng của mình. Và chúng ta được chứng kiến pho tượng “Thương Tiếc” ngồi trước cổng vào Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa từ năm 1967 cho đến sau ngày 30/4/1975.


image

Bức tượng “Thương Tiếc” được đắp lại cho cuộc phỏng vấn

Chuyện bây giờ mới kể về bức tượng “Thương Tiếc” được viết lại theo nội dung cuộc phỏng vấn của Lê Xuân Trường với nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu qua một video clip dài 36,57 phút vừa xuất hiện trên Youtube, bạn đọc có thể theo dõi qua địa chỉ:


image

Cuộc phỏng vấn của Nguyễn Xuân Trường với điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu

Trong clip này, ở phần cuối dài hơn 5 phút, có đề cập đến thời gian đi ​"​ học tập cải tạo ​"​ của Đại úy Nguyễn Thanh Thu. Anh tâm sự cuộc đời của mình dính liền với tác phẩm Thương Tiếc, từ “danh vọng” đến “thê thảm”. Tại trại cải tạo trong thời gian bị “biệt giam” 22 tháng trong “thùng conex” [2] với lời buộc tội: “Tướng lãnh, sĩ quan xong giặc rồi là hết, còn anh vẫn lưu lại tư tưởng phản động qua tác phẩm….”.

Cán bộ trong trại chắc cũng chưa từng thấy bức tượng “Thương Tiếc” mà chỉ nghe đồn qua người Sài Gòn vì bức tượng đã bị giật sập và nấu thành kim loại sau năm 1975. Khi ở trong trại được khoảng 8 tháng, có lần “quản giáo” trong trại đề nghị anh Thu khai chỉ đóng vai phụ giúp trong việc tạc tượng còn tác giả đã ra nước ngoài!

Anh Thu đã trả lời một cách khẳng khái rằng anh đã “làm” thì anh “chịu”, tàu chìm thì anh chìm theo, máy bay rớt thì anh rớt theo, tượng chết thì anh chết theo… chứ không thể nào khác được. Anh Thu đã phải trả giá về sự “ngoan cố” của mình, nhưng một “phép lạ” đã xảy ra trên đường ra pháp trường sử bắn…

image

Nguyễn Thanh Thu diễn tả lại cảnh vì sao anh bị… điếc

Người xem video clip này dễ dàng nhận thấy giữa người phỏng vấn Lê Xuân Trường và người được phỏng vấn, anh Nguyễn Thanh Thu, đôi lúc không có sự “ăn ý” trong đối thoại. Chỉ ở đoạn cuối mới có câu trả lời tại sao anh Thu đã bị “điếc” trong thời gian đi cải tạo khiến cho những đối thoại trong cuộc phỏng vấn không được “trơn tru” như bình thường.

Nguyên do tại sao xin bạn đọc theo dõi phần cuối câu chuyện bây giờ mới kể trên video clip đã dẫn.

image

Bức tượng Thương Tiếc sau 30/4/1975

Passport mới độc đáo của Canada

posted Jun 11, 2015, 4:04 PM by Le Phan   [ updated Jun 11, 2015, 4:06 PM ]

Passport mới độc đáo của Canada
 
Nhiều người dân Canada đã rất thích thú khi được cấp hộ chiếu mới của quốc gia này. Ðiều đặc biệt khiến nhiều người chọn Canada là quốc gia có passport "độc nhất" chính là bởi những hình vẽ chìm, chỉ hiện ra trong bóng tối được in trên những trang hộ chiếu.
 
Khi nhìn tấm hộ chiếu trong ánh sáng thông thường, nó cũng giống như passport của những quốc gia khác. Với bóng đêm, những tấm hộ chiếu lại có những hình ảnh đầy màu sắc và nổi bật được những biểu tượng đặc trưng của đất nước Canada như hình lá phong... Không chỉ có tác dụng trang trí, những hình vẽ này còn dùng để phục vụ cho vấn đề kiểm soát an ninh nhằm tránh làm giả hộ chiếu, đồng thời giúp hành khách dễ dàng tìm kiếm hộ chiếu bị thất lạc.





Sau đây Tiến sĩ Trương Công Hiếu có vài lời giãi thích về kỹ thuật này

Muốn thấy được hình độc đáo trên passport anh cần có một UV light; fluorescent black light sẽ tạo hình rõ hơn. UV LED cũng có thể rọi được. Tốt nhất là loại UV light phát ra wavelength trong khoảng 310 nm (nanometer) đến 395 nm.

Trong những kỹ thuật về phản chiếu ánh sáng và đổi màu, tôi có phát minh 3 loại fluorescence trên đồng tiền (hoặc trên giấy hay plastic, có thể in trên passport, hay giấy bạc hoặc tem ,...)

1- Có thể dùng đèn thường rọi lên đồng tiền. Lúc tối, khi tắt đèn thì đồng tiền sẽ chiếu sáng lên. Đây là technology đã đem về cho Canada giải thưởng về kỹ thuật in tiền xu (coin) hiện đại nhất trên thế giới năm 2013 (Most Innovative Coin tại Berlin World Fair) với skeleton của một con dinosaur. Đồng tiền nầy đã bán hết hàng "sold out" từ lâu.

Nếu quý vị vào Website của Royal Canadian Mint " www.mint.ca ", click on SHOP, click on INNOVATION, click on GLOW-IN-THE-DARK. Anh sẽ thấy Royal Canadian Mint đang có bán 3 đồng tiền dùng technology nầy gọi là "Glow-in-the-dark" (Đồng số 140555; 140563; 132685 bán với giá là $104.95; these are silver coins and they are almost sold out, but still available).

