Tin Tức Cộng Đồng • Vietnamese Community News


HUẾ 1968 ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN CÓ THẬT !!!

posted Feb 14, 2018, 8:26 AM by Le Phan   [ updated Feb 14, 2018, 8:36 AM ]

ỦY BAN TRUY TỐ TỘI ÁC


ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trung Tâm Điều Hợp Trung Ương
Orange County, Calif. USA. Ngày 8/2/2018



Kính Gởi:
-Đồng bào Quốc Nội, Hải Ngoại.
-Quý Chiến Hữu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
-Quý chiến Hữu Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.
 
THƯ CỦA NHÂN CHỨNG SỐNG MẬU THÂN 1968 TẠI HUẾ: LIÊN THÀNH
 
-CỰU THIẾU TÁ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA, VÀ CẢNH SÁT QUỐC GIA VIỆT NAM CỘNG HÒA.
 
1/- NGUYÊN PHÓ TRƯỞNG TY CẢNH SÁT ĐẶC BIỆT TY CẢNH SÁT QUỐC GIA THỪA THIÊN-HUẾ 1966-1969
2/- CHỈ HUY TRƯỞNG BỘ CHỈ HUY CẢNH SÁT QUỐC GIA THỪA THIÊN- HUẾ 1969-11/1974
3/TỔNG THƯ KÝ ỦY BAN PHƯỢNG HOÀNG TỈNH THỪA THIÊN VÀ THỊ XÃ HUẾ 1968-11/1974
 
HIỆN TẠI:
TRUNG TÂM TRƯỞNG
TRUNG TÂM ĐIỀU HỢP TRUNG ƯƠNG
ỦY BAN TRUY TỐ  TỘI ÁC TÊN TỘI ĐỒ DÂN TỘC
HỒ CHÍ MINH, VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ TỘI ÁC CHIẾN TRANH VÀ TỘI ÁC DIỆT CHỦNG
VÀO TẾT MẬU THÂN 1968 TẠỊ HUẾ, RA TÒA ÁN QUỐC TẾ.
 
GỞI:
1/-ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG, TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.
2/-ÔNG TRẦN ĐẠI QUANG CHỦ TỊCH NƯƠC CỘNG SẢN VIỆT NAM
3/-NGUYỄN XUÂN PHÚC THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ CỘNG SẢN VIÊT NAM.
 
HUẾ -ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN CÓ THẬT

Hai  giờ 33 phút sáng ngày mồng hai Tết Mậu Thân 1968 là giờ khởi đầu của 624 giờ đau thương kinh hoàng của cuộc tàn sát của bầy ác quỷ, của lũ người man rợ từ rừng núi phía tây tràn vào Huế. Bọn quỷ khát máu này là ai?

Bọn chúng là quân “Giải Phóng”, là quân đội “Nhân Dân”, là Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, là những giáo sư, sinh viên, học sinh đã theo Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Thiện Siêu, và Thích Chánh Trực trong cuộc phản loạn vào tháng 6/1966 tại Miền Trung.

        Khi phong trào tranh đấu phản loạn bị chính phủ VNCH dẹp tan, bọn chúng đào thoát lên mật khu. Nay bọn chúng theo chân quân cướp man rợ trở lại Huế với gươm đao, búa liềm, với mã tấu, với AK, với B40 thẳng tay chém giết, chôn sống đồng bào, bắn sập thành phố, và bắn sập đền đài miếu vũ của tổ tiên.

        Và Huế trong 624 giờ đồng hồ đã trải qua từng giây một, từng phút một, từng giờ một, từng ngày một, những tang tóc thê lương, những máu và nước mắt của hằng chục ngàn dân Huế nhỏ xuống trên mảnh đất thân yêu của quê hương.

        Kêu trời không thấu, kêu đất không nghe, cầu khẩn thần linh phù trợ, thần linh ngoảnh mặt. Huế ôm nhau trong vòng tay run rẩy, dìu nhau chạy trốn Việt cộng, khập khễnh bước thấp bước cao với nỗi kinh hoàng tột độ.

        Người Huế chết quá nhiều, chết tức tưởi, chết oan ức, chết không hiểu tại sao phải chết, tội tình chi mà phải chết. Huế mỗi thước đất là một thây người, là mỗi vũng máu tươi còn chưa kịp đổi màu. Người Huế chết từ trong nhà ra đến sân, sân trước đến sân sau, thây người nằm chết âm thầm lặng lẽ trên đường phố, nơi vỉa hè. Thây người sình thối trong lùm cây bụi cỏ. Thây người nằm co quắp trong đường hẻm, nơi bờ ao, nơi tường thành. Thây người trong trường học, trong sân chùa. Một rừng xác chết, một bãi thây ma. Người Huế chết nằm, chết đứng, chết ngộp thở vì bị chôn sống, chết vì bị cuốc xẻng đập vào đầu,Năm ngàn ba trăm hai mươi bảy [5327] người chết, 1200 bị bắt đi mất tích.

        Hỡi trời hỡi đất, hỡi Chúa hỡi Phật, hỡi hồn thiêng sông núi, hỡi anh linh tiền nhân, quý vị ở đâu sao không ra tay cứu vớt dân Huế? Họ đã làm gì nên tội? Hay là Phật, Chúa, thần linh cũng phải đành bó tay trước loài quỷ cộng sản để mặc bọn chúng thẳng tay say sưa chém giết đồng bào vô tội!

        Năm giờ 30 sáng, trong ánh sáng lờ mờ của ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, cộng quân tràn ngập khắp mọi nơi trong thành phố và vùng giáp ranh các quận Hương Thủy, Hương Trà, Phú Vang rồi bọn chúng bắt đầu một cuộc tàn sát đồng bào Huế còn dã man hơn thời trung cổ.

Cuộc tàn sát dân chúng Huế được Việt Cộng chia làm 2 giai đoạn.

Giai đoạn I:
        Bắt và giết người theo danh sách trong hồ sơ đen mà cơ quan An Ninh Khu, Tỉnh, Thị Ủy Việt Cộng đã thiết lập từ trước cuộc tấn công. Khi lực lượng quân sự tràn vào Huế thì ngay lập tức lực lượng Công An Khu Ủy của Tống Hoàng Nguyên, lực lượng Công An Thừa Thiên-Huế của tên Đại Tá Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh, phối hợp chặt chẽ với các đội An Ninh Tự Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân truy lùng, bắt bớ, và hạ sát các mục tiêu ngay. Đó là thời điểm sau 2 giờ 33 phút sáng ngày Mùng 2 Tết, và kéo dài một ngày sau đó.

Giai Đoạn II:
        Ngay trong ngày Mùng 2 Tết, vào buổi sáng sau cuộc tụ họp đồng bào tại hai Quận I và II, chúng công bố thành lập Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận I và II,và Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Tỉnh Thừa Thiên-Huế, đồng thời cũng công bố thành phần tổ chức của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Những vụ bắn giết bắt bớ dân chúng trong giai đoạn này quy mô hơn, có tổ chức hơn, và quá sức tàn bạo.

Giai Đoạn I bắt đầu từ 2 giờ 33 phút sáng ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968:
        Trời chưa sáng hẳn, một số lớn các gia đình trong ba quận thị xã Quận I, II, và III, và ba quận giáp ranh Hương Trà, Phú Vang, và Hương Thủy đã bị đám Công An Thành Ủy, lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, đám chỉ điểm, đám cơ sở nội thành xông vào từng nhà lục soát bắt người. Bọn chúng đã có sẵn hồ sơ lý lịch, tên tuổi từng người mà bọn chúng gọi là Công An Cảnh Sát Ngụy, binh lính Ngụy, công chức chính quyền Ngụy, nhân viên tình báo “Xê -I -A”. Không cần biết đúng sai, bọn chúng thỏa thích nổ súng vào những người trong bảng “ phong” thần nầy.

        Bảy giờ sáng ngày Mồng 2 Tết Mậu Thân 1968, dân chúng Huế bắt đầu chạy giặc. Họ bỏ lại tất cả để chạy trốn Việt cộng. Nhà cửa tài sản bỏ lại đã đành, thức ăn thức uống, áo quần cũng không kịp mang theo, miễn sao tránh xa bọn Cộng sản tìm về vùng Quốc gia đang kiểm soát. Già trẻ, lớn bé, cha mẹ, con cái, dắt dìu nhau tìm đường chạy trốn Việt cộng. Nhưng khốn thay, họ biết chạy đi đâu vì khắp nơi đều là Việt Cộng. Bọn Việt cộng xả súng bắn vào đoàn người đang hốt hoảng và hỗn loạn chạy tìm nơi bình yên trú ẩn. Thây người ngã gục, máu đào tuôn rơi nhuộm đỏ màu cờ đỏ sao vàng của Hồ Chí Minh, của đảng Cộng sản Việt Nam, và cờ 3 mảnh của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

        - Nhân viên cao cấp của chính quyền Thị xã Huế hy sinh đầu tiên là ông Trần Đình Thương, Phó Thị Trưởng Thị xã Huế. Vì không nắm vững tình hình nên trời chưa sáng hẳn ông đã phóng xe khỏi nhà với ý định là đến nhiệm sở Tòa Hành Chánh Tỉnh và Thị Xã xem tình hình thế nào, ông đã bị cộng quân bắn hạ ngay trước cổng nhà, đối diện với công viên Bến Ngự, ngay ngã tư Nguyễn Hoàng- Nguyễn Huệ thuộc Quận III Thị xã Huế.
Thật tội nghiệp, mãi hơn 12 ngày sau, khi khu vực nầy được giải tỏa, thân nhân mới lấy được xác đem về mai táng. Lúc đó thi thể ông đã sình thối.
        - Tại vùng Bến Ngự, Nam Giao, Từ Đàm, dân chúng kéo nhau chạy trốn lên vùng nhà máy nước Vạn Niên, gần chùa Từ Hiếu, cạnh đồi thông Quảng Tế, hoặc cố gắng băng qua cầu Bến Ngự chạy về hướng trường Quốc Học hoặc bệnh viện Trung Ương Huế. Tất cả hai hướng đều bị cộng quân hoặc bằng súng nhỏ, hoặc bằng súng cối pháo kích và bắn bừa bãi vào đoàn người chạy loạn để ngăn chận không cho dân chúng trốn thoát khỏi vùng bọn chúng đang kiểm soát. Tất cả đều phải quay trở lại nhà để bọn chúng có thể sử dụng làm con tin, làm khiên đỡ đạn, và làm chùn bước quân đội VNCH muốn tấn công chúng.

        Dân chúng vùng Nam Giao, Từ Đàm, dốc Bến Ngự, bị thương khá nhiều và nhiều gia đình bắt đầu  đói vì đã hết gạo. Cha tôi, Hoàng Thân Tráng Cử, cùng với một người bạn chí thân là Bác Võ Thành Minh, hai ông là những trưởng Hướng Đạo thâm niên nhất cùng một thời với Tạ Quang Bửu, Hoàng Đạo Thúy, trưởng Trần Điền của phong trào Hướng Đạo Việt Nam, chạy chỗ nầy sang chỗ kia, băng bó cứu giúp cho những đồng bào bị thương. Phụ thân tôi và bác Võ Hoàng Minh vào những nhà vắng chủ tìm gạo nấu cơm tiếp tế cho nhiều gia đình có trẻ thơ đang bị đói, và cuối cùng họ thành lập một đoàn cứu thương tải thương những người bị thương quá nặng để đưa về bệnh viện Trung Ương Huế.
        Sau nầy cha tôi kể lại với chúng tôi: Có 4 người bị thương rất nặng cần phải vào bệnh viện mới mong cứu sống. Cha tôi và bác Võ Thành Minh cuốn 4 cái mền làm võng cùng một số thiếu nhi khiêng 4 người nầy định đưa về bệnh viện Trung Ương Huế. Đi đầu là bác Võ Thành Minh với miếng vải trắng cột vào một khúc tre làm biểu tượng cho cờ cứu thương, đi giữa hàng cán bệnh nhân là cha tôi. Đoàn mới ngang dốc Bến Ngự thì bị một toán Việt cộng chận đoàn cứu thương lại. Một tên Việt cộng hỏi bác Minh và cha tôi:
        - Chúng mày treo cờ trắng đi đầu hàng địch hả?
        - Chúng tôi đưa 4 người bị thương quá nặng vào bệnh viện. 
    Hai tên khác dí mũi súng AK vào cha tôi và bác Minh:
        - Đi lui! Không thì chúng tao bắn tan xác bây giờ.
        Cả đoàn đành đi lui. Chỉ mấy giờ sau 4 nạn nhân tắt thở vì ra máu quá nhiều.
        Cha tôi và bác Võ Thành Minh trở lại nhà Cụ Phan Bội Châu gần chùa Từ Đàm. Khoảng nửa giờ sau. Một toán Việt cộng đến nhà Cụ Phan để bắt cha tôi và bác Minh. Cha tôi may mắn chạy thoát bằng cửa sau sang nhà hàng xóm lẩn trốn. Bác Võ Thành Minh bị bọn chúng bắt dẫn đi và sau đó giết bác. Sau nầy thân nhân của bác Võ Thành Minh tìm được xác của bác trong một hố chôn tập thể. Tưởng cũng cần nhắc lại, năm 1954 hiệp định Geveva giữa Việt Cộng và Pháp chia đôi đất nước lấy vĩ tuyến 17 làm lằn ranh Quốc-Cộng, thì bác Võ Thành Minh chính là người đã dựng lều bên bờ hồ Geneva thổi sáo cầu nguyện cho hòa bình Việt Nam. Bác Võ Thành Minh, suốt đời giữ lời hứa của một Hướng Đạo sinh là:
Trung thành với Tổ quốc - Giúp ích mọi người - Tuân theo luật Hướng Đạo.
        Bác có tội tình chi mà bọn chúng đem chôn sống bác? Chẳng lẽ vì đi cứu người dùng mảnh vải trắng làm cờ mà bị giết? Trong lửa đạn tìm đâu ra sơn đỏ để làm thành cờ hồng thập tự, đành dùng vải trắng làm cờ cứu thương cho hai bên đừng bắn vào đoàn tải thương. Vậy mà bọn ngu dốt man rợ kia cho là kéo nhau đi đầu hàng địch, để rồi cuối cùng thì những người bị thương phải chết vì không được cứu chữa, còn người tải thương thì bị bắt và bị chôn sống! Lịch sử nào tha được tội ác của bọn cộng sản tàn bạo này?

