Tin Tức Cộng Đồng • Vietnamese Community News


Hội Chợ Tết Cộng Đồng Xuân Canh Tý - Hội Người Việt Toronto và các hội đoàn tổ chức ngày 18 tháng 01 năm 2020.

posted Jan 24, 2020, 12:27 PM by Le Phan

 

Dưới đây là một số videos & hình ảnh Hội Chợ Tết Canh Tý 2020 
do anh Đặng Hoàng Sơn ghi lại, xin mời quý vị theo dõi. 

Xin mời xem thêm hình của các nhiếp ảnh gia: 
Nhiếp ảnh gia Trần Thái Lực. 
Nhiếp ảnh gia "Lữ Khách Lang Thang". 
Nhiếp ảnh gia Báu Chính. 

Lễ Chào Cờ. 
Các Hội Đoàn Diễn Hành.
Ban Hợp Ca Cao Niên Toronto - Trăng Thanh Bình. 
Ái Ly - Khúc Hát Thanh Xuân.
Vũ Đoàn Thanh Trúc - Cánh Thiệp Đầu Xuân. 
Hồng Nhung- Mùa Xuân Gửi Em.
Văn Khang - Mẹ Việt Nam. 
Nhóm Múa Thu Thảo - No.
Các Cháu Chúc Tết & Nhận Bao Lì Xì. 
Nhóm Âu Cơ - Cái Trống Cơm.
Bác Sĩ Lê Thuần Kiên Phát Biểu - Anh & Việt Ngữ. 
Giới Thiệu Quan Khách Tham Dự.
MP Michael Levitt - York Centre & MP Francesco Sorbara - Vaughan-Woodbridge Phát Biểu. 
MP Peter Kent from Thornhill Phát Biểu.
Thị Trưởng John Tory Phát Biểu Qua Video. 
MPP Tom Rakocevic from Humber River-Black Creek Phát Biểu.
Canadian Navy Lieutenant-Commander Mannetje Phát Biểu. 
Đại Diện TD Bank Phát Biểu.
Canadian Navy Band. 
Phát Học Bỗng Cho Các Cháu.
Trường Vũ - Cám Ơn. 
Nhóm Múa Thu Thảo - Hello Vietnam.
Ban Hợp Ca Hương Việt - Dựng Một Mùa Hoa. 
Myra Trần - I Will Suvive.
Nhóm Diễm Hương - Xuân Đã Về. 
Nhóm Thanh Trúc - Tình.
Bé Hồ Kim Cương Chúc Tết. 
Nhóm Mãi Xanh - Liên Khúc Đón Xuân & Ly Rượu Mừng.
 
Nhóm Tiếng Quê - Liên Khúc Mẹ Việt Nam. 
Tốp ca - Xuân Miền Nam.

 
(Anh chị Nguyễn Thị Bạch Mai - Gian hàng Đại học Carleton.) 
https://heartsoffreedom.org/
Ghi chú: Chắc chắn tôi còn thiếu sót rất nhiều hình & videos quan khách phát biểu cũng như hình & videos ca nhạc của quý anh chị em. Nhưng vì sức người có hạn, mong Ban Tổ Chức và quý vị niệm tình tha thứ. Thành thật cám ơn.
Đặng Hoàng Sơn/Việt Nam Văn Hiến.

Đóng góp ý kiến giải quyết tình trạng khó khăn hiện tại của Liên Hội.

posted Dec 11, 2019, 3:09 PM by Le Phan

On Wednesday, December 4, 2019, 04:08:26 a.m. NST, Harry Mai <harrymaiphuhung@gmail.com> wrote:

Kính thưa Quý Chủ Tịch Đoàn Liên Hội, Ban Quản Trị các Hội Thành Viên, Phương Tiện Truyền Thông, Bậc Trưởng Thượng, Nhân Hào Nhân Sĩ, Đồng Bào và Đồng Hương,
 
Cộng Đồng Người Việt Vùng Greater Vancouver (CĐNVVGV) trân trọng kính gởi Thông Báo của Cộng Đồng Người Việt Vùng Greater Vancouver về Buổi họp Ngày 14-4-2019 của Liên Hội Người Việt Canada.

Bản Thông Báo này sẽ được đăng tải trên Thời Báo Vancouver, Toronto và Montreal trong tuần này.
 
Kính mong quý vị chuyển tải rộng rãi bản Thông Cáo CĐNVVGV đi khắp nơi trên thế giới.
 
Trân trọng,
 
Mai Phú Hưng
Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Vùng Greater VancouverNgày 10-12-2019

Kính thưa quý Chủ Tịch Đoàn, Ban Chấp Hành và Ban Kiểm Soát LHNVC, cùng quý đồng hương:

        Vừa rồi tôi nhận được Thông báo của Cộng Đồng Người Việt Vùng Greater Vancouver (Thông báo của Hội Vancouver) do anh Mai Phú Hưng ký tên, phủ nhận kết quả bầu cử của buổi họp Liên Hội ngày 14-4-2019. Tôi, Nguyễn Thái Trung, là một trong 3 thành viên của Ủy Ban Bầu Cử cho buổi họp đó, gửi thư này đến quý vị và những đồng hương quan tâm đến Liên Hội và cộng đồng người Việt tại Canada với mục đích làm sáng tỏ một số vấn đề nêu lên trong Thông báo và cũng như đóng góp ý kiến giải quyết tình trạng khó khăn hiện tại của Liên Hội.

        Thông báo của Hội Vancouver viết rằng buổi họp bầu cử ngày 14-4-2019 đã vi phạm một số Điều Lệ và Nội Quy của Liên Hội cho nên không hợp lệ. Sau đây tôi xin trình bày những sự kiện tôi đã chứng kiến cho thấy các tố cáo này có tính cách thiên vị và chia rẽ cộng đồng.

1. Thông báo viết: “Hầu hết những người được bầu là những người đã liên tiếp vi phạm Điều Lệ và Nội Quy của Liên Hội từ năm 2016,” nên không được phép tham gia vào Ban Chấp Hành Liên Hội.

        Lý luận cấm những thành viên khiếm diện bị thua kiện tại tòa Thượng Thẩm British Columbia không được ra ứng cử là hoàn toàn vô căn cứ. Ủy Ban Bầu Cử đã đọc kỹ và thực hành đúng theo các điều kiện ghi trong án lệnh ngày 15-2-2019: LHNVC phải tổ chức bầu cử Ban Lãnh Đạo mới trong vòng 60 ngày để thay thế Ban Lãnh Đạo hiện thời (đã được bầu trong ĐHĐ Montreal 2016.) Án lệnh này không đề cập đến điều kiện cho những ai muốn ra ứng cử. Nếu có thì chị Nguyễn Đăng Mỹ, đại diện của Hội Vancouver trong Ủy Ban Bầu Cử đã đưa ra thảo luận trong các buổi họp viễn liên của Ủy Ban. Khi anh Hưng đòi hỏi Chủ tọa phải loại bỏ các ứng cử viên trong buổi họp, chúng tôi đề nghị anh Hưng viết thư khiếu nại đến Chủ Tịch Đoàn để triệu tập cuộc họp và biểu quyết biện pháp kỷ luật (như vô hiệu hóa kết quả thắng cử của các ứng cử viên nếu họ vi phạm Điều Lệ LH.) Nhưng anh Hưng đã không chọn giải pháp đó như là thủ tục hợp thức ghi trong Điều Lệ.

        Chúng tôi nhận thấy anh Hưng vẫn tiếp tục dựa vào lý do ‘vi phạm Điều Lệ và Nội Quy’ để chỉ trích và chống đối các ĐHĐ và cuộc họp của Liên Hội nếu kết quả không vừa ý anh. Trong khi đó anh Hưng làm ngơ không lên tiếng về những sai trái hay vi phạm Điều Lệ của chính Hội Vancouver và của cá nhân anh Hưng, như trong vài trường hợp điển hình sau đây:
 
   a) Vi phạm Điều Lệ 3: “Thành viên của LH phải có hoạt động liên tục, có ban chấp hành, có điều lệ, có đăng ký với chính quyền,và chấp nhận tôn chỉ của Liên Hội.”
        Trong một chuổi họp bất thường của LH ngày 22-24 tháng 8, 2014 tại Toronto, anh Mai Phú Hưng khẳng định rằng Ban Chấp Hành của anh là đại diện chính thức của Hội Vancouver trong lúc đang còn tranh chấp với BCH của ông Hà Tấn Phát (Có lẽ nhiều quý vị còn nhớ việc tranh chấp sôi nổi trên báo chí và mạng xã hội giữa 2 BCH của Hội Vancouver trong những năm đầu của thập niên 2010.)

        Sau khi được chấp nhận làm thành viên Liên Hội, anh Hưng hứa với ĐHĐ sẽ nộp giấy phép hoạt động của chính quyền tỉnh bang British Columbia trong một thời gian ngắn. Nhưng 4 tháng sau đó tại ĐHĐ Bất Thường Ottawa của Liên Hội ngày 26-28 tháng 12, 2014 anh Hưng vẫn không nộp giấy đăng ký cho ĐHĐ như đã hứa.

Như vậy BCH của anh Hưng đã vi phạm Điều Lệ 3 khi mạo nhận đã có giấy phép đăng ký tại ĐHĐ Toronto và Ottawa trong năm 2014.

    b) Vi phạm Điều Lệ 11: ”Họp ĐHĐ chỉ có giá trị khi có sư hiện diện của đại biểu của ít nhất ½ tổng số thành viên.”
        Trong số những thành viên tham dự ĐHĐ Toronto (July 2014) và ĐHĐ Ottawa (December 2014) ít nhất 3 thành viên (chưa kể Hội Vancouver) không có đăng ký hoặc mất giấy phép hoạt động của chính quyền tỉnh bang. Như vậy tổng số thành viên hợp lệ và có quyền bầu cử dưới 50% (5/11 hội). Chiếu theo Điều 11, các ĐHĐ Toronto và Ottawa trong năm 2014 không đủ túc số, do đó không hợp lệ.
        Chúng ta không thấy anh Hưng lên tiếng tố cáo hay thú nhận các vi phạm Điều Lệ 3 và 11 kể trên, mà còn nộp biên bản họp của các ĐHĐ bất hợp lệ này với đơn thưa kiện BCH của ĐHĐ Montreal 2016 tại toà án Vancouver!

    c) Vi phạm Điều Lệ 7: ”Số đại biểu được quyền bỏ phiếu trong ĐHĐ được ấn định như sau:
                - 2 đại biểu nếu Hội thành viên có 30 - 100
                - 3 đại biểu nếu Hội thành viên có 101 – 300
                - 4 đại biểu nếu Hội thành viên có 301 – 500
                - 5 đại biểu nếu Hội thành viên có từ 501 trở lên.”

Trong nhiều năm qua, các ĐHĐ Liên Hội đã vi phạm Điều 7 khi cho phép một số thành viên được cử 4 - 5 đại biểu bỏ phiếu mặc dù họ có dưới 300 hội viên. Gần đây trong cuộc họp ngày 14-4-2019, Hội Vancouver đã cử 5 đại biểu tham dự nhưng không ghi số hội viên trong giấy đăng ký tham dự. Khi chúng tôi muốn áp dụng Điều 7 để ấn định số đại biểu thì chị Nguyễn Đăng Mỹ (đại diện Hội Vancouver) đề nghị thay thế với ‘tiền lệ’ của Liên Hội là 2 đại biểu cho hội đoàn thành phố nhỏ và 4 - 5 đại biểu cho hội đoàn thành phố lớn. Một lần nữa chúng tôi không thấy anh Hưng lên tiếng phản đối việc Ban tổ chức và Hội Vancouver vi phạm Điều Lệ 7 này. (Đến ngày hôm nay số hội viên của Hội Vancouver vẫn còn là một bí mật!)

2. Vu khống ứng cử viên.
        Anh Mai Phú Hưng tố cáo chị Đặng Thị Danh trong buổi họp 14-4-2019, đã vu khống cô Nguyễn Khuê-Tú đã hợp tác ký đơn kiện các cô bác trong Liên Hội nên sẽ không được sự ủng hộ của chị Danh. Tôi không nhớ rõ chi tiết các lời lẽ trách móc có tính cách xúc phạm danh dự của cô Khuê-Tú không? Thiết nghĩ việc cử tri chất vấn các ứng cử viên trong lúc vận động tranh cử là quyền tự do trong chế độ dân chủ.

Tôi xin đề nghị Chủ Tịch Đoàn nghe lại băng ghi âm (audio tape) của cuộc họp bầu cử và triệu tập cuộc họp viễn liên với chị Danh và cô Khuê-Tú để làm sáng tỏ (và giải quyết) vấn đề đáng tiếc này. Riêng tôi có nghe được một chi tiết có thể liên quan đến cuộc đối thoại đó, nên muốn chia sẻ với mọi người trong cuộc họp viễn liên.

3. Vi phạm Điều Lệ 19: ”BCH LH phải được bầu kín.”
        Cuộc họp ngày 14-4-2019 được tổ chức qua viễn liên (Internet.) Tuy nhiên vì có một số đại biểu tham dự bằng telephone BTC không thể tổ chức bỏ phiếu kín qua ‘Zoom Meeting’ được. Do đó BTC đề nghị bầu công khai và đa số đại biểu đồng ý (vì lý do không thể hoãn lại cuộc bầu cử.) Bây giờ anh Hưng lại tố cáo Ban Tổ Chức vi phạm Điều Lệ và cố tình loại phiếu của một số đại biểu. Có lẽ vì kết quả không vừa ý anh.