2- Nếu dùng đèn (UV black light) rọi lên đồng tiền sẽ thấy những hình ảnh khác hiện lên. Đây là technology dùng trên đồng 25 cent phát hành để xài hàng ngày: ví dụ, Commemorative REMEMBRANCE circulation coin có hình poppy flower màu đỏ được phát hành bởi Nhà Máy Đánh Tiền Hoàng Gia Canada vào năm 2004, 2006; Commemorative Breast Cancer Fight phát hành năm 2005. Đồng tiền nầy đã được giải thưởng hạng nhất tại Paris và Canada cũng được các nhà máy đánh tiền trên thế giới bình chọn và tặng thêm giải thưởng hạng nhất về kỹ thuật hiện đại nầy. 

Đây cũng là technology dùng trên "Passport mới độc đáo của Canada". Mỗi khi Mint phát hành các đồng tiền với kỹ thuật mới nầy thì khi người dân Canada thu nhận vào họ thường giử lại để dành cho nên rất hiếm thấy được loại tiền nầy mang ra sử dụng ở chợ khi đi mua sắm (The Royal Canadian Mint voluntarily issued the coin at only 25 cent face value so that all Canadians can afford to have the coin).
 
Khi Canada phát hành ra đồng tiền với kỹ thuật nầy (fluorescent under the UV light), US Defence Department và báo chí Mỷ cho rằng Canada đã phát minh ra loại đồng tiền "spy" vì đây có thể là một cách cất giử tiền xu trong người khi đi họp rồi thu âm những lời nói của những buổi họp bảo mật!!. ( Bộ Quốc Phòng Mỹ có viết thơ cho Royal Canadian Mint hỏi về lập trình của đồng tiền nầy, và Mint đã đưa qua cho tôi trả lời bức thơ đó).

Nếu quý vị vào Website của Royal Canadian Mint "www.mint.ca" click như trên, anh sẻ thấy Mint đang bán coin số 148514, silver coin có đề tài là Weather Phenomenon (với giá là C$99.95), in màu và khi rọi UV light vào đồng tiền thì sẽ thấy những tia sáng như sấm chớp làm sáng bầu trời trên mặt đồng tiền.
 
3- Technology thứ 3, xuất sắc và duy nhất trên thế giới, chưa có nước nào đưa ra, kể cả Canada, vì nó quá mới (cũng là patent của tôi). Đó là đồng tiền từ từ đổi nhiều mầu, từ mầu nầy sang mầu khác, trước mắt người xem theo từng giây phút thời gian (trong vài giây đến một phút) khi đưa đồng tiền ra ánh sáng mặt trời hoặc dưới ánh đèn UV black light. Khi đóng nắp hộp đựng đồng tiền lại thì màu sắc các tia sáng sẽ tự biến mất. Khi mở hộp ra dưới ánh sáng mặt trời hoặc UV black light thì các ánh mầu sẽ xuất hiện lại. Tôi đã thực hiện thành công được sự chuyển mầu trên đồng tiền và đưa qua cho Marketing của Mint để commercialize. Technology nầy có thể áp dụng trên đồng tiền, hoặc trên giấy bạc ... và sẽ còn độc đáo hơn mầu sắc mà quý vị thấy trong Passport Canada ngày nay .... Tôi sẽ đề nghị Mint đưa technology nầy ra để ăn mừng Canada Celebrate 150 tuổi vào năm 2017.

Đây là vài contribution của Cộng Đồng người Việt đã làm cho đất nước Canada nổi bật về kỹ thuật in tiền và đứng đầu trong kỹ nghệ đánh tiền trên thế giới. 

Xin mời quý vị vào xem Website "www.mint.ca" của Royal Canadian Mint.

Hiếu và Hiếu
 

CHỮ QUỐC NGỮ - Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách (tại Đức)

posted Dec 9, 2013, 1:16 PM by Le Phan

Sự ra đời của chữ quốc ngữ -
Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh
 
CHỮ QUỐC NGỮ

Lisboa - Bồ Đào Nha

Bồ Đào Nha là dân tộc của những người đi biển. Hơn thế nữa, từ xưa, họ là những người chịu bỏ xứ đi tha hường. Lisboa là cảng biển thiên nhiên duy nhất của bán đảo Iberia, từ trước công nguyên đã là một trung tâm chính trị và kinh tế. Lisboa nằm ngay trên cửa biển, hòa nước ngọt của sông Tejo vào nước mặn của Đại Tây Dương, mênh mông một màu nước, khơi gợi lòng viễn du của một dân tộc sẵn sàng lên đường. Thực vậy, kể từ thế kỷ thứ 15, khi tài đi biển của người Bồ Đào Nha lên đến đỉnh cao, quốc gia này bành trướng thành cường quốc số một ở Châu Âu, chiếm lĩnh nhiều thuộc địa ở Brazil, Châu Phi, Ả-rập, Ấn Độ và Trung Quốc. . .

Năm 1511 thuyền nhân Bồ Đào Nha bắt đầu nhắm đến Trung Quốc và Nhật Bản. Họ vòng từ miền nam Ấn Độ, đi đường biển dọc theo miền Trung Việt Nam để lên đảo Macau.

Nhà truyền giáo đến với cộng đồng bằng thuyền ở Việt Nam xưa
 
Hẳn họ đã dừng chân tại Hội An để buôn bán và tiếp tế lương thực, nên năm 1524 họ dựng một tấm bia đá ở cù lao Chàm. Song song, các nhà truyền giáo lần lượt đến Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Trong những năm cuối của thế kỷ thứ 16 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha của hai dòng thánh Francisco và Agustino đến Việt Nam, nhưng cuối cùng bỏ cuộc.
 