        Cũng tại ngôi nhà của Cụ Phan Bội Châu, sau khi bắt bác Võ Thành Minh, bọn chúng lại bắt hai người cháu nội của Cụ Phan Bội Châu đem đi chôn sống, đó là anh Phan Thiện Cầu, Đại Úy Quân Cảnh Tư Pháp VNCH, và anh Phan Thiện Tường, Giáo Sư. Trong khi đó thì anh ruột của hai anh Phan Thiện Cầu và Phan Thiện Tường lại là Đại Tá Việt Cộng “Quân Đội Nhân Dân” Phan Thiện Cơ (!) và thời điểm đó Phan Thiện Cơ là Tư Lệnh chiến trường Tây Nguyên! Đau lòng thay cho cụ Phan Bội Châu.
Cụ Phan Bội Châu và gia đình tôi có quan hệ rất mật thiết. Cụ là một nhà tiền bối cách mạng phụ tá cho ông nội tôi là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để trong phong trào Đông Du và trong Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội. Cụ và cha tôi, Hoàng Thân Tráng Cử, có một mối giao tình khắng khít vì công việc cách mạng chống Pháp chống cả Việt Minh liên quan đến ông nội tôi là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để.

        Không hiểu Đại Tá Phan Thiện Cơ nghĩ gì khi hay tin hai người em của mình bị chính các đồng chí của mình đem đi chôn sống? Hay ông Đại Tá Việt Cộng này cũng học tập gương của đồng chí kính yêu Trường Chinh đem cả cha mẹ mình ra đấu tố và giết hại để làm gương cho các anh hùng nhân dân noi theo? Phải chăng đó chính là chân lý là nguyên tắc Đấu Tranh Giai Cấp của Bác và Đảng?
        Năm 1973, Đại Tá Phan Thiện Cơ là một thành viên cao cấp trong phái đoàn quân đội Bắc Việt tại Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến 4 bên (Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và Cộng Sản Hà Nội) đóng tại phi trường Tân Sơn Nhất Sàigòn.
        Tại vùng Nam Giao, Cộng quân bắt sinh viên Lê Hữu Bôi tại chùa Tường Vân, nơi tu đạo của Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết. Lê Hữu Bôi, sinh viên trường Quốc Gia Hành Chánh, Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sàigòn bị bắt và sau đó đem đi chôn sống, vì bị nghi là ‘Xê-I-A”. Sinh viên Lê Hữu Bôi gọi Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết là cậu ruột, gọi bà nội tôi là dì. Tôi gọi sinh viên Lê Hữu Bôi là bác.
        Sau nầy chúng tôi tìm ra xác sinh viên Lê Hữu Bôi. Tội nghiệp, ông ra Huế vừa nghỉ Tết và cũng để đi hỏi vợ thì bị Việt cộng bắt đi chôn sống.

        Trong suốt thời gian chiếm Huế, Bộ Chỉ Huy An Ninh của cơ quan Thành Ủy Huế đặt tại Chùa Từ Đàm. Do đó, tất cả các thành phần Dân, Quân, Cán, Chính, và Cảnh Sát Quốc Gia mà bọn an ninh Thành Ủy cũng như lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân bắt được tại 3 quận thị xã I, II, III và các quận ven thành phố Huế đều bị giải về và giam giữ tại Chùa Từ Đàm. Tại đây họ bị thẩm vấn, đánh đập hành hạ thân xác, một số bị xử bắn ngay tại chùa. Số còn lại lần lượt bị giải đi chôn sống tại vùng gần chùa Tường Vân, Vạn Niên, vùng lăng vua Tự Đức, Đồng Khánh. Bốn trăm tám chục xác chết được tìm thấy ở Khe Đá Mài thuộc vùng núi Nam Hòa. Đó là những thanh niên trong Lực Lượng Tự Vệ của làng Phủ Cam.

        Tại Nam Giao, Từ Đàm, Bến Ngự, lực lượng an ninh của Tống Hoàng Nguyên và Nguyễn Đình Bảy, và đám cơ sở nằm vùng, đội An Ninh Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, lục xét từng nhà một, bắt và dẫn đi rất nhiều người. Dân chúng sau này làm chứng khai đã nhận diện rõ những tên nằm vùng thật nguy hiểm và sắt máu như tên Nguyễn Tú, một võ sư môn phái Thiếu Lâm, nhà ở gần lăng Vua Tự Đức gần đồi Vọng Cảnh. Nguyễn Tú là cơ sở quan trọng của cơ quan an ninh Tỉnh Ủy Thừa Thiên. Tên thứ hai là Cửu Diên nhà ở vùng Cầu Lim, gần Đàn Nam Giao. Ngoài ra còn có con trai của Cửu Diên, nguyên là Thiếu Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đào ngũ trước Tết Mậu Thân, Nay y cũng ở trong toán an ninh của Việt Cộng đang truy bắt Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong vùng Nam Giao, Từ Đàm, Bến Ngự. Trong số những người bị hai tên Tú và Cửu Diên bắt đi tại vùng Từ Đàm có ông Tôn Thất Hậu, chủ tiệm ảnh Tự Do, và ông Nguyễn Văn Nhẫn, chủ tiệm hớt tóc ngay cạnh chùa Từ Đàm. Hai ông Tôn Thất Hậu và Nguyễn Văn Nhẫn là bạn chí thân của tên Tú và Cửu Diên vậy mà bọn chúng cũng không tha. Thế mới biết đã là Việt Cộng thì không bao giờ kể gì đến tình nghĩa. Sau nầy tìm được xác của hai ông Tôn Thất Hậu và Nguyễn Văn Nhẫn ở vùng lăng vua Đồng Khánh. Họ chết trong tình trạng bị chôn sống vì không có vết tích bị trúng đạn.

        Tại Làng Phủ Cam: Rạng sáng ngày mùng 2 Tết, Phủ Cam đã bị lực lượng cộng quân bao vây, nhưng bọn chúng vẫn chưa tấn công vì e ngại lực lượng phòng thủ của giáo xứ. Giáo dân làng Phủ Cam có truyền thống lâu đời từ thời kỳ quân đội viễn chinh Pháp là họ tự tổ chức đội ngũ, xin phương tiện vũ khí của chính phủ, tự đứng ra canh gác gìn giữ an ninh ngày đêm cho bà con thân thuộc trong làng. Lần nầy Mậu Thân 1968, Cộng quân bao vây tứ bề, thời gian vây hãm quá lâu, đã nhiều ngày qua mà chẳng thấy có một hy vọng nào sẽ có viện binh tiếp cứu. Dân chúng và ngay cả những thanh niên trẻ trong đoàn tự vệ bắt đầu có dấu hiệu nản lòng. Đại đa số dân chúng trong làng đêm đêm kéo nhau vào trú ngụ trong nhà thờ Phủ Cam, trước là để tránh đạn pháo của cộng quân, sau là nhờ sự che chở bảo vệ của các Cha trong giáo xứ.

        Tôi nhớ không lầm vào khoảng 1 giờ khuya ngày 18/2 âm lịch, tại Bộ Chỉ Huy, tôi nhận được báo cáo cuối cùng của toán Cảnh Sát Đặc Biệt phụ trách xã Thủy Phước đang bí mật hoạt động trong làng Phủ Cam: "Cộng quân đã tấn công vào làng, chiếm nhà thờ Phủ Cam và bắt đi rất nhiều đồng bào đang trú ngụ trong nhà thờ Phủ Cam.” Những ngày sau chúng tôi nhận được báo cáo rõ ràng hơn là khoảng trên 300 thanh niên trong làng bị bắt đi.

        Kết quả tàn khốc về số phận của hơn 300 thanh niên bị bắt trong nhà thờ Phủ Cam là: Sau khi bị bắt, họ được dẫn lên giam tại Chùa Từ Đàm, nơi đặt bộ Chỉ Huy An Ninh của Thành Ủy Huế. Ngay tại đây đã có một số bị xử bắn ngay tại sân chùa. Sau đó đại đa số còn lại bị trói tay và dẫn lên vùng núi phía tây, và cuối cùng thân xác của trên 428 người được phát hiện nằm dọc bờ khe Đá Mài, phía tây quận lỵ Nam Hòa. Đó là số phận của những người bị bắt tại nhà thờ Phủ Cam.

        Tại Dòng Chúa Cứu Thế, nằm gần khu An Cựu trên đường Nguyễn Huệ, rạng sáng ngày mồng 2 Tết cho đến ngày mùng 3, lúc đó có khoảng trên năm trăm đồng bào trong vùng đến trú ẩn ngay trong nhà thờ, nhưng con số nầy mỗi ngày mỗi tăng và những ngày sau số lượng đồng bào vào ẩn trốn trong nhà thờ của Dòng Chúa Cứu Thế đã lên đến gần ba ngàn người. Đây là thời điểm mà bọn Công An Khu, Thành ủy Huế và đám nằm vùng, tổ chức An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân ra tay, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh, Đại Tá Trưởng Ty Công An Thừa Thiên-Huế. Phụ tá cho hắn là cha con ông Thiên Tường, chủ tiệm thuốc Bắc ở gần chợ An Cựu. Cũng cần nói thêm Nguyễn Đình Bảy là con nuôi của Thiên Tường từ nhỏ. Ngoài đám nằm vùng của cha con Thiên Tường còn có tổ chức An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân cùng đám chỉ điểm. Sau khi bọn chúng bao vây chặt chẽ  khu nhà thờ Phủ Cam, lực lượng an ninh của bọn chúng tràn vào, tập họp mọi người, phân loại và thanh lọc.

        Hơn ba trăm người bị bắt sau đó, bị trói tay dẫn đi về hướng Lăng Xá Bầu, Lăng Xá Cồn thuộc quận Hương Thủy, trong số này có thượng nghị sĩ Trần Điền.
        Sau này, trong số xác của hơn 300 người vô phúc này có xác của Thượng Nghị Sĩ Trần Điền. Tất cả được tìm thấy rải rác trong hai vùng Lăng Xá Bầu và Lăng Xá Cồn thuộc quận Hương Thủy. Họ chết trong tình trang bị trói tay vào nhau, bằng dây kẽm gai, hoặc dây điện chết chùm trong những hố chôn tập  thể. Một số chết vì bị vật cứng đập vào đầu, đa số chết vì bị chôn sống.
        Theo như lời tường thuật của thanh niên tên Phan Văn Tuấn, kẻ bị Việt Cộng bắt đi làm nhân công đào hố chôn người, thì khi anh ta và những người khác đào hố xong, anh ta tận mắt chứng kiến bọn Việt cộng dắt những tù nhân đến. Những kẻ bất hạnh nầy bị cột từng chùm một, từ hai mươi đến ba mươi người. Tất cả đều đứng ngay miệng hầm dài nhưng không sâu. Bọn chúng chỉ bắn một hai người đứng  đầu hàng, những người chết ngã ngục xuống hầm kéo những người còn sống vì mất thăng bằng phải rớt xuống theo. Bọn Việt cộng ra lệnh cho anh Tuấn và những “nhân công” khác lấp đất chôn sống những người còn sống. Những ai vùng vẫy thì bọn chúng dùng cuốc, xẻng đập vào đầu. (Anh Tuấn là người đã may mắn chạy thoát trước khi bị bọn Việt cộng giết).
        Tưởng cũng cần nói thêm: Thượng nghị sĩ Trần Điền là một giáo sư, một trưởng Hướng Đạo ngay từ hồi phong trào Hướng Đạo Việt Nam mới thành lập, ông còn là cựu Tỉnh Trưởng tỉnh Quảng Trị, và đương thời là một thượng nghị sĩ của Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa.