4. Vi pham Điều 24 - Nội Quy: “BCH LH không được quyền kiêm nhiệm bất cứ chức vụ nào trong CTĐ cũng như trong hội thành viên.”
        Trong quá khứ Liên Hội đã có một ‘tiền lệ’ từ các ĐHĐ năm 2000 – 2012 khi cho phép thành viên BCH của hội địa phương vào phục vụ BCH Liên Hội vì lý do thiếu nhân lực, nhất là những người có nhiều kinh nghiệm và tinh thần phục vụ cộng đồng. Tiền lệ này cũng được biểu quyết và chấp thuận trong ĐHĐ Montreal 2016 khi một số thành viên của hội đoàn địa phương được bầu vào BCH Liên Hội. Nhưng như chúng ta đã biết anh MPH và Hội Vancouver đã kiện BCH của ĐHĐ Montreal ra tòa Thượng Thẩm British Columbia với lý do vi phạm Điều 24 của Nội Quy Liên Hội.

        Quý vị có thể đặt câu hỏi: Tại sao tiền lệ về số đại biểu bỏ phiếu tại ĐHĐ được chấp nhận thay thế Điều 7 trong khi tiền lệ về bất khả kiêm nhiệm thay thế Điều 24 lại bị Hội Vancouver chống đối và kiện ra tòa?

5. Đề nghị giải quyết khủng hoảng của Liên Hội và hướng về tương lai
        Có lẽ đa số thành viên Liên Hội đã không chú ý hay vô tình vi phạm một điều rất quan trọng trong Điều Lệ LH. Đó là Điều 2 – Tôn Chỉ: “Liên Hội Người Việt Canada là một tổ chức không có tính cách vụ lợi, tôn giáo, đảng phái hay nghề nghiệp, được thành lập nhầm kết hợp các tổ chức người Việt quốc gia tại các địa phương ………….. Liên Hội sẽ thực hiện các mục tiêu sau đây:
                1) Phát huy mối liên lạc giữa các hội người Việt quốc gia tại các địa phương tại Canada;
                2) Phối hợp các hoạt động của tập thể người Việt quốc gia tại Canada trong phạm vi bảo tồn và phát huy văn hóa Việt, cổ võ và hợp tác văn hóa với các sắc dân khác;
                3) Phát triển tinh thần liên đới, ý thức trách nhiệm cộng đồng bằng mọi hình thức để tiến tới sự kết hợp rộng lớn của toàn thể cộng đồng người Việt tại hải ngoại.”

Nếu không thực hiện được những mục tiêu trên thì Liên Hội sẽ mất lòng tin tưởng cũng như sự ủng hộ của cộng đồng người Việt Canada.

Do đó chúng tôi xin đóng góp vài ý kiến sau đây để giúp giải quyết các khó khăn của Liên Hội nếu chúng ta đồng ý gát bỏ các tranh chấp để hợp tác xây dựng lại LH:
                1) Yêu cầu ngưng các hành động có hại cho tổ chức Liên Hội.
                2) Tu Chỉnh Điều Lệ và Nội Quy: Bản Điều Lệ (1988) hiện tại của Liên Hội đã tồn tại hơn 30 năm.
Văn kiện quan trọng này chưa bao giờ được tu chỉnh mặc dù có những cố gắng sửa đổi từng phần hay toàn bộ gần đây (năm 2014 và 2018) nhưng bị thất bại vì chia rẽ nội bô. Nhiều điều lệ trong tài liệu này đã lỗi thời và không thích hợp với luật lệ mới về Corporations của Canada, cũng như không phản ảnh đúng hoàn cảnh hiện tại của cộng đồng người Việt trước đe dọa phá hoại của các tổ chức thân cộng sản tại Canada.
Xin đề nghị Chủ Tịch Đoàn lập Ủy Ban Tu Chỉnh Điều Lệ và mời các thiện nguyện viên có nhiều kinh nghiệm cộng đồng và kiến thức pháp lý tham gia.
                3) Mở rộng Ban Chấp Hành: Mời những người trẻ có tài năng và nhiệt huyết (như cô Khuê-Tú) vào các chức vụ như Ủy viên nhân quyền, Ủy viên báo chí và truyền thông, Ủy viên ngoại vụ, để hổ trợ cho BCH.
                4) Lập Ủy Ban Gây Quỹ: để giúp LH có quỹ hoạt động và trả tiền lệ phí tòa án Vancouver.
                5) Soạn thảo các kế hoạch hoạt động nhằm kết hợp lại cộng đồng người Việt Canada.

        Mong quý Thành Viên và Ban Lãnh Đạo LH cùng nhau thảo luận và thực hiện những đề nghị trên càng sớm càng tốt với mục tiêu hoàn tất trong năm 2020.

Trân trọng,
Nguyễn Thái Trung
Hội Người Việt Saskatoon

Ai sẽ là người trả số nợ này? Hội Đồng Quản Trị của Trung Tâm Người Việt Canada? Các Hội Đoàn dùng Trung Tâm làm trụ sở sinh hoạt? Hay sẽ lấy từ quỹ của VBTTN?

posted Dec 11, 2019, 2:50 PM by Le Phan

Kính thưa quý vị,
Xin gởi đến quý vị một vài chi tiết về khoản nợ (liabilities) của Trung Tâm Người Việt Canada tài khóa  2018 và  2019, theo tài liệu của Canada Revenue:

Năm 2018:

Năm 2019:

Tiền liabilities nay đã lên đến $ 195,733.00 trong đó có tiền nợ tư nhân là $102,060.  

Ai sẽ là người trả số nợ này? Hội Đồng Quản Trị của Trung Tâm Người Việt Canada? Các Hội Đoàn dùng Trung Tâm làm trụ sở sinh hoạt? Hay sẽ lấy từ quỹ của VBTTN?

Trong năm 2019, anh LDC tuyên bố đã fundraising được trên $120,000 cho VBTTN ( bao gồm trong đó có $100,000 tiền hứa cho) như vậy thực sự trong tay chỉ có trên $20,000. Số phòng bán được là 4 phòng, là những phòng nào không thấy trên bản vẽ hiện tại? 

Tóm lại, tiền bạc của Dự án VBTTN hiện đang nằm trong Trung Tâm Người Việt Canada (TTNVC). Và những số liệu về tài chánh nêu trên của TTNVC rất đáng bi quan. Mong rằng Hội Đồng Quản Trị TTNVC mau chóng trình bày cho đồng hương được rõ trong một Hội Nghị Khoáng Đại như lời tuyên bố hùng hồn của cô Hà Quyên là một trong 8 thành viên của Hội Đồng Quản Trị TTNVC hứa thay cho anh Lê Duy Cấn.
Trân trọng,
Trần Văn Nhã
HNV Sherbrooke

BÂY GIỜ, ĐỒNG HƯƠNG CHỈ CẦN ANH LÊ DUY CẤN TỔ CHỨC MỘT BUỔI TƯỜNG TRÌNH RÕ RÀNG, MINH BẠCH VỀ MỌI MẶT CỦA DỰ ÁN VBTTN LÀ MỌI VIỆC SẼ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT ỔN THỎA

posted Dec 9, 2019, 7:03 AM by Le Phan

Kính thưa quý vị trên diễn đàn,
Anh Mai Phú Hưng quý mến,

Vì tôi đã tham gia sinh hoạt Liên Hội hơn hai mươi năm, từ thời TTK Vũ Xuân An, Tăng Quyền Vinh, Nguyễn Thành Danh, Ngô Văn Út, Lâm Tuyết, Hoàng Đình Trí và bây giờ Trần Văn Đông  nên tôi xin chia sẻ với quý vị, cách riêng với anh Mai Phú Hưng cái nhìn của tôi về Liên Hội với những thăng trầm của nó dưới sự điều hành của các Tổng Thư Ký khác nhau:

- Quý vị TTK Vũ Xuân An, Tăng Quyền Vinh, Nguyễn Thành Danh đều ở Ottawa, riêng TTK Ngô Văn Út ở Edmonton với ba nhiệm kỳ (2004 - 2006 - 2008 -2010), mọi tổ chức sinh hoạt của Liên Hội đều từ Ottawa và do một tay anh Lê Duy Cấn sắp xếp và chỉ đạo. Trong thời kỳ này, Liên Hội phải ghi nhận công lao to lớn của anh Lê Duy Cấn như anh Mai Phú Hưng đã trình bày.

- Sau nhiều năm cộng tác với anh Lê Duy Cấn, với những thành quả đạt được, đặc biệt là việc vận động tài chánh cho Dự Án Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân, anh Lê Duy Cấn đã đề nghị chị Lâm Tuyết ra ứng cử TTK Liên Hội, và chị đã đắc cử TTK hai nhiệm kỳ 2010-2012 và 2012-2014. Đến đầu năm 2013, anh Lê Duy Cấn mời chị Lâm Tuyết làm Đồng Trưởng Dự Án Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân ̣(VBTTN) với anh. Với tư cách là Đồng Trưởng Dự Án VBTTN và là TTK Liên Hội, chị Tuyết và anh Cấn đã thành lập Ban Đặc Nhiệm gồm tám người để lo việc xây cất VBTTN, nên chị Tuyết đã nhờ anh PTTK Hoàng Đình Trí nhân chuyến về thăm gia đình ở Ottawa, liên lạc với Thành Phố Ottawa để lo xin phép xây dựng VBTTN thì mới biết rằng Biểu Đồ Kiến Trúc do con anh Lê Duy Cấn vẽ chưa được Thành Phố chấp nhận, cũng như nhiều vấn đề cần được sáng tỏ. Và từ đó xảy ra những chuyện lộn xộn trong Liên Hội như quý vị đã biết. (BÂY GIỜ, ĐỒNG HƯƠNG CHỈ CẦN ANH LÊ DUY CẤN TỔ CHỨC MỘT BUỔI TƯỜNG TRÌNH RÕ RÀNG, MINH BẠCH VỀ MỌI MẶT CỦA DỰ ÁN VBTTN LÀ MỌI VIỆC SẼ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT ỔN THỎA. MONG THAY.)

- Chính vì thế, sau khi  ĐHĐ Edmonton June 06,2014 đã bầu ra Ban Chấp Hành Liên Hội nhiệm kỳ 2014-2016 do anh Hoàng Đình Trí làm chủ tịch, tên mới của Tổng Thư Ký, anh Lê Duy Cấn đã dùng lý do không đủ túc số để phủ nhận sự hợp pháp của ĐHĐ Edmonton, mặc dù có sáu chủ tịch của sáu Hội thành viên hiện diện là Ottawa, Edmonton, Calgary, Sherbrooke, Nova Scotia và Vancouver (6/11). Sau đó, anh Cấn mời được tám Hội Thành Viên là Windsor, Toronto, Montreal, Edmonton, Nova Scotia, Vancouver, Saskatoon và Manitoba tổ chức ĐHĐ Liên Hội vào tháng 12/2014 để bầu ra Ban Chấp Hành Liên Hội thứ hai do anh Trần Văn Đông làm Tổng Thư Ký.

- Vì anh Hoàng Đình Trị đã ghi danh cho Liên Hội với Corporations Canada nhiệm kỳ 2014-2016, nên việc anh Trần Văn Đông .không ghi danh cho Liên Hội nữa trong cùng nhiệm kỳ là một việc làm hợp lý và khôn ngoan, vì làm như thế Liên Hội vẫn hoạt động được bình thường.

Thật vậy, trong nhiệm kỳ 2014-2016, Ban Chấp Hành của anh Trí đã đưa Liên Hội vào trong dòng chính (main stream) Canada qua việc tổ chức thành công Tưởng Niệm 40 năm mất nước (1975-2015) và Kỷ Niệm 30 năm Canada được nhận huy chương Nansen (1986-2016) do Cao ủy Liên Hiệp Quốc cấp,  vì thành tích đã đón 60,000 người tỵ nạn Đông Dương (Việt, Cambodge và Lào) trong những năm 80, ngay tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử Canada ở Ottawa.

 Còn anh Trần Văn Đông, cũng trong nhiệm kỳ 2014-2016 đại diện cho Ban Chấp Hành thứ 2, cho thấy LHNVC đang nối dài cánh tay đến các cộng đồng người Việt quốc gia hải ngoại, đặc biệt là phối hợp cùng Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ trong việc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam, cùng sáng lập Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam, và dự phần trong Ban Liên Lạc và Phối Hợp Liên Kết Người Việt Hải Ngoại, tham gia cuộc diễn hành Văn Hóa Quốc Tế hàng năm quy mô ở New York, cũng như thực hiện những cuộc điều trần ở Quốc Hội Canada và tại Liên Hiệp Quốc về tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và nhân quyền… 

Hiện nay, trong nhiệm kỳ 2019-2021 với tư cách TTK Liên Hội được ghi danh chính thức với Corporations Canada, việc phát huy liên kết với các hội đoàn quốc gia ngoài Canada, nhằm yểm trợ những phong trào Tự Do, Dân Chủ, Môi Sinh và Chủ Quyền trong nước... là một điều cấp thiết, vì chỉ có Liên Hội mới có thể có tiếng nói chung của nhiều cộng đồng người Việt quốc gia tại Canada.