Đầu thế kỷ thứ 17 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lại đến Việt Nam một lần nữa và lần này họ thành công. Dòng Tên* chính thức được thành lập ở Đàng Trong năm 1615. Đàng Ngoài năm 1627. Trong giới giáo sĩ dòng Tên người Bồ có một nhân vật xuất sắc, đóng một vai trò lịch sử trong nền văn hóa Việt Nam, đó là Francisco de Pina. Pina sinh  năm 1585, đến Macau năm 1613, đặc biệt rất giỏi tiếng Nhật. Năm 1617 ông đến Đàng Trong truyền giáo và bắt đầu dịch một số văn bản của Ki Tô giáo ra tiếng Nôm, một thứ chữ Hán được bản địa hóa.. Thế nhưng Pina nhận thấy các nhà truyền giáo đồng nghiệp có một khó khăn trầm trọng , đó là họ không sao học được chữ Nôm. Chàng linh mục trẻ tuổi Pina thấy chữ Nôm không thể là phương tiện giao lưu với người bản xứ, ông nghĩ ra một cách đơn giản. Ông thử lắng nghe người Việt phát âm ra sao rồi dùng mẫu tự la tinh để diễn tả âm tiết theo cách mà tiếng Bồ Đào Nha thường làm. Đó là thời điểm khai sinh của chữ quốc ngữ chúng ta ngày nay. Theo lời xác nhận của chính Pina, kể từ năm 1622, ông đã xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự la tinh cho hợp với thanh điệu và lối phát âm của tiếng nói Viet Nam. Pina cũng soạn cả một tập văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới mẻ này. Có lẽ trên thế giới không có nơi nào có một thứ chữ viết được hình thành trong điều kiện như thế.
 
Năm 1624 Francisco de Pina mở trường dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo khác. Trong số người đến học với ông có hai vị quan trọng, một người đã lớn tuổi là António de Fontes (1569 -?), sinh tại Lisboa. Vị kia chính là Alexandre de Rhodes (1591-1660), sinh tại Avignon, Pháp.Hai vị này lãnh hai trọng trách, de Fontes là trụ cột cho giáo xứ truyền giáo ở Đàng Trong, còn de Rhodes sẽ ra Đàng Ngoài vào năm 1626, lúc đó trong thời kỳ của Chúa Trịnh Tráng. Một ngày nọ trong thang12 năm 1625, một chiếc tàu của Bồ Đào Nha bỏ neo ở vịnh Đà Nẵng, Pina lên tàu để mang hàng hóa vào bờ. Khi đến bờ chẳng may thuyền chìm, Pina chết tại đó, ông chỉ sống được 40 tuổi.
 
Sau cái chết bi thảm của Pina, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục xây dựng chữ quốc ngữ mà hai nhân vật có công nhất chính là hai người Bồ, Gaspar de Amaral (1549-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647). Còn Alexandre de Rhodes thì bị chúa Trịnh Tráng trục xuất năm 1630, phải đi Macau. Mười năm sau, năm 1640 de Rhodes trở lại Đàng Trong và đến năm 1645 bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. De Rhodes trở về La Mã và năm 1651 ông cho xuất bản tập tự điển Việt-Bồ Đào Nha-La Tinh (Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum).
 
Trong các đời sau, nhiều người tôn Alexandre de Rhodes là người sáng tạo chữ quốc ngữ nhưng thực ra đó là công của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, mà người đầu tiên phải là Francisco de Pina.
 
Một tình cờ của lịch sử đã đưa các vị giáo sĩ Bồ Đào Nha phát minh ra một loại chữ viết cho cả một dân tộc xa lạ, trong đó họ buộc phải dùng mẫu tự và âm tiết của ngôn ngữ mình để diễn tả một tiếng nói khác, vốn mang đầy thanh âm trầm bổng như tiếng chim. Mục đích ban đầu của chữ quốc ngữ là để cho các nhà truyền giáo nói được tiếng Việt và giao tiếp với cộng đồng tôn giáo của mình bằng chữ viết. Về sau, khi các nhà cai trị người Pháp đến Việt Nam, họ cũng không kham nổi chữ Hán lẫn chữ Nôm. Giải pháp thuận tiện của người Pháp là buộc mọi người Việt Nam phải sử dụng chữ quốc ngữ và có lẽ đó cũng là lý do tại sao vai trò của Alexandre de Rhodes được nêu bật.
 
Từ 1930 chữ quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của người Việt.
 
Chú thích: * Bài viết trích từ chương Những Người Đi Biển, trong tập bút ký "Đường Xa Nắng Mới" của TS Nguyễn Tường Bách, tên bài viết do blog tự đặt.

Sự ra đời của chữ quốc ngữ - Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh

posted Dec 9, 2013, 1:05 PM by Le Phan   [ updated Dec 9, 2013, 1:10 PM ]

CHỮ QUỐC NGỮ
 
Nhân kỷ niệm 85 năm bãi bỏ chữ Nho (1919) và
80 năm (1924) quyết định đưa chữ Quốc ngữ vào dạy
tại cấp tiểu học Việt Nam

                   

                                                                           Alexandre de Rhodes                            Nguyễn Văn Vĩnh
                                                                                (1591 - 1660)                                         (1882 - 1936)
 
Chữ Hán từng được dùng ở Việt Nam trong vòng một ngàn năm mãi đến tận đầu thế kỷ thứ 20.

Alexandre de Rhodes (sinh năm 1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư) đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630). Ông là người có công rất lớn trong việc La-mã hoá tiếng Việt (nhiều tác giả gọi là La-tinh hóa. Thực ra mẫu tự chữ cái tiếng Việt hiện nay là mẫu tự chữ Roman chứ không phải là chữ La-tinh).

Kế tục công trình của những người đi trước là các tu sĩ Jesuit (dòng Tên) người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. trong việc La-mã hóa tiếng Việt, Alexandre de Rhodes đã xuất bản Bài giảng giáo lý Tám ngày đầu tiên bằng tiếng Việt và cuốn từ điển Việt - La - Bồ đầu tiên vào năm 1651 tại Rome.