        Ngoài ra, trường trung học Thiên Hựu ngay ngã tư Nguyễn Huệ-Lý Thường Kiệt, là nơi đặt bộ chỉ huy nhẹ của Đại Tá VC Nguyễn Đình Bảy, trưởng Ty Công An Thừa Thiên-Huế. Có khoảng một đại đội cộng quân canh giữ nơi nầy. Đây là nơi giam giữ những tù nhân quan trọng mà Nguyễn Đình Bảy đã lập danh sách từ trước khi bọn  chúng tấn công Huế. Theo anh Lê Đình Nguyên, một trung sĩ cảnh sát đào thoát được khi trực thăng Hoa Kỳ oanh kích vào trường Thiên Hựu, thì tại đây đã có những vụ xử bắn rất rùng rợn. Số lượng người bị Việt cộng bắt giam trong trường Thiên Hựu khoảng gần 400 người. Bọn chúng dùng 2 lớp học vừa làm pháp trường đồng thời cũng là kho chứa xác. Hàng giờ, bất kể ngày đêm, hàng loạt súng nổ trong hai phòng học đó. Tội nhân bị dẫn đến căn phòng tràn ngập xác chết vừa tươi vừa thối rữa. Thây người mới chồng chất lên thây người cũ mỗi ngày mỗi cao, mỗi nhiều. Mùi tanh của máu tươi trộn lẫn mùi hôi thối dòi bọ của xác chết đã sình thối. Cảnh tượng vừa ghê rợn vừa truyền nhiễm, khó thấy nơi nào trên thế giới có cảnh tượng kinh hoàng như thế. Ngay cả phòng hơi ngạt của Đức Quốc Xã cũng không có cảnh vừa là pháp trường vừa là hầm mộ tích lũy như vậy. Có thể nói trong lịch sử Việt Nam và trong lịch sử thế giới khó có một cảnh giết người một cách rùng rợn và dơ bẩn kinh rợn đến thế.

        Một trong những tù nhân quan trọng mà bọn chúng bắt giữ là ông Bảo Lộc, Phó Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên. Lực lượng công an của Nguyễn Đình Bảy đã đến bắt ông Phó Tỉnh Trưởng tại tư dinh của ông trên đường Lý Thường Kiệt, đối diện với Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ. Sau đó bọn chúng đem ông ta về giữ tại trường Thiên Hựu, nơi đặt bộ chỉ huy an ninh của bọn chúng.
Những ngày gần thua trận, bọn chúng dẫn ông lên núi, theo dãy Trường Sơn, thời gian đầu ông bị giam tại vùng núi giáp ranh Thừa Thiên-Lào cùng với hai bạn tù là ông Hoàng Liên Nguyễn Văn Đãi, Đại Biểu Chánh Phủ (Hành chánh) Vùng I, và một lãnh tụ Quốc Dân Đảng của Thừa Thiên-Huế là Ông Tứ. Sáu tháng sau, cả 3 bị giải ra Bắc, giam ở trại tù Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Đông (Hà Nội). Sau nhiều lần di chuyển đổi trại, 1973 hiệp định đình chiến Paris ký kết, cả ba ông được chuyển về Trại Ba Sao chờ ngày trao trả tù dân sự, nhưng sau đó bọn chúng lại đổi ý định không trao trả 3 ông cho chính phủ VNCH. Họ bị tiếp tục giam giữ mãi cho đến 1980.

Điều đáng nói là, trong 12 năm tù tội từ 1968-1980 thì ông đã bị biệt giam gần cả 12 năm.
        Trong năm 1980 ông Bảo Lộc nhận được điện tín: “Chị vừa mất”, bọn chúng cho phép ông xuất trại về Huế dự đám tang. Có lẽ ông trời đã rủ lòng thương một chiến sĩ quốc gia vì Tổ Quốc điêu linh mà phải trả một giá quá nặng cho một đời người như ông Phó Tỉnh Bảo Lộc, nên trời đã che mắt bọn Cộng sản mà cho phép ông về Huế dự đám tang. Thật ra người qua đời là phu nhân của Trung Tá Bảo Định, anh ruột ông Bảo Lộc, trưởng phòng 4 Sư Đoàn I/BB. Gia đình Trung Tá Bảo Định đã định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1975 chứ đâu còn ở Huế vào năm 1980. Sau khi có mặt tại Huế, chỉ 3 ngày sau gia đình bí mật chuyển ông phó tỉnh trưởng vào Sàigòn. Tại Sàigòn, với sự giúp đỡ của thân nhân và bạn bè, vài tuần sau đó ông đã có mặt tại trại tỵ nạn ở Indonesia…
        Mấy tháng sau, ông đã đoàn tụ với phu nhân của ông và gia đình người anh ruột là cựu Trung Tá Bảo Định tại thành phố San Diego nam California Hoa Kỳ. Ông mất tháng 5/2006. Gần một năm sau thì phu nhân Bảo Lộc đã nối gót theo ông.

        Tại trường trung học Kiểu Mẫu, ngay tối ngày Mùng 2 Tết, rạng ngày Mùng 3, một số đồng bào quanh vùng Đội Cung, Hàng Me, Chợ Cống, và vùng trường trung học Nguyễn Tri Phương rời khỏi nhà chạy đến trú ẩn tại đó. Và cứ như thế  mỗi ngày dân chúng kéo đến đây tỵ nạn mỗi ngày mỗi tăng, con số đã lên trên hai ngàn đồng bào trong khu vực nhỏ bé nầy.

        Tôi điều động hai trung đội Cảnh Sát Dã Chiến bảo vệ an ninh cho số đồng bào ở tại đây. Cộng quân cũng đã tấn công 3 lần vào địa điểm nầy nhưng đã bị lượng Cảnh Sát Dã Chiến đẩy lui. Trường trung học Kiểu Mẫu nằm bên nầy bờ sông Hương đối diện với chợ Đông Ba bên kia bờ sông Hương, nên ngày cũng như đêm Cộng quân đặt súng cối pháo kích từ bên chợ Đông Ba pháo sang, gây nhiều thương vong cho đồng bào trong trại tỵ nạn.
        Tôi còn nhớ vào buổi sáng ngày Mùng 7 Tết, tôi đang đứng nói chuyện với ông chủ tiệm sách Nam Hưng tại ngay sân trường Trung học Kiểu Mẫu thì Cộng quân bắt đầu pháo, quả đạn đầu tiên rơi ngay gần chỗ ông ta và tôi đứng. Tôi may mắn chỉ bị mảnh đạn nhỏ làm rách áo giáp phía trước ngực, nhưng ông chủ tiệm sách không may mắn như tôi. Thật tội nghiệp, một mảnh đạn súng cối đã xé tan bụng, ông ta chết ngay chẳng nói được lời nào.
        Điểm lại một số tội ác trời không dung đất không tha của bọn cộng sản, chúng ta thấy đối với các trẻ thơ Miền Nam trong các trường tiểu học Cai Lậy, Qui Nhơn chúng cũng không tha, pháo kích và ném lựu đạn gây thương vong cho hàng trăm trẻ thơ, nay đồng bao khốn khổ trong trại tỵ nạn Kiểu Mẫu chúng cũng không từ, tội ác vô lương tâm này biết bao giờ bọn cộng sản mới rửa cho sạch?

        Quận II (Tả Ngạn) Thị xã Huế là nơi mà cộng quân tàn sát dân lành vô tội nhiều nhất. Quận II với địa thế bao bọc bởi dòng sông Hương, mặt tiền từ cầu Bạch Hổ về đến vùng chợ Đông Ba, Gia Hội, Thế Lại, Bãi Dâu, Phú Mậu. Vùng phía tây và tây bắc được bao bọc bởi sông đào vùng An Hòa và dãy trường thành của Hoàng Cung. Dân số Quận II rất đông vì là trung tâm thương mại của thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên. Dân đông, đất chật, địa thế bị chướng ngại bởi sông và Hoàng Thành ngăn chận, vì vậy khi cộng quân tiến vào Quận II thì quả thật dân chúng đã như nằm trong chiếc lưới cá của bọn chúng rồi, chạy đi đâu thì cũng nằm trong chiếc lưới mà thôi.
        Ngoài một số dân chúng làm thương mại, đại đa số cư dân trong vùng là công chức, quân nhân, cảnh sát, cán bộ chính quyền, họ không có nơi an toàn để ẩn nấp hoặc trốn tránh nên hầu như tất cả đều trốn ở nhà. Nhờ có đám chỉ điểm, đoàn An Ninh Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Thị Đoan Trinh, tên thợ nề Nguyễn Văn Bé, chủ tịch Khu Phố của chính quyền Cách Mạng mới thành lập, tên thầy bói Diệu Linh, tên Gù bán thuốc cẩm lệ v.v, tất cả bọn chúng giở danh sách, đi từng nhà tìm kiếm, lục soát bắt người hằng loạt. Bắt được, chúng đem ra xử bắn ngay tại chỗ, hoặc đem đi chôn sống. Xin nêu ra một vài trường hợp điển hình hành động giết người của man rợ này:
        Cái chết của Thiếu Tá Từ Tôn Kháng. Ông là Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn. Nhà của Thiếu Tá Từ Tôn Kháng ở trên đường Bạch Đằng gần cầu Đông Ba. Toán An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân sau khi bao vây nhà xong bọn chúng lôi hết vợ con Thiếu Tá Từ Tôn Kháng ra đứng ngoài sân và kêu gọi Thiếu Tá Kháng phải ra nộp mình cho bọn chúng ngay, bằng không bọn chúng sẽ tàn sát hết vợ con của ông ta. Thiếu Tá Kháng trốn trong nhà sợ vợ con bị chúng bắn chết nên phải ra nộp mình.
        Bọn chúng trói ông lại bắt đầu tra tấn xẻo tai và cắt mũi ông ta, cuối cùng kết liễu đời ông bằng một loạt đạn AK.
        Nhiều nhân chứng nhận diện sau nầy tường thuật với Thiếu Úy Nguyễn Trọng, Trưởng Ban Cảnh Sát Đặc Biệt Quận II Thị xã Huế rằng: Họ nhận diện trong toán bắt bớ, tra tấn, xẻo thịt, và hành quyết Thiếu Tá Từ Tôn Kháng có: Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, tên Nguyễn Bé thợ nề, trưởng khu phố, tên thầy bói Diệu Linh, và tên Gù cùng một số khác nữa. Hành động này của các tên Phan, Trinh, Diệu Linh, Bé, Gù có khác gì bọn Polpot Khmer đỏ?
        Điều đáng nói ở đây là trong danh sách khát máu trên có tên một đàn bà, Nguyễn Thị Đoan Trinh. Hành động cắt tai xẻo mũi Thiếu Tá Từ Tôn Kháng của y thị y hệt hành động của Lã Hậu đốt tai xẻo mũi Thích Phu Nhân, Thứ Phi của Lưu Bang, quả là lịch sử có một không hai. Cho đến Mậu Thân 1968  thì rõ ràng Nguyễn Thị Đoan Trinh tàn ác cũng không thua gì Lã Hậu.
        Tại đường Chi Lăng, bọn chúng bắt hai ông Trần Văn Cư, Phó Giám Đốc CSQG Vùng I, và ông Lê Văn Phú, nguyên Trưởng Phòng Hành Chánh ty Công An Thừa Thiên VNCH, thời điểm đó Ông Lê Văn Phú là Quận Trưởng Quận II Thị xã Huế. Cả hai đều bị bắn chết và chôn  ngay trên đường gần nhà.

        Ông Vĩnh, sĩ quan CSQG, bị bọn chúng bắn ngay tại nhà ở đường Võ Tánh.
        Ông Dự, Trưởng Ty CSQG tỉnh Ninh Thuận(?) về thăm gia đình tại đường Chi Lăng cũng bị bắn chết tại nhà.
        Ông Hồ Đắc Cam, nhân viên nhà máy phát điện Kho Rèn, bị bắt và cũng bị bắn ngay tại nhà.
        Trần Văn Nớp, phụ tá trưởng phòng hành chánh BCH/CSQG Thừa Thiên, cũng bị bắn tại nhà.
        Ông chồng bà bún bò Mụ Rớt là một nhân viên cảnh sát đã ra trình diện bọn chúng, nhưng chúng không tha, xử tử hình ngay.
        Danh sách những người bị bắt và bị hành hình có đến trên 800 người thuộc Quận II trong giai đoạn I, kể sao cho hết?
Tôi xin tạm dừng ngay đây.
        