- Một nhận xét mà tôi có thể nêu lên là tại sao những người có uy tín và đóng góp nhiều cho cộng đồng như ông bà bác sĩ Đào Bá Ngọc ở Montreal,  ông Nguyễn Hữu Kỳ, ông Nguyễn Văn Tấn, ông Nguyễn Hải Hà ở Toronto, ông Nguyễn Thái Trung, ông Trần Văn Đông ở Saskatoon, ông Nguyễn Minh Hải, ông Trần Trân ở Edmonton và ngay tại Ottawa, nhiều người trong cộng đồng người Việt Ottawa trước đây đã từng ủng hộ anh Lê Duy Cấn hết mình, nay lại không muốn cộng tác với anh Lê Duy Cấn nữa. 

Ngoài ra, còn phải kể đến việc anh Lê Duy Cấn từ năm 2005 đã muốn trao đuốc (passing the torch)  cho giới trẻ như Trương Minh Trí, Võ Như Ngọc, nhóm trẻ Calgary, Edmonton ... bây giờ anh Cấn vẫn <<cầm đuốc>> và chỉ còn một mình Khuê Tú ủng hộ anh Cấn.

- Anh Mai Phú Hưng cho rằng ĐHĐ Liên Hội Edmonton 2014 không đủ túc số nên bất hợp lệ và bây giờ 2019 ĐHĐ Liên Hội đầy đủ túc số thì anh cho rằng <<gian nhân hiệp đảng>>!!!???

- Về việc kêu gọi Quỹ Pháp Lý cho Liên Hội, ngày 01 tháng 12/2018, bác sĩ Ngọc và tôi đã ra thông báo, nhưng chắc anh Mai Phú Hưng quên, nên tôi gởi lại (file đính kèm) cho anh rõ. Có điều chúng tôi ghi nhận là sau lần đóng góp này, chúng tôi không nhận được món tiền nào khác, nên chúng tôi hiểu rầng ĐỒNG HƯƠNG CHÚNG TA KHÔNG ỦNG HỘ VIỆC TRANH TỤNG Ở TÒA ÁN. 

- Việc đóng niên liễm trong các hội đoàn bất vụ lợi như Liên Hội, Đạo Luật mới Canada NFP Corporations Act nêu rõ như sau: 
<<3.01 Membership Dues
Members shall be notified in writing of the membership dues at any time payable by them and, if any are not paid within one (1) calendar month of the membership renewal date, the members in default shall automatically cease to be members of the Corporation.>>

Tóm lại, một khi Cộng Đồng Người Việt vùng Greater Vancouver không đóng niên liễm, thì anh chủ tịch Mai Phú Hưng không có TIẾNG NÓI CHÍNH THỨC trong Liên Hội. Mong rằng anh Mai Phú Hưng làm VIỆC BỔN PHẬN trước, để tiếng nói của anh được công nhận.

Trân trọng,

Trần Văn Nhã

Kính gởi mọi người

Tôi  thấy ông Lê Duy Cấn nên mở 1 cuộc họp CĐ, tổ chức đường hoàng để tường trình minh bạch về VBTTN. Nhiều đồng bào có nhiều thắc mắc cần được giải đáp, cần biết chi tiết, tiền bạc, các phân ban ra sao v.v. . Ông LDC, ông MPH và nhiều vị theo ông LDC có nhiều cống hiến. Nhưng các vị khác của LH và TTNVC qua các năm cũng có nhiều cống hiến. Như nhiều đồng bào, tôi không quan tâm ai nắm quyền hay BTC nào nắm công trình VBTTN. Nhưng dù sao, nên minh bạch rõ ràng cho một công trình to lớn. Nhiều người yêu cầu, nhưng các ông bà vẫn chưa làm. Lâu rồi, cô Hà Quyên đã lên tiếng hứa sẽ nhanh chóng có cuộc họp CĐ tường trình. Rồi cũng chìm xuống biển.

*Theo như lời ông MPH, sao dám” cắt đứt công tác quan trọng nhất của Liên Hội bằng cách không đề cử người thay thế, cũng không lưu giữ Ts Lê Duy Cấn làm ủy viên Phó Ngoại vụ’. Như vậy, phải chăng LH phải mời ông LDC kiêm luôn làm ủy viên Phó ngoại vụ của LH?
*Thời may cho ông LDC, MPH..., lúc trước các vị LH đã không tham dự phiên tòa, nên các ông mới thắng. Đó là sự thật hẳn hòi.

Các vị LH đã làm theo phán quyết Tòa. Đa số thành viên của LH tán thành buổi bầu cử của Liên Hội Người Việt Canada vào 14 tháng 4, 2019. Và nhiều người dân chúng tôi tán thành. 

* Cũng theo ông MPH" Liên Hội tê liệt như trong suốt 5 qua, không còn là 1 tiếng nói đứng đắn, và không còn khả năng thực hiện những công việc ích lợi cho đồng bào như trong suốt 35 năm trước ", hoặc là LH " chỉ quanh quẩn với hội địa phương, khi họ tổ chức các cuộc biểu tình, thượng kỳ hàng năm", hoặc là ông Trần Văn Đông "không hề làm được việc gì cho Liên hội, mà chỉ duy trì tình trạng phân tán, tê liệt của Liên Hội, và tiếp tục đại diện Liên Hội để giữ các chức vụ quan trọng trong các tổ chức người Việt chống cộng tại hải ngoại" v...v.

Tôi nghĩ là ông MPH nên tập trung đóng góp và nổ lực giúp cho vùng Vancouver và BC. Thay vì chỉ trích, sĩ mạ đến sinh hoạt và cống hiến của các vị khác, so sánh cống hiến này nọ, và xen vào vấn đề nội bộ của các vùng và hội khác.  

Vã lại, tôi thấy LH tổ chức hay tham gia đứng chung các hội đoàn trong các cuộc biểu tình, lễ Thượng Kỳ đều là những việc rất có lợi ích cho CĐ Tự do. Ông TVĐ và các vị đại diện LH đi họp các buổi họp Quốc tế cũng là cống hiến. Ông MPH không nên chà đap, và nặng nhẹ về cống hiến này với kia, hay so sánh thành tích của ông LDC nào là : tên đường Saigon tại Ottawa, Tượng mẹ bồng con, v,v, Dù mọi người tri ân những chuyện ông LDC, nhưng nay nhóm ông LDC nên tập trung để tường trình minh bạch chi tiết tài chính và kế hoạch về VBTTN.

Thêm nữa, chính ông MPH cũng nên biết mấy chục năm đã trôi qua. Trước đó có xảy ra cờ đỏ tại Surrey, cạnh Vancouver hay không? có xảy ra Canada Vietnam Society ( CVS) và Vietsoc du học sinh thân cộng phát triên toàn Canada không? v..v. Cũng như các cô chú bác anh chị sinh hoạt tại các hội thành viên ở các vùng xa xôi, lạnh lẽo, ít người Việt,  càng gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt để giữ vững thành trì chống cộng, bảo về CĐ tự do. Họ là đáng quý lắm.

Nói về cống hiến, trong các năm qua thì nhiều lần LHNVC là BTC phải tự lo và cung ứng hết ( ví dụ về thức ăn, cờ xí, banners, .v.v).  Không ít tốn kém. Như cụ thể vào ngày Liên Hội tổ chức Tổng Biểu Tình ngày 5 tháng 3, 2017 tại Toronto ( xin xem dưới), ông MPH nhìn vào ông có thấy các cờ xí và banners to lớn bao nhiêu tiền, chưa kể ăn uống.... Dù ông MPH chưa bao giờ tổ chức 1 cuộc biểu tình quy mô, hay 1 lễ Thượng Kỳ quy mô? nhưng dù sao ai mà lại không hiểu là tốn kém và cực nhọc để tổ chức được vậy? Và giúp không ít cho CĐ tự do. Vậy mà ông dùng cái kiểu nói là LH lâu này chẳng làm gì!!! , nên cũng là 1 lý do mà hội ông không cần phải đóng niên liễm thành viên LH!!!
Bản thân tôi dù có lúc không đồng ý với ý kiến và việc làm của người này nhóm kia trong CĐ. Nhưng tôi thấy đâu đó nên rõ ràng. Không nên phủ nhận công lao của họ đã đóng góp.

Và thử hỏi cộng đồng Tự do của mình sẽ đi vào đâu với cái kiểu chà đạp của ông MPH, ông ta còn nói kiểu châm biếm làm như các đại diện hội đi họp cái này kia hay tham gia các tổ chức trên trường Quốc Tế, làm như đó là họ ngồi rỗi chẳng làm gì mà đi khoe khoang hay sao!  Ông nói vậy, là ông đang hủy hoại và đạp nát  thành trì CĐ tự do đó. Các vị lãnh đạo của các hội đoàn, ví dụ Liên Hội, các Hội Người Việt địa phương, UBYTPTDCQN, Việt Tân, Voice Canada, v.v.. đi họp các buổi họp Quốc Tế hay tham gia các tổ chức Quốc tế, thì không chỉ họ tốn thời gian, tốn sức khỏe, có khi tốn tiền riêng, nhưng đem lại tiếng nói cho CĐ Việt Canada, và góp phần cho CĐ Việt Tự Do hải ngoại, mình phải tri ân họ. Sao ông MPH lại nói kiểu vậy. 
Như ông TVĐ đại diện LHNVC tham gia : Điều trần Nhân Quyền với Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ và Cao Ủy Nhân Quyền tại Liên Hiệp Quốc ngày 7 tháng 8 vá Lễ Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế tại New York ngày 8 tháng 6 năm 2019.
Cám ơn ông TVĐ.

Ông MPH phản đối bầu cử LH 14 tháng 4, 2019, thì ông nói lên những gì ông nghĩ là vi phạm. Chứ ông lại móc ra chuyện cũ nói theo 1 chiều ý ông, rồi tệ hơn là hăng lên chà đạp người này người nọ. Công khai bày tỏ các cống hiến của các vị LH các năm qua như là rác. Là chuyện ông làm mà không thấy xấu hổ sao?
Cô Khuê Tú là lớp trẻ có nhiều cống hiến, niềm tự hào của CĐ Người Việt Canada. Nhưng cô ta có được bầu tại các cuộc bầu cử LH hay không là tùy theo các thành viên LH. Nhắn gởi cô Khuê Tú, mong cô cố gắng tham gia và tạo được hào khí cho các cuộc biểu tình chống đoàn cộng sản và cờ đỏ nghênh ngang lộng hành, ví dụ như tại lễ hội Surrey, BC 2019. Cám ơn cô.

Ông MPH kêu gọi chuyển lời ông khắp thế giới và dùng tiền đăng báo khi mà thoải mái viết theo ý mình!!!. Có chăng chỉ làm cho ông và nhóm ông thêm bị nhục, tạo thêm chia rẽ và phân tranh cộng đồng Tự Do, và người ta tránh xa Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân hơn nữa?

Tôi chỉ nêu lên các ý kiến riêng, kính mong tất cả cùng suy nghĩ.

Trân trọng

Nguyễn T. Hằng

Lễ trao giải thưởng Nhân quyền Việt Nam tại Ottawa, nhân ngày Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân quyền lần thứ 71, vào thứ bảy 7 tháng 12, 2019

posted Dec 9, 2019, 6:37 AM by Le Phan   [ updated Dec 9, 2019, 6:39 AM ]

Lễ trao giải thưởng Nhân quyền Việt Nam tại Ottawa

Mạng lưới nhân quyền Việt Nam được thành lập vào năm 2002 tại Little Saigon, California. Tổ chức tập hợp các cá nhân và đoàn thể tranh đấu và bảo vệ nhân quyền cho người dân Việt Nam dựa trên tinh thần của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và các văn kiện quốc tế khác. Tổ chức Visual Artists Guild đã trao tặng cho Mạng Lưới Nhân quyền Việt Nam giải thưởng Spirit of Tiananmen Award (Giải Tinh Thần Thiên An Môn).

Ngoài mục đích tuyên dương thành tích tranh đấu bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam, giải Nhân quyền Việt Nam (GNQVN) còn nhằm bày tỏ sự liên đới của người Việt khắp nơi đối với những cá nhân và đoàn thể đã và đang dấn thân bảo vệ quyền làm người của người dân Việt Nam.


Lễ trao GNQVN được tổ chức hàng năm vào dịp kỷ niệm Ngày Nhân quyền Quốc tế trong tháng 12 ở những địa phương khác nhau như Hoa Kỳ, Úc, Pháp... Tính tới năm nay 2019, Mạng Lưới Nhân Quyền đã trao giải thưởng 18 lần gồm bản tuyên dương và hiện kim khoảng $10,000 Mỹ kim cho mỗi năm.