Hệ thống chữ viết tiếng Việt dùng chữ cái La-mã này được chúng ta ngày nay gọi là chữ quốc ngữ (chữ viết của quốc gia)

Nguyễn Văn Vĩnh sinh năm 1882 tại Hà Nội cái năm thành Hà Nội thất thủ vào tay quân Pháp do đại tá Henri Rivière chỉ huy. Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn. Gia đình Nguyễn Văn Vĩnh nghèo nên không có tiền cho con cái đi học. Lên tám tuổi, cậu Vĩnh đã phải đi làm để kiếm sống. Công việc của cậu lúc đó là làm thằng nhỏ kéo quạt để làm mát cho một lớp đào tạo thông ngôn do người Pháp mở ở đình Yên phụ - Hà Nội. 

Vừa kéo quạt, cậu vừa nghe lỏm bài giảng. Cậu ghi nhớ mọi thứ rất nhanh và còn trả lời được các câu hỏi của thày giáo trong khi các cậu con nhà giàu trong lớp còn đương lúng túng.  Thầy giáo người Pháp thấy vậy bèn nói với ông hiệu trưởng giúp tiền cho cậu vào học chính thức.  Năm 14 tuổi Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu khóa học và trở thành một thông dịch viên xuất sắc.  Sau đó ông được bổ làm trợ lý cho công sứ Pháp tỉnh Bắc Ninh. Năm 1906, lúc ông 24 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh được Pháp gửi sang dự triển lãm tại Marseilles. Tại đây, ông được tiếp cận với kỹ nghệ in ấn và báo chí. Ông còn là người Việt Nam đầu tiên gia nhập hội Nhân quyền Pháp. Trở về Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh từ bỏ nghiệp quan chức và bắt đầu làm báo tự do.

Năm 1907 ông mở nhà in đầu tiên ở Hà Nội và xuất bản tờ Đăng Cổ Tùng Báo - tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ.
Năm 1913 ông xuất bản tờ Đông dương Tạp chí để dạy dân Việt viết văn bằng quốc ngữ.

Ông là người đầu tiên dịch ra chữ quốc ngữ các tác phẩm của các đại văn hào Pháp như Balzac, Victor Hugo, Alexandre Dumas, La Fontaine, Molière, v.v. và cũng là người đầu tiên dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp.

Bản dịch Kiều của ông Vĩnh rất đặc sắc, vì ông không chỉ dịch cả câu mà còn dịch nghĩa từng chữ và kể rõ các tích cổ gắn với nghĩa đó - một điều chỉ có những ai am hiểu sâu sắc văn chương Việt Nam (bằng chữ Nôm),Trung Hoa (bằng chữ Nho), và Pháp mới có thể làm được. Sự cố gắng và sức làm việc phi thường của ông Vĩnh đã góp phần rất quan trọng trong việc truyền bá kiến thức và văn hoá phương Tây trong dân Việt, và đẩy xã hội Việt Nam đi đến chỗ dần dần chấp nhận chữ quốc ngữ.

Năm 1915 vua Duy Tân ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi (Hương - Hội - Đình) ở Bắc Kỳ. Năm 1918 vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi này ở Trung Kỳ và đến năm 1919 bãi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Nho, thay thế bằng hệ thống trường Pháp - Việt. Ngày 18 tháng 9 năm 1924, toàn quyền Đông Dương Merlin ký quyết định đưa chữ Quốc Ngữ vào dạy ở ba năm đầu cấp tiểu học. Như vậy là, sau gần ba thế kỷ kể từ khi cuốn từ điển Việt – La - Bồ của Alexandre de Rhodes ra đời, người Việt Nam mới thật sự đoạn tuyệt với chữ viết của Trung Hoa, chính thức chuyển sang dùng chữ quốc ngữ. Đây quả thực là một cuộc chuyển hóa vô cùng lớn lao, trong đó ông Nguyễn Văn Vĩnh đã vô hình chung đóng vai trò một nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Vĩnh, tuy nhiên, đã không thể kiếm sống bằng nghề báo của mình. Ông là người luôn lên tiếng phản đối chính sách hà khắc của Pháp đối với thuộc địa, là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đã hai lần từ chối huân chương Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp ban tặng, và cũng là người đã cùng với bốn người Pháp viết đơn gửi chính quyền Đông Dương phản đối việc bắt giữ cụ Phan Chu Trinh. Vì thế chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương chẳng ưa gì ông. Tòa báo của ông vỡ nợ. Gia sản của ông bị tịch biên. Ông bỏ đi đào vàng ở Lào và mất ở đó năm 1936 vì sốt rét. Người ta tìm thấy xác ông nằm trong một chiếc thuyền độc  mộc trên một dòng sông ở Sepole. Trong tay ông lúc đó vẫn còn nắm chặt một cây bút và một quyển sổ ghi chép: Ông đang viết dở thiên ký sự bằng tiếng Pháp Một tháng với những người tìm vàng. Khi đoàn tàu chở chiếc quan tài mang thi hài ông Vĩnh về đến ga Hàng Cỏ, hàng ngàn người dân Hà Nội đứng chờ trong một sự yên lặng vô cùng trang nghiêm trước quảng trường nhà ga để đưa tiễn ông

Con người bằng tài năng và sức lao động không biết mệt mỏi của Mình đã góp phần làm cho chữ quốc ngữ trở thành chữ viết của toàn dân Việt. ---Tôi đã vẽ bức tranh Sự ra đời của chữ quốc ngữ- Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh với lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với hai vĩ nhân nói trên của dân tộc Việt Nam –

Alexandre de Rhodes và Nguyễn Văn Vĩnh.------ Lời cảm ơn:
Tác giả bài viết này biết ơn thân sinh của mình – nhà giáo Nguyễn Đình Nam, người đầu tiên kể cho tác giả về cuộc đời và sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh từ khi tác giả còn là học sinh tiểu học, khi sách giáo khoa chính thống còn gọi Alexandre Rhodes là gián điệp còn Nguyễn Văn Vĩnh là bồi bút của Pháp.