Về Quận I, tức Quận Thành Nội Thị xã Huế.
        Ngay giờ đầu của cuộc tấn công, cộng quân đã chiếm toàn bộ quận Thành Nội, ngoại trừ khu Mang Cá nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn I Bộ Binh của Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng, khu vực Tàn Thơ, khu Hồ Tịnh Tâm.
        Các khu khác như Tây Linh, Tây Lộc, phi trường Tây Lộc, dọc đường Cường Để đến trường Trần Cao Vân, khu Hòa Bình Đại Nội, Kỳ Đài, qua cửa Thượng Tứ, khu tòa án, ngã tư Anh Danh ra đến cửa Đông Ba, tất cả đều lọt vào tay cộng quân. Cộng quân chiếm một khu vực quá rộng như vậy nên bọn Công An Khu Ủy Trị Thiên, Công An Tỉnh Thị Ủy Thừa Thiên-Huế phối hợp với các toán An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố củaNguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đóa (Cha của Nguyễn Thị Đoan Trinh), Tôn Thất Dương Tiềm, Hoàng Văn Giàu, Nguyễn Thiết, cùng với đám cơ sở nằm vùng, và những kẻ chỉ điểm đã gây kinh hoàng chết chóc cho đồng bào quận Thành Nội trong suốt 22 ngày. Số nạn nhân bị bọn nầy giết chết trong giai đoạn I, theo thống kê  của Cảnh Sát Đặc Biệt Quận Thành Nội cho biết khoảng gần 700 nạn nhân. 
        Sau này ty CSQG đã lấy được rất nhiều lời khai của rất nhiều nhân chứng chứng kiến nhiều vụ xử bắn trong Quận I. Xin đơn cử một vài trường hợp giết người man rợ và tàn bạo của bọn chúng như sau:
        Một vụ xử bắn xảy ra trong khu vực Quận Thành Nội mà mọi người dân Huế đều biết, nay nhắc lại mọi người vẫn còn kinh tởm.
        Đó là vụ Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thiết, Nguyễn Thị Đoan Trinh xử bắn Trần Mậu Tý và chồng của bà thương gia Nội gần cửa Đông Ba vào sáng ngày mồng 2 Tết Mậu Thân 1968.

        Trong giới học sinh, sinh viên, và những ai đã từng tham gia phong trào Phản Loạn Miền Trung vào mùa xuân, hè năm 1966 ai cũng biết đến các đoàn Sinh Viên Quyết Tử do Nguyễn Đắc Xuân thành lập và chỉ huy. Lực lượng nầy có 3 đại đội, một trong những đại đội trưởng của đoàn Sinh Viên quyết tử nầy là Trần Mậu Tý, bạn chí thân của Nguyễn Đắc Xuân. Khi Nguyễn Đắc Xuân được lệnh tên thủ lãnh phong trào phản loạn Miền Trung Thích Trí Quang đem lực lượng sinh viên quyết tử tăng viện cho lực lượng phản loạn và chùa Tỉnh Hội tại Đà Nẵng, Nguyễn Đắc Xuân đã đem đại đội của Trần Mậu Tý theo, xem như là đại đội chủ lực của Nguyễn Đắc Xuân. Nguyễn Đắc Xuân và Trần Mậu Tý là đôi bạn chí thân tương đắc, giới sinh viên quyết tử của Nguyễn Đắc Xuân thường gọi hai người nầy là “cặp bài trùng”.

        Vào cuối tháng 6/1966 khi phong trào phản loạn của sư hổ mang Thích Trí Quang bị chính phủ trung ương dẹp tan, Nguyễn Đắc Xuân từ chùa Ông sau lưng Chùa Diệu Đế chạy trốn lên Chùa Tường Vân đợi giao liên Thành Ủy của điệp viên Trung Tá Hoàng Kim Loan đến đưa lên mật khu, thì người vào ra chùa Tường Vân để giúp đỡ tiếp xúc với Nguyễn Đắc Xuân về mọi mặt không một ai khác hơn là Trần Mậu Tý. Chỉ có Trần Mậu Tý mới có thể vượt vòng vây của CSQG Thừa Thiên-Huế để vào Chùa Tường Vân tiếp xúc với Nguyễn Đắc Xuân được. Cho đến tháng 7/1966 khi giao liên của Thành Ủy đến chùa Tường Vân đưa Nguyễn Đắc Xuân lên mật khu thì cũng có Trần Mậu Tý tháp tùng.
        Tình sâu nghĩa nặng như thế, vậy mà ngay sáng ngày Mùng 2 Tết Mậu Thân, khi trận tấn công mới bắt đầu thì công tác đầu tiên của đoàn An Ninh và Bảo Vệ Khu phố của Nguyễn Đắc Xuân là phải bắt cho được Trần Mậu Tý, và… Trần Mậu Tý đã sa lưới Nguyễn Đắc Xuân. Theo như Nguyễn Đắc Xuân tuyên bố ngay khi bắt được Trần Mậu Tý, tội của Trần Mậu Tý là: Đảng viên đảng Đại Việt, tình nghi hợp tác với CIA.
        Thế là Trần Mậu Tý bị trói tay cùng với một thương gia tại đường Phan Bội Châu. Ông thương gia này là chồng bà Nội, cũng bị tình nghi là đảng viên đảng Đại Việt. Cả hai người bị Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Thiết đẩy đứng sát vào bờ tường gần cửa Đông Ba. Nguyễn Đắc Xuân là người bắn loạt đạn AK đầu tiên vào người thằng bạn chí thân của mình là Trần Mậu Tý. Kế tiếp y quay mũi súng bắn vào ông thương gia tên Nội. Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Thiết bồi thêm hai băng AK vào thi thể Trần Mậu Tý và ông Nội đang nằm gục nơi góc tường thành. Máu hai người tuôn ra xối xã trước sự chứng kiến của nhiều đồng bào và vợ của ông Nội.
        Anh Trần Mậu Tý là con trai độc nhất của Tri Phủ Trần Mậu Trinh, một người nổi tiếng chống cộng triệt để. Anh Trần Mậu Tý là sinh viên Đại Học Huế trong thời gian phong trào phản loạn 1966 của Thích Trí Quang.

        Về mặt tình cảm, vì cộng tác bên nhau rất lâu nên Trần Mậu Tý thật sự có cảm tình riêng với Nguyễn Đắc Xuân, đối đãi với Nguyễn Đắc Xuân rất chí tình. Thế nhưng kẻ xung phong xả băng đạn đầu tiên để giết người bạn thân tử tế với mình như bát nước đầy lại là Nguyễn Đắc Xuân. Thế thì, theo lẽ thường tình, Nguyễn Đắc Xuân còn có tư cách gì mà viết chuyện nhân nghĩa ở đời? Đã vậy ngày hôm nay đây y còn lại tự xưng là nhà Huế Học? Nguyễn Đắc Xuân học gì ở Huế và dạy gì về Huế? Ngoài một thành tích giết người, giết bằng hữu không gớm tay? Đất trời nào dung dưỡng cho tên vô nghì  Nguyễn Đắc Xuân này?
Trong đám đồ tể tàn sát đồng bào Huế, cần phải nói đi nói lại về tên ma nữ giết người rất tàn bạo, say máu đồng loại y như loài quỷ dữ cần phải có mùi tanh của máu người thì thị mới có thể thở, mới có thể sống đó là Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh.

        Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh là sinh viên Dược Khoa Đại Học Sàigòn, trước Tết Mậu Thân y thị được cha là Nguyễn Đóa gọi về Huế để tham gia tắm máu  Huế.
        Nguyễn Đóa và Tôn Thất Dương Tiềm, con rể của Nguyễn Đóa, là cán bộ nội thành hoạt động cho Cộng sản từ trước 1954. Theo hồ sơ văn khố của BCH/CSQG Thừa Thiên Huế thì Tôn Thất Dương Tiềm, Lý Kiều, Nguyễn Đóa đã từng hoạt động cho Việt Minh và trong ngày đình chiến 1954, cả 3 đương sự từ vùng Tỉnh Thanh Hóa thuộc liên khu 4 trở vào Huế. Nguyễn Đóa làm giám thị trường Quốc Học, sau là giáo sư trường Bồ Đề, Tôn Thất Dương Tiềm, Lý Kiều, giáo sư trường Trung học Bồ Đề. Cả 3 tái hoạt động trở lại trong ban Trí Vận của cơ quan Thành Ủy Huế, và đều có chân trong phong trào Hòa Bình của Thích Trí Quang, bác sĩ Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Dương Kỵ.
        Có lẽ Nguyễn Thị Đoan Trinh, con gái của Nguyễn Đóa, có bản chất sát máu tàn bạo của Nguyễn Đóa từ khi y thị còn nằm trong bụng mẹ, bởi vì nếu không, thì tại sao y thị lại có hành động độc ác man rợ còn hơn loài thú dữ với đồng bào hàng xóm láng giềng cùng nơi chôn nhau cắt rốn với mình? Y thị tên là Đoan Trinh nhưng tên lại trái ngược với người, hành động của y thị là của đám man rợ côn đồ khát máu.
        Trong suốt thời gian 22 ngày cộng quân chiếm Huế, Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh với bộ đồ màu hồng, vai mang AK 47, lưng mang súng lục, cỡi xe Honda tảo thanh khắp cùng đường phố, từ đường nhỏ đến đường lớn, lùng sục từ quận Thành Nội ra đến Quận II tức Tả Ngạn, sang đến Quận III tức Hữu Ngạn, và ngay cả những vùng giáp ranh thành phố, để bắt bọn “Ngụy quân, Ngụy quyền, Công An, Cảnh Sát Ngụy ác ôn”. Gặp ai thị cũng hỏi giấy tờ tùy thân, nếu đúng là những thành phần quân nhân, công chức, cán bộ chính quyền, cảnh sát quốc gia, y thị không cần hỏi câu thứ hai mà nổ súng bắn chết ngay.

Rất nhiều đồng bào trong các vùng trên là nhân chứng hành động sát nhân tàn bạo của y thị. Điển hình là những vụ giết người tàn bạo dưới đây:
        Tại đường Cường Để thuộc vùng Tây Lộc, anh Võ Văn Tửu là phó Thẩm Sát Viên Cảnh sát, đồn trưởng đồn Cảnh Sát Ga, đêm Mùng 2 Tết khi Việt Cộng tấn công, anh Tửu bị kẹt tại nhà. Anh trốn tránh từ nhà nầy sang nhà kia đâu được 7 ngày, qua ngày thứ 8 đang di tản với gia đình thì Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh bất thần xuất hiện, không cần hỏi giấy tờ mà chỉ hỏi: - Ông Tửu Đồn Trưởng đồn Cảnh Sát Ga phải không? - Dạ phải.
        Lập tức một loạt AK nổ dòn, ông Võ Văn Tửu gục ngã trước sự bàng hoàng, kinh hãi ngơ ngác của vợ con. Nữ Ma đầu Nguyễn Thị Đoan Trinh lên xe rồ máy chạy xem như chuyện bình thường.
Một trường hợp điển hình thứ hai, Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh giết người tại đường Hàm Nghi vùng giáp ranh Quận III, làng Phủ Cam thuộc Quận Hương Thủy. Bà Thái Hòa vào Mậu Thân 1968 là Sinh Viên Trường Nữ Cán Sự Điều Dưỡng Huế. Bà Thái             Hòa có ba người anh:
                Nguyễn Xuân Kính sinh viên Y Khoa
                Nguyễn Xuân Lộc sinh viên Luật Khoa và
                Nguyễn Thanh Hải sinh viên Văn Khoa
        Nguyễn Thanh Hải bị Hoàng Phủ Ngọc Phan bắn chết ngay tại giảng đường của trường Văn Khoa. Trước đó Nguyễn Thanh Hải và Văn (sinh viên Văn Khoa, bạn của Hải) chạy từ đại học Văn Khoa sang Đại Học Y Khoa để trốn trong phòng thí nghiệm thì bị Hoàng Phủ Ngọc Phan phát giác, bắt Văn và Hải chạy trở về Văn Khoa để tải thương, nhưng khi vừa đến giảng đường Văn Khoa thì bắn ngay Hải. Văn trốn thoát nhờ đang đi vào phòng vệ sinh. Ngay sau đó có tiếng nổ lớn nên bọn Phan và Trinh liền phóng xe chạy mất. Vì vậy mà Văn tạm thoát chết lúc đó. Hai người anh kia là Nguyễn Xuân Lộc và Nguyễn Xuân Kính đang trốn tại nhà. Hoàng Phủ Ngọc Phan và Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh bắt bà Thái Hòa và Văn dẫn Phan và Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh về nhà bà Thái Hòa tại số 24 đường Hàm Nghi, giáp ranh Quận III và làng Phủ Cam để tìm hai người anh của bà Hòa. Tại đây Ma Nữ Đoan Trinh và Hoàng Phủ Ngọc Phan dùng bà Hòa làm áp lực buộc hai người anh ruột là Kính và Lộc đang trốn trên trần nhà phải xuống trình diện bọn chúng, nếu không thì bọn chúng sẽ bắn bà Hòa. Vì sợ bọn chúng bắn chết em gái mình, Kính và Lộc từ trần nhà tuột xuống chân chưa chạm đất đã bị Phan và Ma Nữ Đoan Trinh nổ súng hạ sát ngay. Ông Nội của hai người nầy là ông Nguyễn Tín, 70 tuổi, thấy hai cháu nội của mình bị bắn chết trước mắt, mất bình tĩnh kêu gào chửi bới Hoàng Phủ Ngọc Phan và Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh, liền bị Phan quay mũi súng AK bắn một loạt đạn vào người ông Nguyễn Tín. Ông Tín ngã xuống chết tức tưởi. Sau đó Văn, bạn học của Lộc và Hải xin phép Phan và Trinh được chôn xác bốn ông cháu ở vườn sau, Phan và Trinh nhất quyết không cho. Mãi đến khi xác chết bốc mùi thối rồi chúng mới đồng ý cho Văn đào hố chôn 3 bạn mình Kính, Hải và Lộc và ông Tín. Khi hố chôn vừa đào xong, thây người vừa bỏ xuống thì bà Thái Hòa nghe tiếng súng nổ sau vườn. Bọn Phan và Trinh đã bắn luôn Văn và đạp luôn xuống hố chôn luôn. Thế là 4 người bạn của họ đã chết chung một nấm mồ.
        Như vậy bà Thái Hòa đã chứng kiến cả thảy 5 cái chết của người thân và bạn mình do chính Hoàng Phủ Ngọc Phan, và Ma Nữ Nguyễn Thị Đoan Trinh là thủ phạm.
        Những hành động giết người trên đây của Nguyễn Thị Đoan Trinh, cặp đôi với Hoàng Phủ Ngọc Phan tham gia cắt tai xẻo mũi Thiếu Tá Từ Tôn Kháng chứng minh Nguyễn Thị Đoan Trinh có thể dẫn đầu trong danh sách đàn bà độc ác nhất của lịch sử Việt Nam và có thể sánh ngang hàng với sự độc ác của những người đàn bà khác trên thế giới như Lã Hậu, Từ Hy, Võ Tắc Thiên.