Năm nay, lần đầu tiên giải được tổ chức tại Thượng Viện Canada, thành phố Ottawa nhờ Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải hỗ trợ và sự sắp xếp của Liên Hội Người Việt Canada. Nhân ngày Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân quyền lần thứ 71, vào thứ bảy 7 tháng 12, 2019, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đã tổ chức lễ trao giải thưởng cho ba nhà hoạt động xã hội ở Việt Nam là Mục sư Nguyễn Trung Tôn, nhà đấu tranh dân chủ Nguyễn Đặng Minh MẫnLuật Sư Lê Công Định. Ba nhà tranh đấu này đã bị Cộng Sản VN trù dập, tù đày, tra tấn nhiều năm nhưng vẫn luôn kiên quyết, can đảm bảo vệ và đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ dù cả gia đình, thân hữu phải chịu liên lụy, vu khống, đe dọa, triệt kế sinh nhai, hành hung, tù đày… Hiện vẫn còn rất nhiều nhà hoạt động khác đang bị cầm tù tại Việt Nam hoặc đã chết trong âm thầm vì lý tưởng. Được biết Việt Nam còn giam giữ khoảng 300 tù nhân lương tâm và biết bao dân oan, người bị đe dọa, khống chế, trù dập.

Việc xiển dương tinh thần đấu tranh cho dân sinh dân quyền của các nhà hoạt động này đã làm nhà cầm quyền Cộng Sản rất tức tối, sợ hãi, phải viết nhiều bài vở xuyên tạc, chống đối.

Vidéo YouTube


Riêng ngày trao giải thưởng Nhân Quyền ở Ottawa 7 tháng 12 đã được tổ chức thật tốt đẹp với các quan khách trong chính quyền Canada, đại diện Mạng lưới nhân quyền Việt Nam, các hội đoàn, đại biểu khắp nơi tới từ Hoa Kỳ, Edmonton, Sherbrooke, Montreal, Toronto, Ottawa, các vùng phụ cận và có cả thành viên nhóm “Anh Em Dân chủ” tại Việt Nam. Chương trình cũng đã được trực tiếp phổ biến qua mạng “livestream”, cũng như các hình ảnh và phim video được loan tải khắp nơi.

Sau nghi thức Chào Cờ, Tiến Sĩ Nguyễn Bá Tùng đã khai mạc chương trình nói về mục đính, ý nghĩa và kết quả của lần trao giải năm 2019. Sau đó các đại diện trong ban tổ chức đã chia sẻ các chi tiết về thân thế, quá trình tranh đấu của 3 người nhận giải bằng tiếng Anh và tiếng Việt cũng như tiếng Pháp. Vì không thể có mặt tại Ottawa, vợ của Mục Sư Nguyễn Trung Tôn, cô Minh Mẫn và Luật Sư Lê Công Định đã phải phát biểu qua đoạn phim video, chia sẻ lòng tri ân, cảm động và quyết tâm tiếp tục đấu tranh. Ba đại diện ở Canada cũng đã thay mặt nhận tấm bảng tuyên dương, giải thưởng và sẽ tìm cách chuyển về quê nhà cho 3 nhà đấu tranh dân chủ này.

Các quan khách đặc biệt đại diện chính quyền Canada như MP Pierre PoillievreChandra Arya, ông Ludwik Klimkowski - chủ tịch Hội Xây dựng Đài tưởng niệm nạn nhân Cộng sản thế giới tại Ottawa, Tribute to Liberty, TNS Ngô Thanh Hải, ông Vũ Hoàng Hải (nhóm 8406) đã lần lượt phát biểu, bày tỏ lòng ngưỡng mộ đặc biệt đến người đã được nhận giải thưởng, nói về ý nghĩa và sự hỗ trợ để có nhân quyền tại Việt Nam. Cuối cùng tiến sĩ Trương Minh Trí đại diện Liên Hội Người Việt Canada đã phát biểu kết thúc ngày trao giải và cảm ơn tất cả mọi người.

Chúng ta hãy tiếp tục để ngọn lửa tranh đấu cháy sáng mạnh hơn, ủng hộ tinh thần cho những người thay mặt chúng ta đối đầu với Cộng Sản, không biết sống chết lúc nào, để đấu tranh cho Công lý và Sự thật, góp phần giành lại đất nước. Mong rằng mỗi người khắp nơi đều cố gắng quan tâm, đóng góp công sức tiền bạc nhiều hơn nữa, để đồng bào bên quê nhà thấy ấm lòng vì sau lưng họ còn nhiều yểm trợ, quan tâm.

Tin và hình ảnh: Nguyễn Ngọc Duy Hân

TỪ THÀNH ĐÔ ĐẾN ĐÔ THÀNH : một lộ trình tái lập tự do & dân chủ

posted Nov 25, 2019, 7:43 PM by Le Phan

TỪ THÀNH ĐÔ ĐẾN ĐÔ THÀNH : 
một lộ trình tái lập tự do & dân chủ  
   

Tính tới 2020, hội nghị Thành Đô vừa tròn 30 năm. Tấm hình bên trái : bốn lãnh tụ Đảng Cộng sản Tầu - Việt nâng ly rượu ‘‘chúc mừng’’ Đảng Cộng sản Việt Nam bán nước cầu vinh. Bên phải là Đô Thành lúc còn mang tên Saigon, chưa bị thay trắng đổi đen. Từ Thành Đô đến Đô Thành, liệu cái tên đảo ngược có báo trước sự xoay chuyển tình hình ? 
Bài thuyết trình của chúng tôi gồm ba phần : 

I - Hội nghị Thành Đô (3 - 4/09/1990 tại Thành Đô, Tứ Xuyên) : tiến trình từ mất đất đến mất nước.
II - Mật ước Thành Đô vô hiệu tuyệt đối (nullité absolue), xét về quốc tế công pháp.
III - Đô Thành Saigon : viễn tượng tái lập tự do, dân chủ.

I - Hội nghị Thành Đô : 
1 - Tổng quan (Généralité) :     
1.1. Bối cảnh (contexte) : Hội nghị Thành Đô chỉ diễn ra trong hai ngày 3 và 4/09/1990, trong bối cảnh :
- 09/11/1989 : bức tường Bá Linh sụp đổ.
- 1990 : các nước cộng sản Đông Âu (Đức, Bulgarie, Ba Lan, Nam Tư, Albanie) lần lượt giải thể.
- 08/1991 : Boris Yeltsin ký sắc lệnh cấm đảng cộng sản Liên Xô hoạt động. 
- 26/12/1991 : Liên Xô giải thể. 15 nước cộng hòa trong Liên bang Xô viết lần lượt tuyên bố độc lập.
Năm 1666, thi sĩ John Dryden sáng tác bài thơ ‘‘Annus mirabilis’’, ngợi ca tháng năm tuyệt vời. Trên cục diện thế giới, các nhà nghiên cứu đã mệnh danh 1990 là annus mirabilis. Liệu năm 2020 có sẽ là annus mirabilis cho đất nước?  
1.2. Thành phần tham dự (Participants) : Hội nghị Thành Đô có nhiều điều khuất tất nên còn được gọi là Mật ước Thành Đô. Về phía Việt Nam có Nguyễn Văn Linh (Tổng Bí Thư) và Đỗ Mười (Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng). Phía Trung cộng có Giang Trạch Dân (Tổng Bí Thư), Lý Bằng (Thủ tướng Quốc vụ viện). 
1.3. Hậu quả (Conséquences) : 14 năm sau hội nghị Thành Đô, Hoàn Cầu Thời Báo và Tân Hoa Xã đưa tin :‘‘Trong khuôn khổ hội nghị Thành Đô, Việt Nam bày tỏ ý nguyện tự biến thành một khu tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh, như Trung cộng đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây, v.v. Phía Trung cộng đồng ý chấp  nhận thỉnh nguyện trên, và cho Việt Nam thời hạn 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.’’
- Hoàn Cầu Thời Báo (环球时报) cùng với Nhân Dân Nhật Báo (人民日报) là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Tầu. Như tên gọi (Global Times), tờ báo này phát hành năm 1993, tập trung vào các vấn đề quốc tế (như Hội nghị Thành Đô). 
- Tân Hoa Xã (新華社), tên tiếng Anh là Xinhua News Agency, là cơ quan thông tấn của chính phủ Tầu. Việc Trung cộng đưa tin mật ước Thành Đô qua báo chí chính thức của đảng (Hoàn Cầu Thời Báo) và hãng thông tấn của chính phủ (Tân Hoa Xã) tương ứng với các thành phần tham dự hội nghị Thành Đô : tổng bí thư (đảng) và thủ tướng (chính phủ).
Sau đây, ta sẽ xét xem tính đáng tin cậy của thông tin (fiabilité de l’information), bằng cách đối chiếu giữa các tài liệu và tin tức, trước và sau hội nghị Thành Đô. 

2 - Đối chiếu văn bản (comparaison de documents)
2.1. Các tài liệu (Recherche documentaire) :
2.1.1. Tài liệu của Xiaoming Zhang :
Xiaoming Zhang tốt nghiệp Đại học Nhân dân Bắc Kinh (1986), giám đốc Văn phòng Liên lạc của Trung Quốc tại Hồng Kông, viết sách về hội nghị Thành Đô nhan đề Deng Xiaoping's Long War: The Military Conflict between China and Vietnam, 1979-1991 (The University of North Carolina Press). 
Trong cuốn sách, tác giả đưa ra một số sự việc như sau :
- Ngày 05/06/1990, Nguyễn Văn Linh gặp đại sứ Trung cộng Trương Đức Duy (Zhang Dewei) tại Hà Nội. Linh tự nhận là học trò trung thành của Mao Trạch Đông, khẩn khoản xin được gặp các nhà lãnh đạo cộng sản Tầu.  
- Bắc Kinh ra chỉ thị cho Trương Đức Duy gặp riêng Nguyễn Văn Linh để biết thêm thỉnh nguyện (appeal) của Linh. Trung cộng ra điều kiện tiên quyết là Hà Nội phải lập tức rút quân khỏi Campuchia.
- Ngày 22/08/1990, Nguyễn Văn Linh lại gặp Trương Đức Duy, bày tỏ ý muốn viếng thăm Trung Quốc.
- Ngày 27/08/1990, Lý Bằng báo cáo với Đặng Tiểu Bình việc mời các nhà lãnh đạo Việt Nam sang Thành Đô, vì Bắc Kinh là địa điểm tổ chức Á Vận Hội 1990.
- Viên Lực Phong, giám đốc nhà khách Tỉnh ủy Tứ Xuyên (Kim Ngưu Tân quán) tiết lộ:  ‘‘Chúng tôi đã bố trí Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, mỗi vị ở riêng một biệt thự, nơi đó họ được hưởng thụ những làn da thu thủy nét xuân xanh, phục vụ nào là tẩm thất (1), thực đơn hảo hạng hợp khẩu vị, được hầu tận miệng, ăn ít bổ nhiều, thư giãn bằng tẩm quất (2) toàn thân và xem một vài video có tính kích dục, hầu như ba vị không từ chối cách phục vụ này, tất nhiên họ sống không khác nào hoàng đế phong kiến. 48 giờ trôi qua vừa họp mệt nhoài cho nên họ chú ý hưởng thụ, cũng vừa có lý do để cách ly ba vị ấy, không còn thời gian để hội ý trước khi Hội nghị’’. 
Chú thích : 
(1) tẩm thất (寑室) : tẩm (寑) : ngủ ; thất (室) nghỉ ngơi.
(2) tẩm quất : án 按 : bấm ; ma (摩) : xoa. Xoa bóp toàn cơ thể.

- Trong hội nghị Thành Đô, Giang Trạch Dân nói rõ các sai trái về phía Việt Nam. Nguyễn Văn Linh ‘‘thú nhận đã đi theo một chính sách sai lầm’’.
 

- ‘‘Sau buổi họp kéo dài đến hôm sau, các nhà lãnh đạo Việt Nam đầu hàng. Giang Trạch Dân trích dẫn một bài cổ thi : ‘‘chỉ cần một nụ cười là ân oán tiêu tan’’ : 
度尽劫波兄弟在
相逢一笑泯恩仇
(Độ tận kiếp ba huynh đệ tại
Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu)
- Tác giả Xiaoming Zhang còn nhắc lại việc người Tầu trích dẫn cổ thi:  
有奶便是娘
(Hữu nãi tiện thị nương)
để trách cứ các lãnh tụ cộng sản Việt Nam từng bú vú (nãi 奶: vú) cộng sản Tầu cộng mà vô ơn bạc nghĩa.
- Giang Trạch Dân soạn thảo văn kiện đàm phán bí mật, lấy tên là ‘‘Kỷ yếu Thành Đô 1990’’. Kỷ yếu này ấn định lịch trình sáp nhập Việt Nam vào Trung Quốc. Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười đã ký vào "Kỷ yếu Thành Đô 1990"

2.1.2. Tài liệu của Wikileaks :
Các thông tin của Xiaoming Zhang được Wikileaks xác nhận. Wikileaks là tổ chức phi chính phủ, do Julian Assange thành lập năm 2006, nhằm công bố các tin mật trên quy mô toàn cầu. 
Wikileaks đã đưa ra biên bản hội nghị Thành Đô ngày 3-4/09/1990.  
Tài liệu của Wikileaks bao gồm 3100 công điện ngoại giao của Sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội gửi chính phủ Hoa Kỳ. Nội dung chính của tài liệu như sau :
“… Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do chủ tịch Mao Trạch Đông và chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ. 
‘‘Việt Nam sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung Quốc để Việt Nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây. 
‘‘Phía Trung Quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho Việt Nam thời hạn 30 năm (1990-2020), để đảng cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.

Tài liệu trên đây của Wikileaks đã xác nhận tin tức của Hoàn Cầu Thời Báo và Tân Hoa Xã.