Tác giả xin chân thành cảm ơn ông Nguyễn Kỳ - con trai cụ Nguyễn Văn Vĩnh, và ông Nguyên Lân Bình - cháu nội cụ Nguyễn Văn Vĩnh vì những câu chuyện xúc động về cuộc sống và sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh cũng như của gia tộc cụ.

Tác giả xin cảm ơn thày Trí - cháu ngoại cụ Nguyễn Văn Vĩnh , đồng thời từng là thày dạy toán của tác giả khi tác giả là học sinh trung học.

Nguyễn Đình Đăng
Tokyo, 10/11/2004
Sự ra đời của chữ quốc ngữ - Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh

TƯỢNG PHẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI ĐẠI - Biên khảo của Tôn Kàn

posted Nov 20, 2013, 6:35 PM by Le Phan   [ updated Nov 20, 2013, 6:40 PM ]

• TƯỢNG PHẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI ĐẠI •

Phật giáo Tiểu Thừa lan xuống miền Bắc Việt Nam từ Trung Hoa vào khoảng thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên (SCN).  Đến khoảng thế kỷ thứ 5 SCN, Đại Thừa xâm nhập rồi phát triển mạnh mẽ , trở  thành quốc đạo dưới thời nhà Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần.

Tại miền Nam, Phật giáo hệ phái Theravada tràn vào từ Nam Ấn và Tích Lan. Ảnh hưởng Theravada duy trì và phát triển sau khi Việt nam xâm chiếm vương quốc Chàm và Khmer.

Trong chùa, ngoài tượng Phật để thờ ở chính điện  còn có tượng của các Hộ Pháp và La Hán thường thường được bày trong bái đường và hành lang.

Biên khảo của Tôn Kàn
Đầu Xuân 2012
 
HÌNH 1. Tượng Phật đứng Chàm.
Tượng bằng đồng đen , cao 122cm. Đúc vào thế kỷ thứ 5 SCN.

Đây là pho tượng cổ nhất kiếm được ở làng Đông-dương , thị xã Quảng Nam, vốn là kinh đô của vương quốc Chàm thời xưa. Ảnh hưởng của trường phái Amavarati Bắc Ấn thật rõ rệt . Dấu urna trên trán giữa hai mắt cho biết tượng này không xuất phát từ Tích lan vì Tích lankhôngdùng dấu này.  Hồi Việt Nam Cộng Hòa, tượng được bày tại viện Bảo tàng quốc gia ở Saigon.










HÌNH 2.  Phật A-di-đà tọa thiền.
Tượng tạc bằng đá xanh nguyên khối , vào khoảng năm 1066 thời Lý thánh Tông. Hiện để thờ tại chùa Phật Tích tỉnh Bắc Ninh.Tượng cao 165cm.
Đây có lẽ là pho tượng cổ nhất của nghệ thuật điêu khắc Phật giáo Việt Nam.  Đức Phật ngồi thiền trên tòa sen. Kiểu tóc và áo phản ảnh nghệ thuật thời Đường.










 

HÌNH 3 . Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tượng để thờ tại chùa MỘT CỘT là di tích lịch sử danh tiếng nhất Hà Nội và Việt Nam. Chùa  còn có tên là Diên Hựu Tự và xây  dựng năm 1049  thời vua Lý thái Tông. Trong hơn nghìn năm qua , chùa đã được tu bổ nhiều lần.









                 

HÌNH 4 &5 . Thích ca sơ sinh.
Tượng bằng gỗ sơn son thếp vàng .Thời nhà Trần ( thế kỷ thứ 14 ).
Tượng thứ nhất trưng tại viện Bảo tàng  Việt Sử, Hà Nội. Tượng thứ hai thờ ở chùa Bà Đá ( Vĩnh Nghiêm ), Bắc Giang.
Đây là hai pho tượng Phật cổ rất hiếm và rất qúy, ít người biết đến. Tương truyền rằng, khi mới sinh ra, Tất đạt Đa Cồ Đàm đi 7 bước, dưới chân nở ra 7 đóa hoa sen, một tay chỉ xuống đất, một tay chỉ lên trời, miệng nói rằng:” Trên trời dưới đất, ta là tôn qúy nhất.”.
Khi đó có 9 con rồng phun nước tắm cho Phật sơ sinh,do vậy có một tượng  gọi là tòa Củu Long, thường đặt ngay sau hương án chính , bên dưới các bộ Tam Tôn.


 
HÌNH 6 . Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn.
Tượng tạc bằng gỗ , sơn son thếp vàng , vào khoảng thời nhà hậu Lê.Hiện để thờ tại chùa Bút Tháp , tỉnh Bắc Ninh.Tượng cao 370 cm, có ghi niên đại năm tạc và tên người tạc:” Tuế thứ Bính Thân niên, thu nguyệt cốc nhật danh tạo, Nam Đông Giao Thọ nam tiên sinh phụng khắc.” Tượng gồm cả hai dạng của Quan Âm: 11 đầu và ngàn mắt ngàn tay. 














HÌNH7. Tượng Quan Âm, chùa Tây Phương, Hà Nội.
HÌNH 8. Tượng Quan Âm, chùa Dâu ,Bắc Ninh.






HÌNH 9. Quan Âm Tống Tử.                                                HÌNH 10. Quan Âm Thị Kính.
Chùa Tây phưong , Hà Nội.                                                Tượng thờ ở chùa Sùng Nghiêm tỉnh Sơn Tây.
                                                                                                    Một kiệt tác của ngành điêu khắc Phật giáo Việt Nam.


HÌNH 11. Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi voi trắng.                                            HÌNH 12. Văn Thù Bồ tát cưỡi sư tử.
                                                                                                                            Tượng thờ tại chùa Bút Tháp , tỉnh Bắc Ninh.

HÌNH 13.
Các vị LA HÁN , chùa Tây Phương , Hà Nội.
        
HÌNH 14.
Tượng Ông Thiện, chùa KEO , Thái Bình.