LIÊN THÀNH
  
Các quan tài của những nạn nhân chưa nhận dạng nằm trong một trường học tại Huế,
Tết Mậu Thân, 1968. Photo courtesy of Wikipedia.



TẢN MẠN VỚI HÒA TRẦN – ĐÊM JAZZ VÀNG & MIMOSA MUSIC CLUB…

posted Feb 5, 2018, 3:15 PM by Le Phan   [ updated Feb 5, 2018, 3:17 PM ]


   

   

Vinh Danh Người Việt tại Ottawa...

posted Jan 26, 2018, 4:33 PM by Le Phan   [ updated Jan 26, 2018, 5:02 PM ]

Nhân dịp Canada kỷ niệm 150 năm lập quốc, 
Cộng Đồng Người Việt Ottawa vinh danh Tiến Sĩ Trương Công Hiếu

Thứ Tư 24 tháng Giêng năm 2018, Một buổi lễ trao huy chương Order of Canada đã diễn ra vào lúc 10 giờ 30 sáng tại phủ Thống Đốc Canada, Rideau Hall. Ngoài 47 người được nhận vào Order of Canada. Chúng tôi nhận thấy có trên 225 quan khách và gia đình tham dự. Sau bài diễn văn chào mừng, Bà Thống Đốc Her Excellency the Right Honourable Julie Payette đã lần lượt trao huy chương, chụp hình lưu niệm với từng người lên nhận lãnh huy chương và sau đó họ đã ký tên vào sổ hội viên của Order of Canada, một trong những vinh dự dân sự cao nhất của đất nước Canada, công nhận thành tích xuất sắc, sự cống hiến cho cộng đồng và phục vụ cho quốc gia. Trong số 47 người được vinh danh có 2 Đồng Hành (Companions), 8 Nhân Viên (Officers) và 37 Thành Viên (Members). Tiến Sĩ Trương Công Hiếu là một trong 8 Nhân Viên đã được vinh danh. Là người Việt đầu tiên nhận lãnh vinh dự này, ông là một người có tài và đức, là người đã bỏ nhiều công sức ra giúp cho cộng đồng người Việt tỵ nạn lớn mạnh qua nhiều thập niên, ông cũng là người đã sở hửu rất nhiều bằng sáng chế cho nhiều phát minh có giá trị về kỷ thuật đúc tiền không những ở Canada mà trên toàn thế giới. Sau khi Cộng Đồng Người Việt Ottawa gửi văn thư vinh danh ông với sự đồng thuận của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải và Liên Hội Người Việt Canada, ông đã được các hội đoàn khắp mọi nơi trên Canada và các thân hào nhân sĩ đồng loạt gửi thư chấp thuận và khen ngợi ông về phủ Thống đốc. Sau một năm duyệt xét hồ sơ... tin mừng đã đến với Tiến Sĩ Trương Công Hiếu, ông đã được chấp nhận vào Order of Canada với rất nhiều lời khen thưởng từ phủ Thống Đốc. Ông là một gương sáng cho nhiều thế hệ mai sau trong cộng đồng người Việt hải ngoại. 

Cộng Đồng Người Việt Ottawa chúc mừng Tiến Sĩ Trương Công Hiếu O.C.

Sau đây mời quý vị xem một số hình ảnh gửi từ phủ Thống Đốc của vị nhiếp ảnh viên chính thức của phủ Thống Đốc, bà Sgt Johanie Maheu, Rideau Hall, OSGG 2018" (the Office of Secretariat of the Governor General"

   
 
 
 

"Photo taken by Sgt Johanie Maheu, Rideau Hall, OSGG 2018" (the Office of Secretariat of the Governor General"



Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ ủng hộ bản lên tiếng và lời kêu gọi biểu tình của quý vị chống những hoạt động văn hóa vận của cộng sản Việt Nam tại Canada.

posted Jan 25, 2018, 4:03 PM by Le Phan


Kính gửi:

BS Lê Thuần Kiên, Chủ Tịch và Ban Chấp Hành Liên Hội Người Việt Tại Canada
và Các Cộng Đồng, Tổ chức, Đoàn thể và Đồng bào tại Canada.

Thưa quý vị,

Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ bản lên tiếng và lời kêu gọi biểu tình của quý vị chống những hoạt động văn hóa vận của cộng sản Việt Nam tại Canada.

Chúng tôi kêu gọi các cộng đồng, đoàn thể, đồng bào khắp nơi trong và ngoài nước, nhất là ở Hoa Kỳ cùng lên tiếng tố cáo những hành động văn hóa và tôn giáo vận của cộng sản Việt Nam

Trân trọng

Hoa Kỳ ngày 25 tháng 1 năm 2018
Thay mặt Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

BS Võ Đình Hữu, CT HĐĐB
BS Đỗ Văn Hội, CT HĐCH
Ông Lưu Văn Tươi
​, CT HĐGS​                                                                                                       
Ông Nguyễn Văn Tánh, Cố Vấn



Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam ỦNG HỘ Bản Lên Tiếng

posted Jan 25, 2018, 3:51 PM by Le Phan

Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam ỦNG HỘ Bản Lên Tiếng của Liên Hội Người Việt Canada và các Tôn giáo, Hội đoàn trong Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Canada.

- Website:Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại​
- Diễn Đàn Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam
- Facebook Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam
- Hội Đồng Liên Tôn phản kháng dự luật TG và TN của CSVN
- Bản Lên Tiếng Chung của người Việt Trong và ngoài nước về Phán Quyết Biển Đông, thảm họa môi trường, nền chính trị độc hại, nguy cơ diệt vong của đất nước
Hãy Liên Kết Trong và Ngoài Nước
Tranh Đấu Cho Tự Do Dân Chủ, 
Vẹn Toàn Lãnh Thổ của Việt Nam
PO BOX 262066, TAMPA, FL 33685
Tel 813-507-1195 - Email: Lienket.QnHn@gmail.com
Ủng hộ xin đề: UCVHO (chữ tắt Anh ngữ của HĐLKQNHN )

THẢM HỌA DIỆT CHỦNG ĐANG Ở NGAY TRƯỚC MẮT..

posted Dec 27, 2017, 3:20 AM by Le Phan   [ updated Dec 27, 2017, 3:26 AM ]

THẢM HỌA DIỆT CHỦNG ĐANG Ở NGAY TRƯỚC MẮT..
 
SOS Vietnam
Từ lâu, Trung Quốc đã thực hiện cuộc diệt chủng đối với các dân tộc nhỏ để giành đất cho người Hán. Từ tháng 04.1975 tới cuối năm 1978, trên ba triệu người Campuchia đã bị hành quyết bằng cách đập vỡ sọ thông qua bàn tay Khmer đỏ. Từ đấy loài người đã biết đến chính sách diệt chủng của Trung Quốc ở Campuchia, nhưng ít người biết rằng Trung Quốc đã thực hiên chính sách này đối với tất cả các dân tộc không phải người Hán.


Ở Việt Nam cuộc diệt chủng đang bước vào giai đoạn khốc liệt.
Lá cờ Trung Quốc có 5 ngôi sao, ngôi lớn nhất thuộc về người Hán, 4 ngôi sao nhỏ giành cho các dân tộc Mãn, Hồi, Mông, Tạng, là 4 sắc tộc lớn nhất trong số hơn 100 sắc tộc không phải người Hán sống ở Trung Quốc. Chúng ta cùng nhau điểm lại, sau 67 năm dưới chế độ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, trong tổng số 1,400 triệu người, Trung Quốc còn lại bao nhiêu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng?

1. Người Mãn đã từng lập ra triều Mãn Thanh, cai trị nước Trung Hoa gần 3 thế kỷ (từ 1644 – 1912). Theo công bố của nhà nước Trung Quốc hiện nay còn 10.68 triệu người Mãn, nhưng thực tế con số thấp hơn nhiều, hầu như không còn ai nói tiếng Mãn hay có biểu hiện gì của sắc tộc này nữa.

2. Người “Hồi” bao gồm 18 dân tộc ở Tân Cương, khu tự trị lớn nhất của Trung Quốc với diện tích 1.6 triệu km², dân số 21.8 triệu người, trong đó một nửa là người Hán. Người Duy Ngô Nhĩ là sắc dân chính tại đây chỉ còn lại 8.3 triệu người. (xem Tân Cương – Wikipedia)

3. Nội Mông là khu tự trị dành cho người gốc Mông cổ, từng lập ra triều đại Nguyên Mông cai trị nước Trung Hoa hai thế kỷ 13 và 14, có diện tích 1.183 triệu km² và dân số 24.7 triệu người. Tuy nhiên người gốc Mông Cổ chỉ còn lại 3.6 triệu, chiếm 14.7% dân số toàn Khu tự trị (xem Nội Mông – Wikipedia). 

4. Người Tạng với nền văn hóa rực rỡ, sống ở Khu tự trị Tây Tạng có diện tích 1.25 triệu km², nhưng dân số chỉ còn 3.18 triệu người, trong đó một phần đáng kể đã là người Hán (xem Tây Tạng – Wikipedia).

Tại các khu tự trị, thành phần dân tộc chính lại là người Hán.
Hàng trăm triệu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng đã bị hủy diệt bằng mọi cách. 

Ở Việt Nam thảm họa diệt chủng đang đến nhưng rất ít người nhận ra điều này. Các thủ đoạn hủy diêt của Trung Quốc đã và đang diễn ra trên toàn cõi Việt Nam:


1. TQ hủy diệt châu thổ sông Cửu Long, nguồn lương thực và thực phẩm chính của cả nước. Việc này chúng thực hiên bằng cách xây nhiều đập thủy điện ngăn sông Mê Kông, gây hạn hán và ngập mặn trầm trọng tại Đồng Bằng sông Cửu Long, đồng thời dùng rất nhiều thủ đoạn thâm độc như dựng nhiều nhà máy, thải hóa chất độc, thả ốc bươu vàng… nhằm phá hoại lúa, hoa màu và thủy sản trên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long (xem Google: Hạn hán và ngập mặn tại Đồng bằng Sông Cửu long).