2.2. Đối chiếu văn bản (comparaison de documents):
2.2.1. Hồi ký của Thứ trưởng Ngoại giao Hà Nội Trần Quang Cơ : Thứ trưởng Trần Quang Cơ viết về hội nghị Thành Đô như sau:
- ‘‘Nhìn lại trong cuộc gặp Thành Đô, ta đã mắc lỡm Trung Quốc ít nhất ba điểm :
(…) Trung Quốc nói giữ bí mật việc gặp cấp cao hai nước, nhưng ngay cuộc gặp, hầu như tất cả các nước đã được Trung Quốc trực tiếp hay gián tiếp thông báo nội dung chi tiết thỏa thuận Thành Đô theo hướng bất lợi cho ta.’’
- Ngoài ra, ông Trần Quang Cơ còn trích dẫn ý kiến của Võ Văn Kiệt : ‘‘Trong thâm tâm tôi, tôi không đồng ý có anh Tô (Tô là bí danh của Phạm Văn Đồng) trong đoàn đi Thành Đô. Nếu có gặp anh Đặng (Đặng Tiểu Bình) thì anh Tô đi là đúng. Tôi nói thẳng là tôi xót xa khi biết anh Tô đi cùng anh Linh và anh Mười chỉ để gặp Giang và Lý, không có Đặng. Mình bị nó lừa nhiều cái quá. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy.’’  

Tài liệu trích dẫn ý kiến của Võ Văn Kiệt cho rằng Việt Nam đã bị Trung Cộng ‘‘lừa’’ khi yêu cầu Phạm Văn Đồng phó hội, trong khi vắng mặt đồng sự (cùng chức vụ cố vấn) là Đặng Tiểu Bình. Sự việc này chứng tỏ :
- Trung Cộng coi thường phái đoàn Việt Nam.
- Trung Cộng tin cậy vào quá trình bán nước, thân Tầu của Phạm Văn Đồng nên muốn Đồng có mặt trong phái đoàn bán rẻ đất nước. Đồng từng có tên Tầu Lâm Bá Kiệt, là phó chủ nhiệm cơ quan biện sự tại Quế Lâm (Quảng Tây). Lâm (林) cùng với Hứa (許) đều là họ người Tầu ở Phúc Kiến. Ngoài ra, Phạm Văn Đồng còn là tác giả công hàm bán nước ký ngày 14/09/1958 gửi ‘‘đồng chí tổng lý’’ Chu Ân Lai, tán thành tuyên bố ngày 04/09/1958 của Trung Cộng về hải phận. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng công hàm của Phạm Văn Đồng đương nhiên công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo trên biển Đông (mà Tầu gọi là Nam hải). Theo quốc tế công pháp, việc đương nhiên công nhận (reconnaissance implicite) phát sinh những hậu quả pháp lý.
Trong tài liệu trích dẫn, hai nhà lãnh đạo đảng là Trần Quang Cơ (ủy viên trung ương đảng) và Võ Văn Kiệt (tên thật là Phan Văn Hòa, bí thư : Sáu Dân - ủy viên bộ chính trị đại hội VIII) tuyên bố thẳng thừng :
- ‘‘Ta mắc lỡm Trung Quốc’’ (Trần Quang Cơ).
- ‘‘Việt Nam đã bị Trung Quốc lừa. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy.’’ (Võ Văn Kiệt).
Ngày nay, việc sinh viên học sinh trong nước biểu tình phản đối Trung Cộng là chính đáng. Tại sao họ lại bị đảng ra lệnh cho công an bắt bớ, chỉ thị cho tòa án nhân dân kết tội ?

2.2.2. Kiến nghị của một số cựu sĩ quan cao cấp : Năm 2014, 20 cựu tướng lãnh, trong đó có cựu trung tướng Lê Hữu Đức, các cựu thiếu tướng Trần Minh Đức, Huỳnh Đắc Hương, Lê Duy Mật, Bùi Văn Quỳ và Nguyễn Trọng Vĩnh viết kiến nghị ngày 02/09/1914 gửi Trương Tấn Sang (chủ tịch Nước) và Nguyễn Tấn Dũng (thủ tướng) yêu cầu công khai mật ước Thành Đô, nhưng không được trả lời. Tại sao Đảng Cộng sản Hà Nội lại giữ yên lặng ?
Hiệp định Thành Đô mở đầu tiến trình từ mất đất đến mất nước.

3. Các hậu quả của hội nghị Thành Đô (les conséquences des accords secrets de Chendu): 
3.1. Về phía Trung Cộng : 
- Một năm sau hội nghị Thành Đô (11/1991), tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân đưa ra thập lục tự phương châm (十六字方针) nhằm thúc đẩy việc nước Việt trở thành một khu tự trị của Tầu:

Sơn thủy tương liên,
Lý tưởng tương thông,
Văn hóa tương đồng,
Vận mệnh tương quan.

山 水 相 連
理 想 相 通
文 化 相 同
運 命 相 關

Tháng 11/2000, tổng bí thư Tầu cộng Giang Trạch Dân và tổng bí thư Việt cộng Nông Đức Mạnh ký tên vào thập lục tự kỳ II do họ Giang soạn thảo, định hướng cho việc Việt Nam trở thành một khu tự trị trực thuộc Trung Quốc.

Trường kỳ ổn định
Diện hướng vị lai
Mục lân hữu hảo
Hợp tác toàn diện
长期稳定
面向未来
睦邻友好 
全面合作 
Tôi mạn phép đối lại bằng thập lục tự cáo giác  (十六字告覺), chỉ dùng vần trắc để nói lên sự phẫn uất của dân Việt trước việc Tầu cộng từng bước thôn tính nước ta.
 
Cộng tặc mại quốc
Đồ bản Đông hải
Trung Quốc thôn phục 
Sơn hà nguy cấp !

共 賊 賣 國  
圖 版 東 海 
中 國 吞 服 
山 河 危 急

Giặc cộng bán nước 
Đất đai biển cả
Trung Quốc nuốt trửng
Sơn hà nguy cấp !

Cùng với thập lục tự phương châm, họ Giang chỉ thị cho đảng cộng sản Việt Nam soạn thảo hiến pháp mới, chuyển từ chống đối Tầu đến thần phục Trung Cộng.

3.2. Về phía Việt Nam : Hai năm sau hội nghị Thành Đô (1992), Việt Nam sửa đổi hiến pháp, không còn các ngôn từ gay gắt chống Trung Cộng. Điều 14 chương I viết như sau : “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi…”

Quy định trên đây ghi trong hiến pháp 1980 mở đầu việc Hà Nội ký một loạt các văn kiện bán nước, mở cửa cho Tầu cộng xâm nhập, thôn tính nước ta. 

3.3. Các hiệp ước bất bình đẳng (traités inégaux) : Tôn Dật Tiên đã coi toàn bộ các hiệp ước mà nước Tầu đã ký với các nước tây phương vào thế kỷ XIX là ‘‘hiệp ước bất bình đẳng’’ (不平等条约). Hiệp định Thành Đô đã lập lại kịch bản này, đưa đến việc bán đứng chủ quyền đất nước, xét về phương diện quốc tế công pháp.  
Dưới các triều đại quân chủ, quốc vương nước ta thường gửi sứ bộ tiến cống Bắc triều. Cống vật gồm 200 lượng vàng, 1000 lược bạc, 100 cây lụa, 2 bộ sừng tê giác, 100 cân ngà voi, 100 cân quế, nhưng giữ nguyên bờ cõi.
Ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam thần phục Tầu cộng, cống vật là đất đai, hải đảo, giang sơn gấm vóc do cha ông để lại.

3.3.1. Hai hiệp định về biên giới và lãnh hải:
- Ngày 30/12/1999, tại Hà Nội, bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm và bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng Đường Gia Truyền (Tang Jianxuan) ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc. Quốc hội Bắc Kinh thông qua ngày 29/04/2000, Quốc hội Hà Nội thông qua ngày 09/06/2000. 
‘‘Đặc biệt khi thông qua hiệp ước về biên giới này, chỉ một số lãnh đạo cấp cao trong quốc hội được đọc nội dung hiệp ước, còn đại đa số dân biểu không biết gì cả, chỉ thông qua theo lệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi.’’ (Người Việt Online ngày 25/01/2002).
Theo hiệp định ngày 30/12/1999, Việt Nam bị mất nhiều đất dọc theo biên giới Việt-Hoa, cụ thể là đèo Nam Quan và ải Nam Quan. 
Đại Việt Sử Ký Toàn thư chép rằng năm 1407, khi Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt sang Tầu, Nguyễn Trãi tiễn biệt cha ở cửa ải Nam Quan. 

- Ngày 25-12-2000, bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên sang Bắc Kinh ký với bộ trưởng Ngoại giao Đường Gia Truyền Hiệp ước phân định lãnh hải, phân chia quyền lợi trên vịnh Bắc Việt, có chủ tịch Trần Đức Lương và chủ tịch Giang Trạch Dân chứng kiến. Ngày 15/06/2004, quốc hội phê chuẩn hiệp ước, có hiệu lực từ 30/06/2004. 
Vịnh Bắc Việt rộng 123700 km². Theo sự phân chia lãnh hải với nhà Thanh (26/06/1887), Việt Nam được 62%, còn Trung Hoa được 38%. Theo hiệp định ngày 25/12/2000, Việt Nam chỉ còn 53.23%, Trung Cộng : 46.77%.
Việt Nam mất trên 8% diện tích vịnh Bắc Việt, tương đương khoảng 10000 km² mặt biển. 

3.3.2. Vụ nhường cho Tầu cộng khai thác bauxite ở Tây nguyên :
Việc thi hành mật ước Thành Đô đưa đến việc Đảng Cộng sản Việt Nam cho Tầu khai thác quặng bauxite ở tỉnh Đắc Nông. Tỉnh Đắc Nông thành lập năm 2004, tách ra từ tỉnh Đắc Lắc, có 6 mỏ bauxite rộng 1971 km², chế biến thành alumina, ký hiệu hóa học là Al203. Cứ hai tấn bauxite thì chế được 1 tấn alumina giá USD 350/tấn, còn lại là bùn đỏ (red-mud) tác hại trực tiếp đến dân cư sinh sống tại Đắc Nông, gián tiếp đến nguồn sông Đồng Nai và Serepok, gây ô nhiễm đến hạ nguồn. Cờ đỏ thì tiêu diệt được, chứ bùn đỏ sẽ còn mãi, biến mảnh đất mầu mỡ Tây nguyên trở thành tử địa (terra mortuum).

Trong khuôn khổ hiệp định Thành Đô, ngoài việc khai thác bauxite, đảng cộng sản Việt Nam còn dâng cho Tầu ‘‘hợp đồng trọn gói’’ (EPC : Engineering, Procurement, Construction) độc quyền khai thác điện, kim loại, hóa chất v.v.

3.3.3. Người Tầu ồ ạt sang Việt Nam mua nhà cửa : Hội nghị Thành Đô mở cửa cho người Tầu sang Việt Nam làm ăn buôn bán, mua nhà cửa, đất đai.
Bình Dương chỉ cách Saigon 30 km, hơn 50 % dân số Bình Dương là dân nhập cư, đa số là Tầu cộng. Họ tập trung vào khu thương mại Đông Đô Đại Phố. Cứ đến lễ quốc khánh của Tầu, dân Tầu ở Bình Dương lại treo cờ Trung cộng la liệt trên khắp đường xá. Cũng ở Bình Dương, Tầu cộng có khu du lịch Đại Nam lớn nhất Đông Nam Á, mở song bài vét sạch tài sản những người có máu mê cờ bạc. 

Theo thống kê chính thức năm 2009, có 82307 người Tầu sinh sống ở Việt Nam. Sau 10 năm, con số này tăng gấp hơn 10 lần. Họ mở sòng bài ở Đà Nẵng, mua nhà cửa ở Nha Trang, kinh doanh ở Saigon v.v.

3.4. Việc thiết lập các đặc khu kinh tế :
Ngày 22-3-2017, bộ chính trị chuyển qua quốc hội “Thông báo kết luận của bộ chính trị” về việc xây dựng các đơn vị hành chánh kinh tế đặc biệt, gọi tắt là đặc khu:
  
   

Lệnh của bộ chính trị gồm 6 điều, trong đó điều 5 giao cho quốc hội soạn thảo và thông qua luật đặc khu. 
Bộ chính trị là cơ quan lãnh đạo đảng có quyền lực cao nhất, không ghi trong hiến pháp, chi phối quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất. Vậy mà bà Nguyễn Thị Kim Ngân, chủ tịch quốc hội phát biểu trong phiên họp ban thường vụ quốc hội ngày 16/04/2018: “Bộ chính trị đã kết luận rồi, dự thảo luật không trái Hiến pháp, phải bàn để ra luật chứ không không thể không ra luật.” (Vietnam Economy, ngày 16-4-2018.). 
Dự luật đơn vị hành chánh kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, gọi tắt là luật đặc khu, dự tính nhường đất cho Tầu cộng trong 99 năm. 
Ngày 12/06/2018, quốc hội dự định chung quyết dự luật.
Ngày 10/06/2018, biểu tình phản đối ở Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, Đà Nẵng, Nha Trang, Bình Thuận, Sài Gòn, Bình Dương, Mỹ Tho. Riêng tại Bình Thuận, cuộc biểu tình trở nên bạo động.
Cũng ngày 10/06/2018, người Việt hải ngoại nhất loạt đồng tổ chức biểu tình phản đối hai dự luật bán đất cho Trung Cộng, có giá trị đến thế kỷ 22, tại tất cả các thủ đô và thành phố lớn các nước trên khắp thế giới, từ Mỹ Châu, qua Âu Châu, Á Châu và Úc Châu.
Trước cao trào phản đối của đồng bào trong và ngoài nước, ngày 12/06/2018, quốc hội hoãn biểu quyết luật đặc khu. 