HÌNH 15.
 Tượng LA HÁN, chùa NÔM, Hưng Yên


                                        

HÌNH 16 . Phật Tuyết Sơn , thời Trịnh nguyễn , chùa Tây Phương.             HÌNH 17. Phật Tuyết Sơn , thời hậu Lê , chùa Bút Tháp..

    
HÌNH 18. Phật tọa thiền. Chùa Nôm , Hưng Yên.
Tượng làm bằng đất được sơn phết , không bị hư hại sau nhiều trận lụt khủng khiếp. Chùa Nôm có đến 100 bức tượng cổ bằng đất.

HÌNH 19. Phật tọa thiền.
Tạc bằng gỗ mít không sơn. Hiện thờ tại chùa Đậu , Thường Tín, HàNội .

    


HÌNH 20 . Chùa  Thiên Mụ (Linh Mụ )

Danh linh thắng cảnh của Huế thơ mộng ,chùa nằm trên đồi Hà Khê và được khởi công xây cất năm 1601 dưới thờì Chúa Nguyễn Hoàng. Trong chùa có thờ Thập điện Minh Vương.


HÌNH 21. Chùa Từ Đàm .
Đây là trung tâm tinh thần của Phật giáo miền Trung ,và có lẽ của cả miền Nam Việt Nam . Chùa được xây cất  vào thế kỷ thứ 17 SCN , dưới thời Vua Lê Hy Tông đang bị Chúa Nguyễn trấn áp. Chùa tọa trên đồi Long Sơn giữa thành phố Huế.











               

HÌNH 21 & 22Tượng Phật chùa  Từ Đàm.

Tôi không rõ xuất sứ và lịch sử hai pho tượng Phật chụp trong hình. Vậy qúy độc giả nào biết chi tiết thì xin làm ơn chỉ giáo. Xin đa tạ trước.





HÌNH 23 . A-di-đà Tam Tôn.











    
HÌNH 24. Địa Tạng Bồ Tát.                                                                                 HÌNH 25. Chùa VĩnhThạnh,MỹTho. 

Đây là một chùa khá kỳ cựu và rất nổi tiếng ở miền Nam , được xây cất vào đầu thế kỷ thứ 19.  Kiến trúc chịu ảnh hưỏng La Mã trộn với truyền thống Theravada. Trong chùa có thờ rất nhiều tượng bằng gỗ và bằng đồng chịu ảnh hương của Trung Hoa.
Đứng trưóc Phật A-di-đà là tượng Thích Ca sơ sinh. Tượng Địa Tạng  khá độc đáo ngộ nghĩnh , ít khi thấy ở các nơi khác.


HÌNH 26 . Phật nhập Niết Bàn. Chùa Linh sơn , Nha Trang.

 
                                          
HÌNH 27. Phật tọa thiền bằng khối đá ngọc.                                           Tượng Địa Tạng  khá độc đáo ngộ nghĩnh , ít khi thấy ở các nơi khác.
Chùa Tùng Vân,Vĩnh Phúc.                                                                                                            Tượng bằng đồng , nặng 100 tấn.

       
Hình 29&30 . Tượng Phật chùa Kh’leang , Sóc Trăng. 
Đây là ngôi chùa cổ nhất tỉnh Sóc Trăng , xây cất từ năm 1533 . Lối kiến trúc cho ta thấy ảnh hưởng văn hóa Khmer và hệ phái Phật giáo Theravada. Tay Phật bắt Địa Xúc Ấn ( Aksobhya mudra ).

KẾT   LUẬN
Ngắm các tượng Phật cổ Việt Nam , người ta cảm phục tài năng và tinh thần nghệ thuật của các điêu khắc gia Phật giáo. Tuy chịu ảnh hưởng rất nặng nề của Trung Hoa và Ấn độ , những nghệ sĩ này vẫn bảo vệ và phát huy một cái nhìn sâu sắc tinh tế để  trình diễn  trên các pho tượng những đặc tính độc đáo của dân tộc Việt.

Chiêm ngưỡng tượng Thích Ca sơ sinh , Phật Tuyết Sơn , Quan Âm Thiên thủ Thiên Nhãn , và nhất là tượng Quan Âm Thị Kính , mọi người đều phải công nhận rằng đây là tượng Phật Việt Nam , chứ không phải là tượng của  Ấn độ , Trung Hoa ,Triều Tiên hay Nhật Bản. Người Việt Nam đã đóng góp tiếng nói của mình để ca tụng Đức Phật , và đã giúp chúng sinh  cảm thấy gần gũi với Ngài hơn.
Những pho tượng Phật hiện đại có vẻ nhắm vào  phô trương hơn là hướng về nghệ thuật hay đạo lý . Những pho tượng khổng lồ được chế tạo rập theo một khuôn mẫu gò bó thiếu tự nhiên, khiến cho người ta cảm thấy bị áp chế đè nén , không phát huy được trí tưởng tượng hay lòng cảm hóa có thể dẫn dắt  con người  đến Giác ngộ.

Người ta mong rằng trong tương lai , những nghệ sĩ Việt Nam sẽ vươn thoát khỏi cái quan niệm chật hẹp khuê trương khuyếch đại, để theo đuổi một đường lối phù hợp với tinh thần khiêm nhường giản dị và thuyết Vô thường của Phật đạo.

TÔN  KÀN
Đầu Xuân  2012





Sài Gòn Xưa

posted Aug 6, 2013, 6:29 PM by Le Phan   [ updated Aug 6, 2013, 6:36 PM ]

Sài Gòn Xưa – Người và Cảnh: 
Trường xưa nghĩa cũ

buổi sáng Sai Gon

Trường Mạc Đĩnh Chi

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi

Tiểu sử

Tiểu sử

PHI-HUE-NGUYEN-CHANH-TIN

PHI-HUE-NGUYEN-CHANH-TIN-DANG HUU HIEU

1.7-MDCR_2.1-NgayXua_hon_vong_phu.

Ban hop ca Mac Dinh Chi (hon vong phu).