2. TQ ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt xa bờ, phá hủy hàng ngàn tàu đánh cá của ngư dân Việt. Đổ khối lượng rất lớn chất độc dọc bờ Biển Đông để hủy diệt các hải sản ở biển và các vùng nuôi hải sản ven biển, đầu độc toàn bộ nguồn muối ăn của người Việt. Các chất độc đã hủy diệt sự sống trên vùng biển hàng ngàn km2. Với hàm lượng độc tố thấp hơn sẽ gây các bệnh rất nguy hiểm cho hệ thần kinh và thiểu năng trí tuệ cho nhiều thế hệ về sau (xem Bệnh Minamata – Wikipedia và xem Google: Cá chết hàng loạt ở Việt Nam)

3. TQ hủy diệt các sông ngòi trên toàn bộ miền Trung thông qua hàng trăm đập thủy điện, khai thác bauxite, thương lái TQ bày trò mua chanh leo giá cao để nông dân Việt Nam phá hàng ngàn hecta cà phê, điều, hồ tiêu; Cung cấp máy xung điện và hóa chất để bắt giun đất và mua giun với giá cao để phá hủy đất trông trọt; Mua vét rong biển để triệt hạ vùng sinh thái của cá… nhằm phá hoại kinh tế người Việt (xem Google: thương lái Trung Quốc phá hoại kinh tế Việt Nam)

4. TQ xây nhiều đập phía thượng nguồn sông Hồng và sông Đà, làm suy kiệt sông Hồng từ nhiều năm. Chuẩn bị đại dự án sông Hồng với 6 đập thủy điện mới, hủy diệt hoàn toàn hệ sinh thái Châu thổ sông Hồng (xem Google: Đại dự án Sông Hồng).

5. TQ xây dựng hàng ngàn nhà máy, hãng, xưởng trấn gĩữ các vị trí quân sự quan trọng, đồng thời thải hàng trăm ngàn tấn chất độc, hủy diệt khí quyển và các nguồn nước. Trong khí thải các nhà máy ở Việt Nam với thiết bị Trung Quốc, hàm lượng các khí thải độc hại như CO, SO2, H2S, Hg… đều cao hơn từ 19 lần tới 125 lần hàm lượng cho phép. Chất thải đổ xuống nước đã làm chết rất nhiều sông ngòi như Thị Nại, La Ngà, Bưởi, Nhiêu Lộc… và hàng ngàn km bờ biển (xem Google “Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam“ (xem Google “Ô nhiễm môi trường tại Việt Nam”)

6. TQ tung thực phẩm, dược phẩm và hàng hóa độc hại cùng các hóa chất chế biến thực phẩm độc hại tràn ngập thị trường Việt Nam, đồng thời thương lái Trung Quốc mua vét các loại thực phẩm sạch để người Việt chỉ có thể sống bằng thực phẩm độc hại, suy yếu, ngu đần và chết dần vì bệnh tật.

Hiện nay số người Việt bị ung thư, nhũn não, đột quỵ và nhiều bệnh hiểm nghèo khác đã ở mức cao nhất thế giới (xem Google: Thực phẩm độc hại tràn lan tại Việt Nam). 

Từ năm 2017, nếu không kịp thời ngăn chặn, nạn đói, bệnh tật và nạn trm cướp sẽ lan tràn khắp Việt Nam, xã hội sẽ trở nên hoàn toàn hỗn loạn. Với danh nghĩa “cứu trợ” và “vãn hồi trật tự” hàng triệu “chí quân nguyện Trung Quốc” sẽ tràn ngập Việt Nam.

Sau khi chính thức bị sát nhập vào Trung Quốc năm 2020 (xem Google “Hội nghị Thành Đô”), dân tộc Việt Nam như cá nằm trên thớt, mức độ hủy diệt sẽ tàn bạo hơn nhiều. Sau khi sát nhập, bộ đội và công an VN cùng hàng chục triệu đàn ông ở tuổi lao động và con trai sẽ bị cưỡng bức tới những vùng biên cương xa xôi phía Bắc Trung Quốc, để vợ và con gái ở lại. Điều này đã từng xẩy ra ở Tây Tạng từ năm 1959. Hàng chục triệu đàn ông TQ sẽ sang thế chỗ, lấy vợ và định cư ở VN. Sau 20 năm nữa con số 90 triệu người Việt liệu có còn tới 10 triệu như người Mãn hay tới 3 triệu như người Tây Tạng không? Trong số người sống sót có bao nhiêu triệu thanh thiếu niên bị thiểu năng trí tuệ do cha mẹ ăn phải chất độc của Trung Quốc? 

Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, 
không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, 
nếu 90 triệu người Việt không tự cứu mình trước.

Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình, hãy chuyển tải thông tin này tới mọi người, mọi tờ báo, mọi phương tiện thông tin để mọi người cùng biết, cùng nhau đứng lên ngăn chặn thảm họa diệt chủng đã đến ngay trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng hỗ trợ chúng ta.

Phạm Hồng Thúy
 
CÂU CHUYỆN GIA ĐÌNH VỚI BỨC TÂM THƯ
GỬI CÁC CHIẾN SỸ QUÂN ĐỘI VÀ CÔNG AN NHÂN DÂN VIÊT NAM

Hồng Thúy sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Ông bà nội ngoại của Hồng Thúy đều tham gia các hoạt động chống Pháp từ trước năm 1945. Bố Hồng Thúy là Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Mẹ Hồng Thúy là chủ nhiệm Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, đã cùng đồng đội vượt qua bom đạn, đưa lời ca tiếng hát tới các trận địa, góp phần vào nhiều thắng lợi trong sự nghiệp độc lập dân tộc. Hồng Thúy giới thiệu như vậy chỉ để các anh chị biết rằng những dòng này không phải do một “phần tử phản động” viết ra. Bản thân Hồng Thúy và anh chị Hồng Thúy đều từng là cán bộ nhà nước. Anh Q. và chị K. làm việc trong ngành quốc phòng. Trước kia Hồng Thúy đã lập gia đình với anh H, một thượng úy công an đẹp trai, chính trực, liêm khiết và có với anh một con gái. Năm lên 7 tuổi cháu bị sốt xuất huyết và đã mất. Bẩy tháng sau anh H. hy sinh trong khi điều tra một vụ án hình sự. Từ đó Hồng Thúy về ở với bố mẹ và không có ý định lập gia đình nữa. Tháng 8 năm 2011 nhân dân cả nước sôi sục biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm vùng biển, cắt cáp tầu thăm dò dầu trên biển Việt Nam, Hồng Thúy tham gia biểu tình và bị bắt giam. Chờ tới chiều không thấy con về, bố Hồng Thúy gọi điện cho chú N, Thượng tướng công an, trước kia làm việc dưới quyền bố. Ngay sau đó Hồng Thúy được tự do và được một Thiếu tá công an chở về nhà. Anh Thiếu tá nói với bố Hồng Thúy : “Chú nói chị Thúy đừng tham gia biểu tình nữa, không được phép đâu. Chính bọn cháu đã đưa lên mạng kêu gọi biểu tình để bọn đầu sỏ kích động lộ mặt và xử lý đấy chú ạ”. Chủ nhật tuần ấy, chú Thượng tướng N đến thăm và ngồi nói chuyện rất lâu với bố mẹ. Sau khi chú về, bố mẹ Hồng Thúy đều rất buồn, suốt ngày bố ngồi trước máy vi tính, thỉnh thoảng lắc đầu và thở dài, mẹ Hồng Thúy vẫn lúi húi với những việc hàng ngày, không nói gì. Đôi khi Hồng Thúy thấy có ngấn nước trên khóe mắt mẹ.
Chủ nhật tuần sau đó, bố mẹ gọi cả gia đình anh Q và chị K đến ăn cơm. Sau bữa cơm, bố bảo các cháu ra ngoài sân chơi, trong phòng khách còn lại bố mẹ và các con trai, gái, dâu, rể. Bố nói giọng nghẹn ngào : “Nước mình sắp thành một khu tự trị của Trung Quốc rồi các con ạ”. Bố nói như khóc, mắt ướt đẫm. Anh Q kêu lên : “Kìa bố ! làm gì có chuyện ấy. Bố đừng tin, bọn phản động tuyên truyền bậy đấy bố ạ”. Bố chậm rãi nói : “Chú N nói với bố đấy con ạ. Chú đang giữ trọng trách trong Đảng và Nhà nước, sao có thể tung tin đồn bậy được”. Rồi bố kể lại cho mấy anh chị em những điều chú N đã nói, và sau đó bố đã lên mạng kiểm tra lại :

“Trước đây thế giới có 13 nước Xã Hội Chủ Nghĩa, Việt Nam là một. Cuối năm 1989 các nước Đông Âu đồng loạt bỏ CNXH, Liên xô đang gặp khó khăn nên không can thiệp được. Nước mình lúc ấy đang có chiến tranh biên giới với Ttung Quốc và chiến tranh Campuchia, lại bị Mỹ cấm vận nên tình hình hết sức khó khăn. Bộ Chính trị quyết định đề nghị bình thường hóa quan hệ với Ttung Quốc. Nhân dịp ấy, Trung Quốc ép mình sát nhập vào Trung Quốc sau 30 năm. Trước đây bố đã nghe nói đến Hội nghị Thành Đô năm 1990 nhưng bố không tin. Sau khi chú N nói, bố đã lên mạng đọc hồi ký của cựu thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng, cũng nói đến Hội nghị này, có cả ảnh các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười chụp với Giang Trạch Dân, Lý Bằng tại Hội nghị nữa”.

Anh Q nói : “Sát nhập vào thì mình cũng thành công dân Trung Quốc như hàng tỷ người Trung Quốc thôi, có sao đâu bố ?”. Bố trả lời, mặt rất buồn… “Không đâu con ạ ! Các con có biết ý nghĩa năm ngôi sao trên cờ Trung Quốc là gì không ? Ngôi lớn nhất để chỉ người Hán, 4 ngôi sao nhỏ dành cho các dân tộc Mãn, Hồi, Mông, Tạng, là 4 sắc tộc đông nhất trong số hơn 100 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc. Trước đây Mãn, Hồi, Mông, Tạng đều là những nước lớn và rất hùng mạnh. Người Mông Cổ đã thôn tính các nước từ Á sang Âu, cai trị cả Trung Quốc qua hàng thế kỷ. Người Mãn Thanh cũng cai trị Trung Quốc suốt 3 thế kỷ, trong khi họ chỉ coi nước mình là Man Nam xứ hay An Nam nhược tiểu quốc thôi. Bây giờ riêng Việt Nam mình đã 86 triệu dân, trong khi cả 4 dân tộc Mãn-Hồi-Mông-Tạng cộng lại chưa tới 20 triệu người. Các con có biết vì sao không ?. Họ bị diệt chủng ! Trung Quốc đã làm cho các dân tộc khác suy kiệt đi, để không bao giờ có thể giành lại độc lập được nữa. Riêng với Tây Tạng thì từ sau khi bị Trung Quốc chiếm năm 1959, hầu hết đàn ông và con trai Tạng bị đưa đi khai phá các vùng đất ở Tân Cương và Nội Mông, không trở về nữa. Sau này Việt Nam mình cũng sẽ như Tây Tạng thôi các con ạ !”.

Các anh chị đều ngồi yên lặng, Hồng Thúy hỏi : “Không thể khác được hay sao bố ? Con đi biểu tình, thấy nhân dân mình vẫn hừng hực khí thế, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng tuyên bố cương quyết bảo vệ chủ quyền đất nước mà”.Bố lắc đầu, mắt lại ướt đẫm và nói : “Bố cũng hy vọng như thế đấy. Bố già rồi, không còn được bao lâu nữa. Các con nhớ mình là người Việt Nam, phải có trách nhiệm trước sự tồn vong của đất nước và dân tộc”. Nhìn sang bên,Hồng Thúy thấy hai dòng nước mắt chảy dài trên gò má mẹ.

Từ hôm ấy, bố ngồi suốt ngày bên máy vi tính, đọc và viết rất nhiều. Bốn tháng sau bố qua đời. Năm 2014, Trung Quốc đưa dàn khoan 981 vào hải phận Việt Nam, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phản đối kịch liệt, Hồng Thúy lại thấy tin yêu Đảng và không nghĩ đến chuyện bố nói nữa.


Hồng Thuý là kỹ sư làm việc trong ngành điện lực, nhận thấy hầu hết các nhà máy điện và công trình điện quan trọng đều do các công ty Trung Quốc thắng thầu. Các anh chị kỹ sư lâu năm trong ngành thường nói : dòng điện là dòng máu của đất nước, khi có xung đột quân sự, Trung Quốc chỉ cần làm cho các nhà máy và trạm điện ngừng hoạt động thi toàn bộ hoạt động quân sự, kinh tế, xã hội của Việt Nam sẽ tê liệt. Những người nói như vậy đều lần lượt phải ra khỏi ngành điên lực.