3.5. Dự án thiết lập đường cao tốc:
Dự án thiết lập đường bộ cao tốc bắc - nam trong số các thỏa thuận giữa Tầu cộng và Việt cộng tại Thành Đô. Đường cao tốc dài 1811 km, nối liền từ Pháp Vân (Hà Nội) đến Chà Và (Cần Thơ), đi qua Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Nha Trang, Phan Thiết, Dầu Giây, Long Thành, Bến Lức, Trung Lương, Mỹ Thuận. Việc thực hiện cao tốc khiến Việt Nam trở thành con nợ lâu dài của Tầu cộng. 
Ngoài ra còn dự án đường sắt cao tốc bắc - nam dài 1545 km. Theo ông Võ Đại Lược, nguyên viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, ‘‘ngân sách nhà nước còn khó khăn, nợ công cao, nếu thực hiện đường sắt cao tốc với tổng vốn lên tới 58,7 tỷ USD, phần lớn đi vay, sẽ tạo áp lực rất lớn cho ngân sách.’’
Việt Nam vay nợ Tầu cộng với lãi suất cao. Mặt khác, Tầu muốn thực hiện thực hiện dự án này, phù hợp với chủ trương ‘‘Nhất đới nhất lộ’’ ( 一带 一路) do Tập Cận Bình đưa ra. Ta cần ghi nhận việc Tầu cộng không tán thành việc mở mang đường hàng hải bắc - nam mà Việt Nam có lợi thế, vì muốn độc quyền biển Đông.
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, đại sứ Hà Nội tại Bắc Kinh từ 1987 đến 1974,  cảnh báo nhà cầm quyền về cạm bẫy của Tầu cộng : ‘‘Vay tiền của Trung Quốc và để Trung Quốc vào làm đường cao tốc Bắc - Nam thì đại đa số người dân không đồng tình, do đó phải suy nghĩ lại. Thời gian kéo dài, sử dụng một lượng nhân lực lớn rải khắp mặt tiền của nước ta, vậy nghĩa là gì? Sẽ có biết bao nhiêu người Trung Quốc cả có phép lẫn không phép, cả dân sự lẫn quân đội trà trộn vào? Phía Việt Nam đã từng ký bao nhiêu hợp đồng lỏng lẻo, dại dột với Trung Quốc để cho họ tự tung tự tác lấn át chủ quyền của ta ?’’ 
Trên đây là danh sách không đầy đủ (liste non exhaustive) những hậu quả khôn lường của hiệp ước Thành Đô mà Việt Nam phải gánh chịu. Liệu năm 2020, Việt Nam có thể biến thành một tỉnh tự trị hay không ? 

II - Giá trị pháp lý của mật nước Thành Đô  (Valeur juridique des accords secrets de Chengdu en droit international public) :
Vào năm 1990, hội nghị Thành Đô họp tại Thành Đô (Tứ Xuyên). Theo sự sắp đặt của Tầu, Việt Nam có Nguyễn Văn Linh (tổng bí thư) và Đỗ Mười (chủ tịch hội đồng bộ trưởng). Phía Trung Quốc có Giang Trạch Dân (tổng bí thư) và Lý Bằng (thủ tướng), cùng ký vào mật ước. Bắc Kinh cho rằng có chữ ký cấp chính phủ sẽ phát sinh hiệu lực pháp lý (création d’effets juridiques), bắt buộc Việt Nam phải thi hành. Trung cộng khôn mà không ngoan, vì không biết rằng mật ước chịu sự chi phối của luật quốc tế (régi par droit international). Mật ước Thành Đô trở nên vô hiệu tuyệt đối (nullité absolue), căn cứ vào : 
- mục 2 : sự vô hiệu của các hiệp ước (nullité des traités) ; 
- điều 46 của công ước Vienna về quy chế của các hiệp ước (convention Vienne sur le droit des traités) ký ngày 23/05/1969, có hiệu lực ngày 27/01/1980. Quốc hội Việt Nam có trách nhiệm thông báo cho Trung Quốc sự vô hiệu này. Việc thông báo không có thời tiêu (pas de délai de prescription). Sau đây là bốn sai phạm (vices - danh từ pháp luật VNCH trước 1975 : hà tì) khiến mật ước Thành Đô trở nên vô hiệu tuyệt đối :

Sai phạm 1 : Mật ước Thành Đô vi phạm hiến pháp Việt Nam. 
Theo luật gia Hans Kelsen (1881-1973), hệ cấp các quy phạm (hiérarchie des normes) được quy định như sau :
- tính hợp hiến (constitutionnalité) ;
- tính cách hiệp ước, mật ước (conventionnalité) ; 
- tính hợp pháp (légalité).
Điều 3 khoản 1 luật về điều ước quốc tế số 180/2016/QH13 ngày 09/04/2016 của Việt Nam đã quy định ‘‘nguyên tắc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế phải không trái với hiến pháp’’. 
Vào thời điểm ký kết mật ước Thành Đô (03-04/09/1990), hiến pháp 1980 của Việt Nam vẫn còn hiệu lực. “Lời nói đầu” của hiến pháp 1980, chống bá quyền Trung cộng viết nguyên văn như sau: “Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến bảo vệ tổ quốc chống bọn phản động Cam-pu-chia ở biên giới Tây-Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình.” 

Sai phạm 2 : Viên chức ký kết vô thẩm quyền
- Theo điều 7 công ước Vienna, người ký kết phải có đủ thẩm quyền (pleins pouvoirs). 
- Theo điều 4 luật số 180/2016/QH13 ngày 09/04/2016 về điều ước quốc tế,  điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước trong các trường hợp sau đây:
a) Điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký với người đứng đầu Nhà nước khác;
b) Điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Vì nội dung mật ước Thành Đô liên quan đến chủ quyền quốc gia nên người ký kết phải là chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Vào thời điểm ký kết mật ước, chủ tịch Hội đồng Nhà nước là Võ Chí Công (giữ chức vụ từ 1984 đến 1992). Chữ ký của Đỗ Mười là vô giá trị. 
 
Sai phạm 3 : Mật ước Thành Đô không được Quốc hội phê chuẩn.
Theo điều 18 luật tổ chức quốc hội số 57/2014/QH13 ban hành ngày 20/11/2014, quốc hội có thẩm quyền phê chuẩn điều ước.
Theo điều 2 khoản 8 luật về điều ước quốc tế, ‘‘phê chuẩn là hành vi pháp lý do Quốc hội hoặc Chủ tịch Nước thực hiện để chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đã ký đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam’’.
Vì mật ước Thành Đô không được quốc hội hoặc chủ tịch Nước phê chuẩn nên không phát sinh hiệu lực ‘‘ràng buộc’’ đối với Việt Nam. 

Sai phạm 4 : Mật ước Thành Đô ký kết bởi các viên chức đã nhận hối lộ :
Điều 50 công ước Vienna quy định việc viên chức ký kết nhận hối lộ (corruption du représentant d’un État) khiến mật ước Thành Đô trở nên vô hiệu.
Viên Lực Phong, giám đốc nhà khách Tỉnh ủy Tứ Xuyên (Kim Ngưu Tân quán) cáo giác việc hối lộ nguyên văn như sau  ‘‘Chúng tôi đã bố trí Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, mỗi vị ở riêng một biệt thự, nơi đó họ được hưởng thụ những làn da thu thủy nét xuân xanh, phục vụ nào là tẩm thất, thực đơn hảo hạng hợp khẩu vị, được hầu tận miệng, ăn ít bổ nhiều, thư giãn bằng tẩm quất toàn thân và xem một vài video có tính kích dục, hầu như ba vị không từ chối cách phục vụ này, tất nhiên họ sống không khác nào hoàng đế phong kiến. 48 giờ trôi qua vừa họp mệt nhoài cho nên họ chú ý hưởng thụ, cũng vừa có lý do để cách ly ba vị ấy không còn thời gian để hội ý trước khi Hội nghị’’ (tài liệu đã dẫn). 

Chỉ cần một sai phạm cũng khiến mật ước trở thành vô hiệu. Mật ước Thành Đô có tới bốn sai phạm. Bằng chứng hối lộ do Tầu đưa ra cùng với ba sai phạm vừa nói chứng minh mật ước Thành Đô là vô hiệu tuyệt đối (nullité absolue) xét về công pháp quốc tế, không thể thi hành được.
Quốc hội Việt Nam có trách nhiệm thông báo cho Trung cộng : 
Vì mật ước Thành đô không có hiệu lực pháp lý nên không có việc Việt Nam bị sáp nhập vào Trung Quốc, trở thành một khu tự trị vào năm 2020.

III - Đô thành Saigon : viễn tượng tái lập chủ quyền cho đất nước (Préfecture de Saigon: la perspective du rétablissement de la souveraineté vietnamienne) ;  
Saigon là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa. Dưới chế độ VNCH, Việt Nam không bị mất một tấc đất nào cho ngoại bang. 

Về các quần đảo trong biển Đông, bộ Hồng Đức Bản Đồ soạn năm 1467 vẽ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đại Nam Nhất Thống Bản Đồ (1838) cũng ghi rõ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc lãnh thổ nước Đại Nam.
- Ngày 13/07/1961, tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 174-NV ấn định quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam. 
- Ngày 22/08/1956, tầu HQ-04 của Hải Quân VNCH dựng cờ và bia chủ quyền tại Trường Sa. 
- Tổng thống VNCH ký sắc lệnh số 143-NV ghi rõ Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy.

Công hàm bán nước ngày 14/09/1958 của Phạm Văn Đồng mở đường cho Tầu cộng xâm chiếm Hoàng Sa ngày 14/02/1974. 
Việc đối chiếu giữa công hàm của Phạm Văn Đồng và công văn của Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc chứng minh chỉ có chế độ VNCH thực sự bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. 
 
   

Vì chế độ cộng sản bán rẻ đất đai và hải đảo của tổ tiên cho ngoại nhân, việc tái lập chế độ VNCH, không phải là nhân sự VNCH, trở nên cấp bách. 

Tái lập VNCH là tái lập Nhà nước pháp quyền (État de droit), cũng như rule of law của Hoa Kỳ - Canada, Rechtsstaat của Đức. Đặc tính chung là Nhà nước chịu sự chi phối của pháp luật. Nếu các lãnh đạo chánh phủ phạm tội cũng bị xét xử như mọi công dân khác. 

Nhà nước pháp quyền khác hẳn chế độ độc tài cộng sản (mà đảng mập mờ, đánh lận con đen, gọi là chuyên chính) : đảng chỉ thị cho quốc hội làm luật, ra lệnh cho công an tác yêu tác quái.

Việc tái lập chế độ cộng hòa có nghĩa là đất nước gắn bó với các nguyên tắc tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, các quyền tự do căn bản và luật pháp  (attachement aux principes de la liberté, de la démocratie, du respect des droits de l’homme et des libertés fondamentales et de l’état de droit). Các nguyên tắc này phải được thể hiện trong các sinh hoạt thường ngày, không chỉ là bánh vẽ mị dân ghi trong hiến pháp, xa rời thực tế

Tượng đài Bà Mẹ Thuyền Nhân giữa lòng Ottawa, thủ đô Canada, nhắc lại việc ra đi tìm tự do của tất cả chúng ta. Rồi sẽ có ngày Bà Mẹ Thuyền Nhân trở về đất nước, lấy lại tự do dân chủ đã bị cộng sản tước đoạt.

Để kết luận cho bài nói chuyện này là bài thơ viết tặng tất cả người Việt tự do trên đất nước Canada : 


Bà Mẹ Thuyền Nhân
 
Mẹ Việt Nam còn vất vả ngược xuôi,
Mắt lo buồn chạy tất tả khôn nguôi :
Ngô, sắn, khoai ; chồng tập trung cải tạo 
Vượt núi rừng Việt Bắc đến thăm nuôi.

Bồng bế con, biển khơi sóng chập chùng
Quê hương ta nhuộm máu đỏ bần cùng
Nghĩ  suy hoài :‘‘Tự do hay là chết’’ ?
Còn kẹt lại, tương lai quá mịt mùng !

Trong bão tố, sóng vùi dập nhấp nhô
Nước hết rồi, dòng sữa cũng cạn khô 
Rơi nước mắt, mẹ nhìn con thoi thóp
Trời hộ phù, thuyền cặp bến tự do.

Trên tượng đài mẹ vẫn mãi ngóng trông
Ottawa niềm mong ước trong lòng
Con thơ bé nay công thành danh toại 
Canada : đất nước đã cưu mang.