1.7-MDCR_2.1-NgayXua_kttk

Ngay Xua  - Hoat Canh...

1.7-MDCR_2.1-NgayXua_len_duong.JEPG_

Ngay Xua len duong 

1.7-MDCR_2.1-NgayXua_ptp1.JEPG_

Tat nien lop de nhat B1 khoa 1971

MDC-69-Co-Bach-Nhu-Tuyet-Phap-Van

MDC-69- Cô Bạch Như Tuyết - dạy PhápVăn

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6 h3

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6 (h.3)

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6 h4

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6 (h.5)

Trường trung học Mạc Đĩnh Chi Q.6 h5

Khoa 64-65

x-1.7-MDCR_2.1-NgayXua_12b1_1971_3..

Lop de nhat B1 khoa 1971

x-1.7-MDCR_2.1-NgayXua_dung8

Nu hoc sinh khoa-71

x-khoa-68-11b1-hinh-2

Mạc Đỉnh Chi -68-di ban bao xuan

x-mdc-68-baoxuan-

khoa-68-De Tam B1

x-khoa-68-11b1

Trường Collège Chasseloup- Laubat
Lê Qúi Đôn xưa – ngôi trường xưa nhất Sài gòn

trường Laubat  - Lê Qúi Đôn xưa

Trường Collège Chasseloup- Laubat – Lê Qúi Đôn xưa – ngôi trường xưa nhất Sài gòn

LEQUYDON1969-1970

LE QUY DON (NK1969-1970)

Sơ nét về trường Lê Qúi Đôn

Sơ nét về trường Lê Qúi Đôn

Hồ con rùa năm 1972 ( khi còn con rùa )

Hồ con rùa năm 1972 ( khi còn con rùa )

Trường Marie-curie

Trường Marie-curie

Trường Marie-curie

SO-NET-VE-TRUONG-MARIE-CURIE

Sơ nét về trường MARIE-CURIE

Marie-Curie-72-73-2A1

Marie-Curie-72-73-2A1

Marie-Curie-74-75-Lop-cuoi-D1

Marie-Curie-74-75-Lop-cuoi-D1

Marie-curie sân trường


Marie-curie sân trường

Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ.

Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ.

học sinh SG 63

học sinh SG 63

Trường Gia Long

Trường Gia Long-1925

Trường Gia Long-1925

Gia Long 1925

Gia Long 1925

sân trường Gia Long 1931

Sân trường Gia Long 1931

Đội văn nghệ của trường ngày xưa này các bạn!

Đội văn nghệ của trường ngày xưa này các bạn!

sân trường Gia Long 1931

Sân trường Gia Long 1931

Cổng trường năm 1947

Cổng trường năm 1947

Cổng trường năm 1947 h2

Cổng trường năm 1947 h2

Cảnh giờ rước học sinh tại trường. Hiện cổng này nằm trên mặt tiền đường Nguyễn Thị Minh Khai.

Cảnh giờ rước học sinh tại trường. Hiện cổng này nằm trên mặt tiền đường Nguyễn Thị Minh Khai.

Tiểu sử

Tiểu sử

Nữ sinh trường Gia Long năm 1969 với chiếc áo dài thướt tha.

Nữ sinh trường Gia Long năm 1969 với chiếc áo dài thướt tha.

TruongGiaLong-3

Trường Gia Long

GIA-LONG-1975--10B11


Khuôn viên trường Nữ Trung Học Gia Long

Khuôn viên trường Nữ Trung Học Gia Long

xich lô

Xích lô: phương tiện di chuyển của học sinh ở xa trường

Trường Lê Văn Duyệt

Trường Lê Văn Duyệt

Trường Lê Văn Duyệt ( là trường Võ Thị Sáu ngày nay )

Cổng trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt sau năm 1973

Cổng trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt sau năm 1973

LVD Niên Khóa 1975

Các cô giáo trường LVD Niên Khóa 1975

Le Van Duyet 74

Le Van Duyet 74

Le Van Duyet 73

Cô giáo trường Lê Văn Duyệt NK.73

Le Van Duyet 73 h2

Cô giáo trường Lê Văn Duyệt NK.73 h2

Nữ sinh Lê Văn Duyệt

Nữ sinh Lê Văn Duyệt

truong-le-van-duyet-1970

truong-le-van-duyet-1970

http://www.levanduyet.net/

http://www.levanduyet.net/

Le Van Duyet 68

Nữ sinh Lê Văn Duyệt 68

Liên hoan lớp khoá 68, trường Lê Văn Duyệt

Liên hoan lớp khoá 68, trường Lê Văn Duyệt

Le Van Duyet 66

Nữ sinh Lê Văn Duyệt 66

Sách giáo khoa

Sách giáo khoa

Học trò xưa đến trường

Học trò xưa đến trường

Trường Trưng Vương

trường Trưng Vương xưa

Trường Trưng Vương xưa

Trường trung học nữ Trưng Vương


sơ nét tiểu sử

Sơ nét tiểu sử

Nữ sinh Trưng Vương, văn nghệ Xuân 1974

Nữ sinh Trưng Vương, văn nghệ Xuân 1974

Trưng Vương

Trưng Vương

Gốc cây này là nơi chúng ta đã bu quanh chiếc xe đạp củaông bò khô để thưởng thức ôi biêt bao mùi vị thơm ngon ngọt ngào cay chua cùng tụ lại..... trên đĩa gỏi nhỏ.

Gốc cây này là nơi chúng tôi đã bu quanh chiếc xe đạp của ông bò khô để thưởng thức 
ôi biết bao mùi vị thơm ngon ngọt ngào cay chua cùng tụ lại… trên đĩa gỏi nhỏ.

Trung-Vuong-De-Nhi-AP1-1969

Trung-Vuong-De-Nhi-AP1-1969 

Bà Hiệu trưởng Tuyết và các giáo sư cùng quan khách trên bộ Giáo Dục tới dự lễ Hai Bà Trưng tổ chức tại trường Trưng Vương.