Đầu năm 2015, có một việc lớn làm cho Hồng Thuý thức tỉnh : Tỉnh Ninh Thuận và Tập đoàn điện lực EVN đưa ra đấu thầu dự án Nhà máy điện gió Phú Lạc ở Tuy Phong – Ninh thuận. Hồng Thúy chịu trách nhiệm kiểm tra về kỹ thuật các hồ sơ đấu thầu. Nhiều nhà thầu bị loại từ các vòng ngoài, đến vòng cuối còn lại một tập đoàn Đức và hai công ty Trung Quốc. Nếu Trung Quốc thắng thầu sẽ rất nguy hiểm cho nền quốc phòng Việt Nam, vì trong mỗi máy phát điện gió trên cao hàng trăm mét, Trung Quốc đều có thể đặt thêm các thiết bị khác và trở thành một trạm quan sát, trạm thông tin, trạm rada và gây nhiễu các rada khác…(Chính phủ Mỹ đã quyết định cấm sử dụng các máy phát điện gió Trung Quốc trên toàn bộ lãnh thổ Mỹ, Xem “Obama blocks Chinese wind farms in Oregon over security” (Reuters)). Nhà máy điện gió Phú Lạc nằm gần các hệ thống phòng thủ bờ biển nam Trung bộ. Với hàng chục máy phát điện gió, Trung Quốc có thể quan sát và tiếp nhận thông tin đồng thời từ mọi hướng, theo dõi mọi hoạt động quân sự của Việt Nam trên biển và trên đất liền. Nếu xẩy ra đụng độ quân sự, quân đội Trung Quốc hoàn toàn khống chế mọi hoạt động của Việt Nam từ đất liền tới quần đảo Trường Sa. Hồng Thúy đã đề nghị loại bỏ các nhà thầu Trung Quốc, nhưng sau cùng công ty Hydrochina vẫn trúng thầu. Nghĩ rằng UBND tỉnh Ninh Thuận và tập đoàn EVN ăn cánh với nhà thầu Trung Quốc nên Hồng Thuý đã gửi thư trình bày sự việc lên Thủ tướng, Chủ tịch nước, Tổng bí thư ĐCSVN và các Bộ, Ngành có liên quan. Những bức thư đó đều không được trả lời mà Hồng Thúy còn bị đuổi ra khỏi biên chế nhà nước. Đã có một sự thống nhất từ trên xuống dưới về việc giao cho Trung Quốc những công trình tuyệt mật này sao ?

Hồng Thuý càng bức xúc hơn khi cá ở biển miền Trung chết hàng loạt, ai cũng biết do Formosa thải ra chất độc, giám đốc Chu Xuân Phàm cũng đã tự nhận lỗi khi nói : “chọn nhà máy thép hay chọn tôm cá”, hôm sau cả ban giám đốc Formosa còn cúi đầu xin lỗi…“tại hạ đáng chết”… Nhưng rồi Nhà nước lại công bố với báo chí : “Cá chết vì thủy triều đỏ” và cương quyết không cho phép điều tra nguyên nhân. Những cuộc biểu tình nổ ra khắp nơi, tố cáo Formosa phá hoại môi trường, đều bị đàn áp thô bạo. Ngày 30 tháng 6, Formosa tự nhận là thủ phạm và bồi thường 500 triệu USD. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chấp nhận ngay và kêu gọi “đánh kẻ chạy đi, không đánh kẻ chạy lại”, khác hẳn với các trường hợp vi phạm trước đây, thủ phạm đều bị đưa ra xét xử và chịu án rất nặng, bị tịch thu tài sản và lãnh cả án tử hình… Ngay trong việc Formosa nhận lỗi cũng còn nhiều điều vô lý : Formosa nói vì mất điện 4 ngày nên hệ thống lọc ngừng hoạt động, vậy máy bơm hoạt động bằng điện nào để đẩy hàng chục ngàn m³ nước thải độc hại ra biển ?. Tháng sáu Formosa mới hoạt động, nhưng việc thải độc đã xẩy ra từ tháng tư, và lượng chất độc rất lớn, đủ hủy diêt một vùng biển rất rộng, vậy chất độc từ đâu ra mà nhiều thế ?. Chất thải Formosa còn độc hại gấp ngàn lần chất độc da cam trước đây. Nạn nhân không chỉ là thế hệ hôm nay ăn phải cá và muối biển nhiễm độc mà còn di truyền cả cho con cháu sau này. Formosa là khối ung thư khổng lồ, toàn dân Việt Nam đòi cắt bỏ nhưng lãnh đạo nhà nước tìm mọi cách giữ lại. Rõ ràng đàng sau sự kiện là một ý đồ hủy diệt tàn bạo, và đàng sau Formosa là một thế lực rất mạnh, Đảng và Nhà nước VN đang bị thế lực đó điều khiển.

Tháng 6.2016, hai máy bay quân sự Việt Nam bay ra biển liên tiếp bị rớt. Nhiều câu hỏi được đặt ra : Ai đã điều máy bay quân sự ra biển trong lúc Trung Quốc đang tập trận trên biển Đông ? Máy bay chiến đấu luôn xuất phát từng phi đội từ hai chiếc để bảo vệ lẫn nhau, tại sao SU30 phải bay một mình ra biển ? Tại sao anh phi công Cường lại thấy hai tầu chiến Trung Quốc trong hải phận VN khi nhảy dù khỏi máy bay ? Tại sao sau khi nói ra điều này, anh Cường đang khỏe mạnh phải vào bệnh viện và không được đi dự đám tang anh Khải ? Cái gì gây ra vết thương lớn ở đốt sống cổ anh Khải trước khi anh rơi xuống biển ? Máy bay SU30 phát tín hiệu gặp nạn ở bờ biển Nghệ An, ai đã phát lệnh cho máy bay CASA C-212 ra Hạ Long để tìm và rơi ở đấy ? Cả hai máy bay rơi xuống nước đều bị xé tan từng mảnh nhưng chỉ đưa tin máy bay gặp tai nạn, sao không nghĩ rằng máy bay bị bắn hạ ? Tại sao chỉ nói đến việc tìm kiếm và đưa tang, không hề nói đến việc điều tra nguyên nhân máy bay rơi ?. Rõ ràng sự kiện này cũng bị một thế lực rất mạnh dàn dựng. Hai chiếc máy bay quân sự hiện đại của Việt Nam được điều ra biển để làm mục tiêu bay cho hải quân TQ tập trận mà thôi !

Thiếu tướng anh hùng quân đội Lê Mã Lương nói : “Chúng ta đã mất quyền bay trên Biển Đông…” ; Thiếu tướng nguyên phó tư lệnh Quân khu 5 Trần Minh Hùng nói : “Toàn bộ tuyến đường Trường Sa, Hoàng Sa và Võ Nguyên Giáp (từ chân núi Sơn Trà đến phường Điện Nam, xã Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) là tuyệt mật, bất khả xâm phạm, nhưng đã nằm trong tay người Trung Quốc…”. Hai vị trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh tố giác 10 tỉnh phía Bắc cho Trung Quốc thuê 305.535 ha rừng đầu nguồn là :“Hiểm họa cực lớn đối với an ninh nhiều mặt của quốc gia…”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng 165 nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam đã ký giấy phản đối việc cho Trung Quốc khai thác bauxite Tây nguyên là một “Nguy cơ cực kỳ lớn đối với an ninh quốc phòng”. Tất cả đều chỉ là những tiếng kêu vô vọng, không ai có đủ quyền hạn để ngăn chặn những hiểm họa đe dọa sự sống còn của đất nước !

Cũng trong thời gian này, hàng trăm ngàn “khách du lịch” từ Trung Quốc tràn vào các thành phố Đà Nẵng, Hội An, Cam Ranh, Nha Trang… quậy phá. Hàng ngàn hướng dẫn viên du lịch Trung Quốc công khai giới thiệu với du khách Trung Quốc rằng đây là vùng biển của Trung Quốc, lãnh thổ của Trung Quốc đã bị đánh cắp, đang trở lại với Trung Quốc mở ra khăp nơi, cấm người Việt không được bước vào. Trước tất cả các hiện tượng đó, không hề thấy công an hay thanh niên xung phong được điều đến để giải quyết, và chính quyền các cấp hoàn toàn làm ngơ ! Rõ ràng sự việc này cũng bị một thế lực rất mạnh dàn dựng, không phải từ Đà Nẵng, Nha Trang, Hà nội, mà từ Bắc Kinh.

Ngày 12.07.2016, Tòa Trọng tài Thường trực Quốc tế tuyên bố Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để đòi quyền lịch sử với các nguồn tài nguyên bên trong “đường lưỡi bò”. Philippines chỉ là nước nhỏ, bị thiệt hại một phần nhưng đã đứng ra kiện Trung Quốc và đã thắng lợi. Việt Nam với 93 triệu dân, lại là nước bị thiệt hại nặng nề nhất, sẽ mất toàn bộ biển vì “đường lưỡi bò” nhưng không dám làm việc này. Lãnh đạo Nhà nước Việt Nam chỉ còn là những tên tay sai đắc lực của Trung Quốc, đâu nghĩ đến đòi quyền lợi cho đất nước.

Những điều bố Hồng Thuý nói sau khi gặp cố Thượng tướng N. trước đây 5 năm, giờ đây rõ ràng là sự thật. Nếu toàn dân Việt Nam không đứng lên đẩy lùi thế lực đen tối đang điều khiển Đảng và Nhà nước thì Việt Nam sẽ bị sát nhập vào Trung Quốc và dân tộc Việt Nam sẽ bị diệt vong. Thời gian 30 năm kể từ Hội nghị Thành Đô đã gần hết, chỉ còn lại 4 năm nữa thôi. Con tàu Đất Nước đang bị những kẻ phản bội bán rẻ cho một đảng cướp tàn ác và hiểm độc, nhưng hầu hết người trên tầu chưa biết mình đang bị lừa vào chỗ chết !

KÍNH GỬI CÁC CHIẾN SỸ CÔNG AN VÀ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM !

Những sự việc trên đây đã thể hiện rất rõ : Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta đang bị Trung quốc thôn tính. Đội tiền trạm của quân xâm lược Trung quốc đang nấp dưới danh nghĩa những công nhân nhà máy thép, nhà máy điện, công nhân xây dựng, khai thác bauxite, những đội trồng rừng, những thương lái và khách du lịch …đang lộng hành trên khắp dải đất Việt Nam, làm nội ứng cho những binh đoàn Trung quốc sẽ tràn vào cướp nước ta một ngày gần đây.

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước CHXHCN là những kẻ nội ứng nguy hiểm nhất cho giặc. Chính họ đã cấp giấy phép cho Formosa để chúng vào và đầu độc biển Việt Nam. Chính họ đã điều công an, quân đội cải trang thành thanh niên xung phong đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa, để bao che cho Formosa hủy diệt môi trường Việt Nam ; Chính họ đã điều hai máy bay quân sự Việt Nam ra biển Đông làm mục tiêu bay cho hải quân Trung quốc tập trận, để uy hiếp tinh thần các tướng lĩnh và sĩ quan Quân đội NDVN. Vô hình chung chúng ta đang phục vụ cho mưu đồ xâm lược của Trung Quốc. Công an và thanh niên xung phong đàn áp các cuộc biểu tình để bảo vệ cho Formosa, đâu phải để giữ trật tự đường phố ?. Không quân bay ra biển để làm mục tiêu cho hải quân Trung quốc tập trận, đâu phải để bảo vệ biển trời tổ quốc. Giờ đây những nơi đang bị người Trung quốc quậy phá, cần được phục hồi trật tự là Cam Ranh, Đà Nẵng, Nha Trang… chứ đâu phải những cuôc biểu tình ôn hòa bảo vệ môi trường.

Có người nghĩ : chống lại Trung quốc có thể dẫn đến xung đột đổ máu, nhiều người sẽ phải hy sinh ?. Hãy nghĩ lại : nếu không chống lại Trung quốc, đất nước Việt Nam sẽ bị Trung quốc thôn tính, cả dân tộc Việt Nam sẽ bị diệt vong. Chúng ta chỉ còn một con đường duy nhất : đứng lên giữ lấy đất nước để cho cả dân tộc cùng tồn tại.

Cũng có người nghĩ : bây giờ mình tận tụy phục vụ, sau này có thể mình cũng được chính quyền Trung quốc trọng dụng.
Những gì đã xẩy ra ở Tây Tạng thì hoàn toàn ngược lại : cảnh sát và binh lính bản địa là những người đầu tiên bị điều tới những nơi xa xôi để không thể quay về với người Tạng được nữa. Công an và bộ đội người Việt sau này cũng sẽ như vậy, các bạn sẽ bị điều đi rất xa, sau khi Việt Nam bị sát nhập vào Trung quốc. Cảnh sát và quân đội người Hán sẽ đến thay thế các bạn để trấn áp mọi phản kháng của người Việt. Những binh đoàn xe tăng Trung quốc sẽ nghiền nát những đoàn biểu tình của người Việt, như họ đã từng nghiền nát hàng chục ngàn sinh viên Trung quốc ở quảng trường Thiên An Môn năm 1989. Trong số những người bị giết hại sau này sẽ có cả người thân của các bạn đấy ! Cảnh sát và binh lính Trung quốc sẽ thay các bạn đi cưỡng chế người Việt, cướp nhà cướp đất của cha mẹ các bạn để binh lính và dân Hán đến sinh sống.