 

Ottawa, ngày 16/11/2019

Cập nhật hoá Dự Án của Đại Học Carleton - Updates on the Carleton University Project

posted Nov 19, 2019, 5:27 AM by Le Phan   [ updated Nov 19, 2019, 5:49 AM ]


Kính gửi quý vị đồng hương,

Trong 9 tháng vừa qua, chúng tôi đă hoàn tất 126 cuộc phỏng vấn cho Dự án Trái Tim Tự Do của Đaị Học Carleton nhằm nghiên cứu các câu chuyện của người tị nạn Việt, Miên, Lào đã đến Canada giữa những năm 1975-85 và hiện đang sinh sống ở Ottawa, Montréal, Toronto, Kitchener, Hamilton, Kingston, và Winnipeg.  Có 55 người tị nạn Việt Nam nằm trong số 126 người được phỏng vấn. 

Kính mời quý vị xem các cuộc phỏng vấn, tin tức, tài liệu, các ủy ban (phỏng vấn, quản lý, nghiên cứu) trên trang song ngữ Hearts of Freedom (HOF) này và xin giúp phổ biến.

Chúng tôi đang gây quỹ cho Dự Án để có phương tiện bổ sung thêm những cuộc phỏng vấn ở vùng Tây của xứ Canada (mục đích $21,000). Nếu bạn hoặc thân hữu của bạn quan tâm đến việc nầy, chúng tôi kêu gọi bạn ủng hộ tài chánh.  Xin xem trang Đề mục "Donate" để biết thêm chi tiết. 

Thành thật cám ơn quý vị.
Nguyễn Thị Bạch Mai, Điều hợp viên của cộng đồng người Việt. 
https://heartsoffreedom.org/ 


Dự án nghiên cứu quan trọng của Đại Học Carleton.
Tham gia để ghi lại lịch sử chuyến đi tị nạn của bạn. 

Dự án nghiên cứu này mang tên "Lịch sử tị nạn người Đông Dương của Canada: Hearts of Freedom" nhằm ghi lại kinh nghiệm của những người tị nạn trốn khỏi quê hương và đến Canada trong khoảng thời gian 1975-1985 sau khi chiến tranh Đông Dương được kết thúc.  Dự án cũng ghi lại câu chuyện của người Canada chào đón người tị nạn đến Canada như thế nào. Để rõ chi tiết hơn, xin mời đọc bản tin dưới đây bằng tiếng Pháp & tiếng Anh.

Kính mời sự tham gia của những người tị nạn Việt Nam đến Canada trong thập niên 1975-85 với chuỗi ngày thê thảm trên bước đường tị nạn trốn cộng sản. Nếu được, xin cho tên cùng số phone và email của những vị nào có thể nói được tiếng Anh, Pháp (hoặc con cái của họ có thể giúp dịch ra cho họ trong lúc phỏng vấn).

Project nầy dự định phỏng vấn 16 người tị nạn Việt Nam sống ở vùng Montréal trong tháng 4 & tháng 5 năm 2019 nầy, sau đó đến lượt 20 người tị nạn Việt Nam sống ở vùng Toronto.  Trong tương lai, có thể project sẽ nới rộng ra với các người tị nạn ở những vùng khác của Canada. 

Nhóm Việt Nam sẽ gồm Mai (người phối hợp), Uyên (người phỏng vấn)  & Hanh (người thu hình). 

Đây là các cuộc phỏng vấn đã được chấp thuận bởi người phỏng vấn Việt Nam vùng Ottawa đăng trên website Hearts of Freedom của Đại Học Carleton để mọi người tường.

Nếu thắc mắc gì, xin liên lạc với Bạch Mai Nguyễn qua e-mail <thibachmai.nguyen@carleton.ca> hoặc điện thoại số 613-722-1131.

Trân trọng,
Bạch Mai Nguyễn 
TM Đại Học Carleton


Invitation par courriel aux anciens Réfugié (e)s
Objet: Invitation à participer à un projet de recherche sue les expériences des réfugié (e)
Bonjour,

Mon nom est Bach Mai Nguyen. Je suis la coordonnatrice vietnamienne d’un projet de recherche associant les associations Cambodgiennes, Laotiennes et Vietnamiennes, l’Université Carleton, la Société historique de l’Immigration Canadienne (SHIC) et plusieurs musées. Les chercheurs de l’Université Carleton sont Colleen Lundy, Professeur Émérite, Allan Moscovitch, Professeur Émérite et Stephanie Stobbe, Professeur agrégé, Collège Menno Simons, Collège Mennonite Canadien, associé à l’Université du Winnipeg. 

Je vous écris aujourd’hui pour vous inviter à prendre part à l’étude intitulée Le projet de recherche sur l’histoire canadienne des réfugiés du Sud Est de l’Asie: Cœurs en liberté. L’étude vise à documenter les expériences des réfugiés qui ont fui leur pays d’origine et sont venus au Canada entre 1975-85 après la fin des guerres indochinoises, ainsi que celles des Canadiens qui les ont accueillis au Canada.

La raison d’être de ce projet
Le projet assurera la préservation des expériences de migration et d’établissement au Canada vécues par les réfugiés venus de Vietnam, le Cambodge, ou le Laos. Ces expériences serviront à éduquer les générations futures et feront partie du récit historique du Canada. Nous enregistreront des entrevues avec 90 réfugiés qui se sont établis au Canada durant les années 1975-1985, ainsi que 20 agents du gouvernement, d’organismes non-gouvernementaux et des groupes privés qui ont parrainé l’établissement des réfugiés venu du Sud Est de l’Asie. Nous nous servirons d’équipements audiovisuels pour enregistrer les entrevues, et préparerons un livre, des matériaux pédagogiques, un site web ainsi qu’un film documentaire.

Que vais-je invité à faire?
Si vous êtes d’accord de participer, nous vous demandons de:

• Participer à une entrevue d’une durée de 90 minutes dans un endroit qui convient à tous. Avant le début de l’entrevue, nous vous demanderons les informations suivantes : votre nom, date de naissance, votre adresse (ville & province), votre occupation et les dates d’engagement à des fins de statistiques. L’entrevue abordera : les conséquences des guerres pour vous et votre famille, les facteurs qui ont provoqué votre décision de quitter votre pays, ainsi que les détails de votre migration, votre établissement et votre intégration au Canada.

• L'entrevue sera enregistrée sur vidéo. Vous pouvez arrêter l'entretien à tout moment ou refuser de répondre à certaines questions. Vous aurez également l'occasion d'examiner une copie numérique de votre entretien pour vous assurer que vous êtes satisfait du résultat. Si vous choisissez de visionner la vidéo avant son utilisation, vous aurez 2 semaines pour demander la suppression de passages. Après votre examen, la copie intégrale révisée de l'entrevue sera placée aux Archives de l'Université Carleton. Une version révisée de l'entrevue apparaîtra sur le site web du projet. Cette version comprendra une explication textuelle du projet avant que la vidéo soit placée sur notre site Web.

• Une fois les modifications que vous demandez sont effectuées, des extraits de la vidéo de votre entrevue peuvent être utilisés dans un film documentaire, un livre et dans des expositions organisées par un ou plusieurs musées canadiens.

• Nous vous demanderons si vous avez des souvenirs, y compris des photos, mémoires / journaux et autres artefacts importants pour vos expériences que vous voudriez bien partager avec l'équipe de recherche.  Ces souvenirs seront numérisés, photographiés et reproduits pour les archives permanentes du projet et la création d’expositions au Musée canadien de l’histoire et au Musée de l’immigration au Quai 21.

• En guise de remerciement, vous recevrez un petit cadeau et une copie de l'entrevue modifiée.

Le protocole d'éthique de ce projet a été examiné et approuvé par le Comité d'éthique en recherche de l'Université Carleton - A. Si vous avez des problèmes d'éthique avec l'étude, veuillez contacter Bernadette Campbell, présidente, Comité d’éthique en recherche de l'Université Carleton - A (par téléphone au 613-520-2600, poste 2517 ou par courriel à l'adresse ethics@carleton.ca).

Si vous souhaitez participer à ce projet de recherche ou si vous avez des questions, n'hésitez pas à me contacter à l'adresse suivante :  thibachmai.nguyen@carleton.ca,  Tel : 613-722-1131.

Sincèrement,  
Thi Bach Mai Nguyen 


Email Invitation for Former Refugees
Subject: Invitation to participate in a research project on refugee experiences

Greetings,

My name is Bach Mai Nguyen and I am the Vietnamese Coordinator for a research project that is a partnership among the Cambodian, Laotian and Vietnamese Associations, Carleton University, the Canadian Immigration Historical Society (CIHS), and several museums. Carleton University researchers are Colleen Lundy, Professor Emeritus and Allan Moscovitch, Professor Emeritus. CIHS, and Stephanie Stobbe, Associate Professor, at Menno Simons College, a College of the Canadian Mennonite University in Winnipeg. 

I am writing today to ask you to participate in the study entitled The Canadian South East Asia Refugee Historical Research Project: Hearts of Freedom. The study aims to document the experiences of refugees who escaped their homelands and came to Canada between 1975-85 following the end of the Indochinese wars, as well as Canadians who welcomed them into Canada. 

What is the purpose of the study?
This study will ensure that the refugee and settlement experience of those people who came from Vietnam, Cambodia, or Laos will be preserved for generations to come and become part of Canada’s historical narrative. We will interview 90 people who came to Canada as refugees during the period from 1975 to 1985. We will record the interviews, and use what we learn to produce a book, educational materials, a web site to preserve the interviews, and a documentary film. 

What will I be asked to do?
If you agree to take part in the study, we will ask you to:

• Participate in a 90-minute interview at an agreed upon location. Prior to the interview we will ask you for some basic information such as your name, country of birth, and country of origin for statistical purposes. The interview questions will be in the following areas; the consequences of the war for you and your family; factors that encouraged you to leave your home, and the details of your migration journey; your settlement experience in Canada; and your life since arriving in Canada.

• The interview will be video recorded. You may stop the interview at any point or refuse to answer some questions. You will also have an opportunity to review a digital copy of your interview to ensure that you are satisfied with the result. If you choose to review the video prior to use, you will have two weeks to request that passages be removed. After your review the revised full copy of the interview will be placed in the Carleton University Archives. An edited version of the interview will appear on the website of the project. This version will include an introductory text explanation of the project.  before the video is placed on our website. 

• Once any changes you request have been made, extracts from the video of your interview may be used in a documentary film, a book and in exhibits organized by one of more Canadian museums. 

• We will ask if you have memorabilia, including photos, memoirs/journals, and other artifacts that are important to your story that you would you be willing to share with the research team so that they can be scanned or photographed and reproduced for the project’s permanent archives, and the creation of exhibits at the Canadian Museum of History and at the Museum of Immigration at Pier 21. 

• As a token of our appreciation, you will receive a small gift and a copy of the edited interview. 

The ethics protocol for this project has been reviewed and cleared by the Carleton University Research Ethics Board. If you have any ethical concerns with the study, please contact Dr. Bernadette Campbell, Chair, Carleton University Ethics Board-A (by phone at 613-520-2600 ext. 2517 or via email at ethics@carleton.ca).

If you would like to participate in this research project, or have any questions, please contact me at 613-722-1131 or thibachmai.nguyen@carleton.ca.

Sincerely, 
Bach Mai Nguyen 

Kính gửi quý vị đồng hương,

Trong 9 tháng vừa qua, chúng tôi đă hoàn tất 126 cuộc phỏng vấn cho Dự án Trái Tim Tự Do của Đaị Học Carleton nhằm nghiên cứu các câu chuyện của người tị nạn Việt, Miên, Lào đã đến Canada giữa những năm 1975-85 và hiện đang sinh sống ở Ottawa, Montréal, Toronto, Kitchener, Hamilton, Kingston, và Winnipeg.  Có 55 người tị nạn Việt Nam nằm trong số 126 người được phỏng vấn.    

Kính mời quý vị xem các cuộc phỏng vấn, tin tức, tài liệu, các ủy ban (phỏng vấn, quản lý, nghiên cứu) trên trang song ngữ Hearts of Freedom (HOF) này và xin giúp phổ biến

https://heartsoffreedom.org/category/vietnamese/

Chúng tôi đang gây quỹ cho Dự Án để có phương tiện bổ sung thêm những cuộc phỏng vấn ở vùng Tây của xứ Canada (mục đích $21,000).  Nếu bạn hoặc thân hữu của bạn quan tâm đến việc nầy, chúng tôi kêu gọi bạn ủng hộ tài chánh.  Xin xem trang Đề mục "Donate" để biết thêm chi tiết.   Thành thật cám ơn quý vi.

Nguyễn Thi Bạch Mai , Điều hợp viên của cộng đồng người Việt

Một người bạn trẻ tại Ottawa sẽ leo một cầu thang bằng thép gồm 1776 bậc để gây quỹ từ thiện cho United Way...

posted Oct 31, 2019, 11:37 AM by Le Phan   [ updated Nov 1, 2019, 2:23 AM ]

Một người bạn trẻ tại Ottawa sẽ leo 
một cầu thang bằng thép gồm 1776 bậc
để gây quỹ từ thiện cho United Way...