Bà Hiệu trưởng Tuyết và các giáo sư cùng quan khách trên bộ Giáo Dục 
tới dự lễ Hai Bà Trưng tổ chức tại trường Trưng Vương.

học lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa h2

HS tham gia sinh hoạt Hướng Đạo

tiểu học VNCH

tiểu học VNCH

Trường Võ Trường Toản

Trường Võ Trường Toản (kế bên trường Trưng Vương)

Trường Võ Trường Toản (kế bên trường Trưng Vương)

Tiểu sử

Tiểu sử

Thẻ căn cước học sinh trường Võ Trường Toản 57-64 (1)

Thẻ căn cước học sinh trường Võ Trường Toản 57-64 (1)

Phù hiệu may áo học sinh trường Võ Trường Toản

Phù hiệu may áo học sinh trường Võ Trường Toản

Võ Trường Toản-hoc sinh

HS Võ Trường Toản

Học sinh hành khúc trường Võ Trường Toản

Học sinh hành khúc trường Võ Trường Toản

học sinh Võ trường Toản


VTT trang bìa

Học sinh Võ trường Toản

Trường LA SAN TABERD
bây giờ là trường Trần Đại Nghĩa

Lasan-Taberd-64-65-Toa-nha-Ban-Tieu-hoc

Lasan-Taberd-64-65-Toa-nha-Ban-Tieu-hoc

Taberd-histoire1874-1974

Taberd-histoire 1874-1974

TABERD-1930

TABERD-1930

Trường LA SAN TABERD 1930

Trường LA SAN TABERD 1930

ky-uc-taberd-sg-1

ky-uc-taberd-sg-1

taberd_02

taberd

Taberd

Bò bía - món khoái khẩu của học sinh SG

Bò bía – món khoái khẩu của học sinh SG

Trường Trung học Pétrus Ký 
Trường chuyên Lê Hồng Phong ngày nay

cổng trường Petrus Ký

Cổng trường Petrus Ký

-petrus-Ky-1930

-petrus-Ky-1930

SO-NET-VE-TRUONG-PETRUS-KY

Sơ nét về trường PETRUS-KY

cổng trường

cổng trường

Petrus Ký học sinh

Petrus Ký học sinh

Hiệu trưởng các đời

Hiệu trưởng các đời

Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký

Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký

Phá lấu trước sân trường

Phá lấu trước sân trường



Ngày Phụ Nữ 03/03/1960 tại Sài Gòn 
vidéo và hình ảnh sưu tầm của chị Linda

YouTube Video


Ngày Phụ Nữ 03/03/1960 tại Sài Gòn

Saigon 1960 - Nữ sinh Trưng Vương diễn hành trong ngày Phụ Nữ 

Xe hoa trường Nữ Trung Học Trưng Vương 

Nữ sinh Gia Long diễn hành trong ngày Phụ Nữ 

Xe hoa trường Nữ Trung Học Gia Long

Ngày lễ Phụ Nữ tại công trường Lam Sơn - Sài Gòn 1960 


Khán đài trong ngày lễ Phụ Nữ. Bà Ngô Đình Nhu mặc áo dài ngồi kế bên 1 phụ nữ mặc váy dài [sarong] là Phu Nhân 
của Cố Tổng Thống Aung San của Miến Điện, bà cũng được gọi là bà quả phụ Maha Thiri Thudamma Daw Khin Kyt.

Bà Ngô Đình Nhu đọc diễn văn khai mạc ngày lễ Phụ Nữ 

1 đại diện phụ nữ đang nêu những thành tích của phụ nữ VNCH và những quyết tâm trong tương lai 

Các phụ nữ đang đặt vòng hoa tại đài tưởng niệm Hai Bà Trưng tại công trường Mê Linh 

Các đại diện phụ nữ đang đứng trước đài tưởng niệm Hai Bà Trưng tại công trường Mê Linh 


Ca đoàn trường Nữ Trung Học Trưng Vương đang hợp ca bài "Trưng Nữ Vương" 

Hai Bà Trưng oai phong lẫm liệt trên 2 con voi 

Các Nữ Tướng và quân sĩ của 2 bà Trưng 







Xe hoa Ký Nhi Viện 

Xe hoa Phát Triển Cộng Đồng

Xe hoa Liên Đoàn Công Chức Quốc Gia
Trong dịp lễ Phụ Nữ, nhiều cuộc thi và giải thưởng được tổ chức cho phụ nữ tham dự. 

Thi Em Bé Đẹp



Một bà mẹ vóc dáng mảnh mai đang hãnh diện khoe em bé mập ú. 



Bà quả phụ của Cố Tổng Thống Aung San của Miến Điện đang trao giải thưởng cho Em Bé Đẹp. Bà quả phụ này chính là thân mẫu của bà Aung San Suu Kyi, là nữ lãnh tụ rất nổi tiếng của Miến Điện hiện nay. Tấm hình bên dưới là bà quả phụ Aung San đang nhận 1 bó hoa hồng từ 1 thiếu nữ VN

http://d.gr-assets.com/books/1347900824l/106320.jpg

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/03/Aung_San_Suu_Kyi_1951.jpg/220px-Aung_San_Suu_Kyi_1951.jpg
A portrait of Khin Kyi and her family in 1948. 



Thi làm bánh




Thi thêu


Thi Cắt May


Thi Văn Chương 



Các phụ nữ đang dự thi viết văn 

Người đoạt Giải Viết Văn: cô Phạm Thị Nguyệt trường Huỳnh Khương Ninh 


Lễ trao giải thưởng các cuộc thi tổ chức nhân Ngày Phụ Nữ VN, tại Tòa Đô Chánh Sài Gòn 03/03/1960

Các nữ sinh Trung Học Đồng Khánh, Huế, trong ngày lễ Hai Bà Trưng 

1-7 of 7