Cuối tuần này, một người bạn trẻ tại Ottawa sẽ làm một chuyện rất ngoạn mục. Anh Hiến sẽ chạy bộ lên tới đỉnh của tháp CN tại Toronto, muốn làm được chuyện này anh Hiến phải leo một cầu thang bằng thép gồm 1776 bậc dẫn lên đến tầng Skypod ở độ cao 447 m (1465 ft), tương đương bằng một tòa nhà 147 tầng, và đây là cầu thang cao nhất trên thế giới. Anh Hiến sẽ thi thố việc leo cầu thang để gây quỹ từ thiện United Way. Quỹ từ thiện United Way sẽ giúp cho những người hay những gia đình thiếu may mắn trong cuộc sống. Để giúp anh thực hiện được ước mơ này bằng cách mời quý vị đóng góp tiền vào trang của anh Hiến như sau

http://uwgt.convio.net/site/TR/CommunityEvents/General?px=1092206&pg=personal&fr_id=1230


“No kids should go to school hungry”. In 2 days, Hien will climb 1,776 steps by foot to the top of the CN tower to raise money for the United Way. We’re super excited! If you would like to support Hien, there’s still time to donate to the United Way. Below is the link to his page... 
Thank you all for your support!

http://uwgt.convio.net/site/TR/CommunityEvents/General?px=1092206&pg=personal&fr_id=1230

Chúc bạn thành công

the Marion Dewar Scholarship Fund (MDSF) Fundraising Dinner

posted Oct 31, 2019, 7:43 AM by Le Phan

The Marion Dewar Scholarship Fund (MDSF) 
Fundraising Dinner at the International Restaurant 
in Algonquin College on Wednesday November 6, 2019

Hello friends,

I'm writing to invite you to join me in attending the Marion Dewar Scholarship Fund (MDSF) Fundraising Dinner at the International Restaurant in Algonquin College on Wednesday November 6, 2019. 

This is the 11th year of the MDSF. Twenty-three deserving newcomer students have received this Scholarship to date. This link will provide you with information about the past recipients : https://ociso.org/mdsf-winners/
Supporting these young people who embrace and promote the values of inclusion and diversity brings hope to our community.

 Here's what we offer you with your $150.00 ticket purchase:
1) Great food accompanied by excellent wines, prepared by recognized Chefs directing Algonquin College's Culinary students
2) The good company of people who share your interest in supporting higher education for academically successful and community oriented newcomer students who demonstrate a need for assistance.
3) A charitable tax receipt of $100.00 per ticket.

More information about the event and how to purchase tickets is in this link:
https://ociso.org/mdsf-annual-fundraising-dinner/
(If you are unable to attend the dinner but would like to make a donation to support the Scholarship, the information is in the same link.)

It would be great to see you there. If you'd like, let me know and I can arrange for us to be seated together.
Feel free to contact me if you have any questions.

Warmest regards,
Barbara


GS. Lê Đình Thông – BÃI TƯ CHÍNH: nghĩ gì ? làm gì ?

posted Oct 21, 2019, 7:17 AM by Le Phan

BÃI TƯ CHÍNH: nghĩ gì ? làm gì ?

GS. Lê Đình Thông 


Bãi Tư Chính là địa danh riêng của nước ta. Bãi này rộng 33,88 km², từ trước 1975 đến nay được đặt trực thuộc tỉnh Bà Rịa. Bản đồ của Tầu ghi là 万安滩 (Vạn An than ->  than : bãi). Trong năm 1994, Việt Nam thiết trí hai đặt giàn khoan DK1/11, DK1/12. Năm 1995 thêm giàn khoan DK1/14. Ngoài ra, còn hai ngọn hải đăng cao 22 m, có độ chiếu 2 hải lý.

Tuy Bắc Kinh tự ý đặt tên cho bãi cạn này là Vạn An nhưng lại luôn khuấy động, gây bất ổn. Theo trang twitter ngày 10/07/2019 của giáo sư Ryan Martinson, Học viện Nghiên cứu Hàng hải Trung Quốc thuộc Đại Học Hải chiến Hoa Kỳ tại Newport, Rhode Island, tầu Hải dương Địa chất Bát Hào (Hai Yang Di Zhi Ha Hao) đã thực hiện hoạt động thăm dò địa chất ở vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam ở phía tây quần đảo Trường Sa, có các tầu chiến hộ tống, theo công lệnh của Cơ quan Khảo sát Địa chất Trung Quốc (China Geological Survey).

Ngày 19/07, tuyên bố của bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết : ‘‘Trong những ngày qua, nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc đã vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía nam Biển Đông. Đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNCLOS) 1982 mà Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên’’.

Ta nghĩ gì về những sự việc vừa kể ? Các suy nghĩ này phải chăng gợi ý một số hành động cần thiết để đối phó với tình thế ?

I – Bãi Tư Chính : nghĩ gì ?

Trong tháng 07/2019, trong vụ bãi Tư Chính, người ta chỉ đề cập đến yếu tố quân sự (tầu chiến Hoa Kỳ) mà bỏ qua khía cạnh chính trị. Thời sự ‘‘Bãi Tư Chính’’ hiện nay có khác gì bối cảnh lịch sử nước ta vào năm 1284 : đại quân nhà Nguyên 50 vạn binh lính từ phương Bắc, kết hợp với 10 vạn quân của Toa Đô từ Chiêm Thành, hai mặt giáp công thôn tính nước ta. Năm 1284, thượng hoàng Trần Thánh Tông triệu tập hội nghị Diên Hồng tại kinh thành Thăng Long để trưng cầu dân ý. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, quyển 5, trong hội nghi, các vị phụ lão đồng thanh hô vang ‘‘Đánh’’.

Địa danh ‘‘Tư Chính’’ của miền Nam từ trước 1975 mang các ý nghĩa như sau :

– chữ TƯ (諮) có nghĩa là tư tuân dân ý (諮詢民意), cũng giống như là trưng cầu dân ý trong lịch sử nước ta, thể hiện qua hội nghị Diên Hồng.

– chữ CHÍNH  (政) vừa có nghĩa là chính trị : muốn giải quyết các tranh chấp ở bãi Tư Chính, yếu tố quân sự không đủ, cần có cả yếu tố chính trị. Chữ CHÍNH còn có nghĩa là chính đạo (正道).

Xuyên suốt lịch sử nước ta từ thời lập quốc đến nay, việc gìn giữ bờ cõi là nhiệm vụ thiêng liêng, bất thành văn của toàn dân, sau này được ghi trong hiến pháp :

– Hiến pháp VNCH năm 1967, điều 5, khoản 2 định rằng : ‘‘Việt Nam Cộng Hòa cương quyết chống lại mọi hình thức xâm lược và nỗ lực góp phần xây dựng nền an ninh và hòa bình thế giới.’’

– Hiến pháp Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 64 ghi rằng : ‘‘Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân.’’

Trong thực tế, nhiều sự kiện chứng minh rằng chính quyền hiện nay đã vi phạm quy định này của hiến pháp :

1)  Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng đã gửi Thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai công hàm ngày 14/09/1958, nguyên văn như sau:

‘‘Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.’’

Chính quyền Trung Quốc cho rằng công hàm của Phạm Văn Đồng là bằng chứng cho thấy chính quyền Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Nội dung văn kiện kể trên đã quá rõ ràng. Có hai điểm sau đây cần lưu ý về hình thức :

– Công hàm (公函 : Correspondance diplomatique) là yếu tố cấu thành hiệp ước, có khả năng phát sinh những quyền lợi và nghĩa vụ trong luật quốc tế.

– Cách xưng hô (appellation) : ‘‘Thưa Đồng chí Đổng lý’’ chứng minh quan hệ mật thiết giữa hai đảng cộng sản Tầu và Việt (trước đây gọi là đảng Lao động Việt Nam). Mao Trạch Đông đã gọi quan hệ này là ‘‘môi hở răng lạnh’’. Công hàm chứng minh đảng cộng sản Việt Nam thần phục đảng cộng sản Tầu. Chừng nào còn đảng cộng sản Việt Nam, mối quan hệ bất bình đẳng này vẫn không thay đổi.

2)  Ba văn kiện ký tại Bắc Kinh ngày 18/11/2009 :

– Hiệp định về quy chế quản lý biên giới trên đất liền giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa;

– Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa;

– Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Các văn bản nói trên đưa đến việc Hữu Nghị Quan hiện nay không còn giữ nguyên trạng Ải Nam Quan trước đây, mà lấn sâu về lãnh thổ Việt Nam.


Cổng Hữu Nghị Quan xây năm 1957 có khắc ba chữ Hữu Nghị Quan (友誼關) là của Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trần Nghị. Tại sao phía Việt Nam lại không có bút tự quốc ngữ nào trên công trình này ?

3) Dự thảo luật (sau đây gọi tắt là dự luật) đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc (gọi tắt là đặc khu) gồm 6 chương 85 điều. Điều 58 quy định :

– đặc khu Vân Đồn trực thuộc tỉnh Quảng Ninh;

– đặc khu Bắc Vân Phong trực thuộc tỉnh Khánh Hòa;

– đặc khu Phú Quốc trực thuộc tỉnh Kiên Giang.

Ba đặc khu ở ba miền đất nước mở đường cho Bắc Kinh từng bước thôn tính Bắc, Trung, Nam. Về mặt địa lý chiến lược, việc thiết lập ba đặc khu còn cho phép Bắc Kinh xâm nhập vùng lãnh hải, chiều rộng 12 hải lý của nước ta, theo quy định của công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, công bố ngày 10/12/1982.

4) Việc người Hoa mua nhà đất, biến nhiều thành phố Việt Nam thành ‘‘China Town’’ cuỉa Tầu. Các sự kiện trên đây khiến những ai ưu tư đến vận mệnh đất nước có ý nghĩ phải làm gì ?

II – Bãi Tư Chính : làm gì ?

Chỉ với tên gọi Tư Chính, biến cố đang diễn ra tại bãi Tư Chính gợi ý một giải pháp chính trị. Vào thế kỷ XIII, nước ta chiến thắng quân Nguyên là nhờ yếu tố toàn dân. Trong bối cảnh hiện nay, thật là thiếu sót nếu chỉ trông cậy vào sự can thiệp của hải quân Hoa Kỳ mà không đếm xỉa gì tới yếu tố toàn dân.

Toàn dân nói đây là 97,5 triệu đồng bào ruột thịt trong nước, sát cánh cùng 1,8 triệu  người gốc Việt sinh sống tại Hoa Kỳ, 180 ngàn người tại Canada, 150 ngàn người tại Úc, 250 ngàn tại Pháp, 90 ngàn tại Đức và cộng đồng người Việt ở rải rác trên khăp năm châu. Ngày nay, họ là các cử tri, tác động lên chính sách ngoại giao của nước sở tại.

Toàn dân không phải chỉ là 24 ủy viên bộ chính trị, không do dân cử, mà chỉ đại diện cho đảng cộng sản, ‘‘đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.’’ (điều 4 Hiến pháp 2013). Trong thực tế, bộ chính trị đảng cộng sản hiện nay gồm toàn là thành phần tư sản mại bản, làm giàu phi pháp trên giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã khiến đất nước chìm đắm suốt nửa thế kỷ trong ‘‘chuyên chính vô sản’’, từ 1945 đến 1994 là năm Mỹ bỏ cấm vận. Biến cố Tư Chính gợi ý một giải pháp triệt để cho đất nước : tu chính Hiến pháp.

2.1. Từ TƯ CHÍNH đến TU CHÍNH (修正) :

Trị liệu pháp chính trị cũng giống như trị liệu pháp áp dụng trong y khoa : cắt bỏ phần thối nát trong một bộ phận (ablation d’une partie d’un organe). Những người có lương tri đều nhận thấy trong hiện tình đất nước, điều 4 hiến pháp không còn lý do tồn tại nữa. Đảng cộng sản Việt Nam tỏ ra khiếp nhươc trước sự uy hiếp thường xuyên của đảng cộng sản Tầu. Chỉ có thế toàn dân với sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế và khu vực mới làm cho nước Tầu phải chùn bước.

Nếu bỏ điều 4, ta sẽ thay bằng quy định mới nào ?

Ngày 27/01/1973, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tiền thân của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã ký tại Paris hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Điều 11 của hiệp định quy định việc

– ‘‘thực hiệp hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thủ hận, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xứ với những cá nhân hoặc tồ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia ;

– Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân : tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự di đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.’’

Hà Nội đã ký mà không tôn trọng bất cứ một quy định nào ghi trên. Nếu điều 11 của hiệp định thay thế điều 4 hiến pháp hiện nay, cái lợi trước mắt là tạo được thế toàn dân, làm sống lại tinh thần của hội nghị Diên Hồng năm 1284. Ngoài ra, với những biến chuyển hiện nay, làm sao tránh được việc chế độ cộng sản sụp đổ. Điều khoản mới sẽ là lá chắn pháp lý, bảo đảm để các thành viên của chế độ cũ (cộng sản) không phải vùi thân trong tù ngục cải tạo như trường hợp các cựu viên chức VNCH bị cộng sản đầy ải, bức tử sau năm 1975.

Về thủ tục tu chính, điều 120 hiến pháp quy định quy định như sau :

‘‘Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.’’

Quốc hội hiện nay có 494 đại biểu. Như vậy cần có hai phần ba số đại biểu, tức 333 vị, bỏ phiếu tán thành. Ba con số 3 : ‘‘Tam Tam Tam’’ thật là có có nghĩa. Người dân kêu gọi lương tri của quý vị đại biếu để Quốc hội có các hành động kịp thời, thích hợp ; đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của thời cuộc.

Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách. Huống hồ là các vị đại biểu quốc hội ?

Lê Đình Thông
Nguồn: http://lediemchihue.com/

1-10 of 429