Chính sách diệt chủng với người Việt sau này chắc chắn còn tàn bạo hơn với người Tạng rất nhiều, vì Việt Nam chúng ta đã từng bị Trung quốc thôn tính nhưng đã giành lại độc lập năm 905, trước đây 1111 năm. Bốn con số 1 liên tiếp như đang nhắc nhở chúng ta : quá khứ đau thương một ngàn năm Bắc thuộc chỉ được phép xẩy ra một lần thôi ! Nều lại chiếm được VN, TQ sẽ không để nền độc lập của VN tái diễn một lần nữa, bằng cách tận diệt người Việt, xóa sạch mọi dấu vết của dân tộc Việt trên mảnh đất này !

Từ nhiều năm nay, chính sách của Trung quốc “mỗi gia đình chỉ có một con” cộng với thói quen “trọng nam khinh nữ” của người Hán đã làm cho số nam ở Trung quốc nhiều hơn số nữ tới trên 200 triệu người. Sau khi đàn ông Việt Nam bị lùa tới các vùng xa xôi phía bắc Trung quốc, hàng chục triệu đàn ông Hán sẽ lao vào Việt Nam như lũ quỷ thèm khát tình dục, bắt vợ và con gái, chị và em gái của bạn làm vợ và làm nô lệ tình dục cho chúng như đa số phụ nữ Tạng ngày nay, không ai ngăn cản được nữa.

Giữa lúc tổ quốc đang lâm nguy, các chiến sỹ quân đội và công an NDVN là những người mà cả dân tộc đang trông đợi. Sức mạnh của đất nước, sự tồn vong của dân tộc đều đang nằm trong tay các bạn và các anh chị. Hồng Thúy tin rằng các bạn, các anh chị sẽ là những người đẩy lùi ý đồ xâm lược của Trung quốc, phá tan âm mưu của những kẻ đang tâm bán rẻ đất nước cho giặc, giữ cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam mãi mãi trường tồn. Nhiều người nghĩ rằng Trung Quốc là siêu cường, Mỹ còn nể sợ, Việt Nam chống lại Trung quốc như trứng chọi đá, chống sao nổi ? Xin đừng quên thế kỷ 13, quân Mông Cổ thôn tính hầu hết các quốc gia trên khắp lục địa Á – Âu, chiếm cả Trung quốc, nhưng cả ba lần đều bị quân dân nhà Trần đánh cho tơi tả phải bỏ chạy. Cũng đừng quên quân Mãn Thanh đã chiếm trọn nước Trung Hoa khổng lồ và nhiều nước lân cận, nhưng đã tan nát trước đoàn quân thần tốc của vua Quang Trung. Dân tộc Viêt Nam với 93 triệu người là sức mạnh vô địch sẽ cùng với các bạn và các anh chị đẩy lùi quân xâm lược Trung quốc một lần nữa. Trước đây tổ tiên ta luôn phải một mình chống trả lũ ác quỷ khổng lồ phương bắc và đã nhiều lần chiến thắng, ngày nay cả thế giới tiến bộ đứng hẳn về phía chúng ta trong cuộc đấu tranh này. Thắng lợi của Philippines tại Tòa Trọng tài Quốc tế ngày 12 tháng 7 vừa qua lại một lần nữa khẳng định điều đó.

Sau khi gửi bức thư này tới các bạn và các anh chị, Hồng Thúy sẽ bị bắt và bị sát hại. Cái chết ấy sẽ góp phần cùng với các bạn và các anh chị giữ mảnh đất này cho con cháu chúng ta mãi mãi về sau, nên Hồng Thuý đã sẵn sàng đón nhận. Mong rằng những lời tâm huyết này sẽ là khúc quân hành nâng bước chân các bạn và các anh chị trong cuộc hành quân vĩ đại vì sự nghiệp thiêng liêng bảo vệ tổ quốc. Hồng Thúy xin gửi tới các bạn và các anh chị những tình cảm yêu quý và kính trọng, như với các anh chị, cha mẹ, ông bà ruột của Hồng Thúy, cũng từng là những quân nhân Việt Nam đã cống hiến hết mình cho đất nước.

Phạm Hồng Thúy (Văn Giang – Hưng Yên)

KÝ-ỨC VỀ GIÁO-SƯ LÊ HỮU MỤC (1925-2017)

posted Nov 11, 2017, 5:51 AM by Le Phan   [ updated Nov 12, 2017, 8:03 AM ]

   

GS Lê Hữu Mục (1925-2017)

    Anh Mục lớn hơn tôi quá một con giáp.. Khoảng cách đó, với số tuổi của chúng tôi ngày nay, không quan trọng lắm, nhưng ngày xưa lúc tôi mới bắt đầu học Tú Tài I (1957-58) thì là vấn đề lớn. Tôi nhìn anh còn hơn cả bậc thầy mình. Anh lúc đó đã có giảng khoa ở Đại Học Huế, đã có sách về Nhất Linh, về Tự Lực Văn Đoàn rất có giá trị mà chính tôi đã nghiền ngẫm để đi thi. Khi tôi mới bước vào ngưỡng cửa của trường Đại Học Văn Khoa thì anh Mục đã có những công trình làm ngẩn ngơ người đọc là bản dịch rất nhuần nhuyễn hai quyển truyện ký viết bằng chữ Hán của người xưa là Lĩnh Nam Chích Quái và Việt Điện U Linh Tập. Hai tập truyện xưa này anh dịch đã rất tài tình, chính xác và rõ ràng lại thêm tài hoa trong cách hành văn. Phần quan trọng bậc nhất là phần dẫn nhập ở đầu sách, giới thiệu toàn bộ nội dung để người đọc nắm bắt được những gì tác giả muốn chuyển giao cho người đọc. Tôi rất khâm phục hai công trình sáng giá này của anh. 

    Khi tôi mới chập chững bước vào việc tìm hiểu chữ Nôm thì anh Mục đã có bản phiên âm quyển Huấn Địch Thập Điều xuất bản do Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Quyển sách nầy cũng vậy, anh Mục chú thích tận tường và đây là một tác phẩm dầu được phiên âm lần đầu tiên, nhưng cho tới ngày nay tôi cũng chưa thấy một chữ nào đáng bàn cãi, khác với những bản phiên âm tuồng hát bội cũng của Phủ Quốc Vụ Khanh mà lỗi phiêm âm sai phải nói là cả lố hay nặng nề hơn: như sao trên trời!

    Trong việc học hành nghiên cứu, anh Mục lúc nào cũng đi trước tôi một đoạn đường dài, chắc chắn bằng kiến thức và bằng tác phẩm chớ không phải đoạn đường dài của thời gian… tôi gọi anh bằng anh vì anh muốn vậy, và tôi giữ cách gọi nầy hơn bốn chục năm nay. Tiếng anh như là tiếng tôn vinh một bậc đàn anh của mình, với sự quí trọng chớ không phải là tiếng gọi bằng anh của sự xưng hô giao tiếp bình thường trong xã hội.

    Cảm tình đó tôi có được là do những tác phẩm của anh: nghiêm túc, sâu rộng, đĩnh đạc... Trong giao tiếp với tính cách bạn bè, hay với tư cách của người nghiên cứu đi sau, nhiều người phàn nàn anh Mục về sự khép kín trong việc trao đổi tài liệu, trách anh thường làm việc một mình, được hỏi về chi tiết nào đó trong lãnh vực nghiên cứu của anh anh ít khi trả lời… tôi tuyệt nhiên không có sự phàn nàn đó. Tôi cho rằng mỗi người đã chọn thái độ sống và phương thức làm việc của mình rồi, người nghiên cứu mà khép kín trong sự giao tiếp trao đổi là vì những lý do riêng của kinh nghiệm tự thân. Ta không thể lấy cách sống của mình mà bắt người khác sống như ta được. 

    Cơ cấu giáo dục Đại Học của VNCH thời 1954-1972 đã ngăn chặn bước tiến thủ của anh Mục về phương diện cấp bằng cũng như ngạch trật. Từ lúc có bằng Cử Nhân, giữa thập niên 50, đến khi anh có thể thi Tiến Sĩ phải mất hơn hai mươi năm. Con đường quá dài và vô lý của kẻ sanh không nhằm thời. Những người có trách nhiệm ở Đại Học thời đó không mở chương trình Tiến Sĩ vì lý do nầy lý do khác. Khi mở thì cũng mở nửa chừng, Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp chớ không phải là Tiến Sĩ Quốc Gia. Nghĩa là rồi sẽ phải thi thêm lần nữa!

    Và tôi được thi cùng luợt với anh nhờ sữ xả cản đó: khóa đầu tiên của Trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn, 1973, dành cho những người đang giảng dạy ở Đại Học Văn Khoa mà chưa có bằng Tiến Sĩ (vì không được đi ngoại quốc, lúc đó người có bằng Tiến Sĩ là những vị may mắn được đi ngoại quốc du học và trở về với bằng Tiến Sĩ, Đệ Tam Cấp hay Tiến Sĩ Quốc Gia, học ít nhứt là bằng Cao học. ) 

    Kỳ thi cuối khóa Năm Thứ Nhất Tiến Sĩ, ban Văn Chuơng Việt Nam, xác nhận rằng các thí sinh đủ điều kiện để trình Luận án Tiến Sĩ, Anh Mục đỗ đầu, Nguyễn Văn Sâm hạng nhì. Kế đó theo thứ tự là Phạm Việt Tuyền (gần đây ở Pháp), Nguyễn Thiên Thụ (hiện đang ở Canada) Phạm Văn Đang (đã mất trên đường biển) …và sau đó còn hai người nữa mà tôi quên tên vì qua lâu ngày và là những vị mà tôi ít cùng sinh hoạt… Hạng nhì sau anh Mục, nhưng tôi biết chắc chắn rằng mình chỉ đáng là học trò của anh về nhiều mặt. Có khi các lứa học trò đầu tiên của anh còn giỏi hơn mình. 

    Khi bàn chuyện với các vị Giáo sư phụ trách kỳ thi nầy, vốn cũng là đồng nghiệp nhiều năm dạy chung một trường, tôi được xác nhận điều đó: Mục nghiên cứu lâu rồi nên có cái nhìn liên ngành, trong vấn đề phải trình bày Mục cũng đào sâu. Sự thông thạo Hán văn, Pháp văn giúp Mục hơn nhiều, hơn xa những người cùng khóa. Sau nầy anh Mục thường tự hào nhắc lại ở nhiều nơi rằng mình đỗ đầu kỳ thi Tiến Sĩ Văn Khoa, khóa độc nhất của Việt Nam Cộng Hòa, tôi cho rằng sự tự hào đó là chính đáng. Vì thời thế, chớ đáng lý ra anh đã đi xa hơn nhiều về mặt khoa bảng, sự khoa bảng được yểm trợ giá trị bằng những công trình đa dạng, đa năng mà anh đã cống hiến cho người chung quanh suốt cả đời mình.

    Anh Mục dạy chánh thức ở trường Đại Học Sư Phạm Sàigòn, phụ trách thêm một phần nhỏ ở trường Đại học Văn Khoa Sàigòn, trường chánh của tôi. Chúng tôi thân nhau vì gặp thường xuyên và cùng có biệt nhãn về sự nghiệp của văn gia Huỳnh Tịnh Của. Thỉnh thoảng hai đứa đem sách của Huỳnh Tịnh Của ra thảo luận bàn bạc, nhiều đoạn đắc ý anh Mục thường cười lớn như trẻ con trong khi tiếng cười bình thường của anh đã là như lệnh vỡ. Giống nhau điểm đó, còn các điểm khác về mặt nghiên cứu anh Mục khác xa với tôi. Khi tôi bỏ tâm huyết và thời gian để viết về các nhà văn Tranh Đấu Chống Pháp của giai đoạn 1945-1954, anh Mục nói tôi làm chuyện vô ích vì các nhà văn đó còn quá mới và giá trị của họ chưa được thời gian thẩm định. Tôi cười tiếp nhận mà không biện bạch, chỉ nghĩ rằng mình là người thẩm định và xác nhận giá trị của những nhà văn nầy trước hơn ai hết, thế thôi. Điều đó có gì sai trái đâu, mọi chuyện đều phải có lúc ban đầu. Cũng như kỳ thi Tiến Sĩ đầu tiên ở nước ta là kỳ thi Thái Học Sinh mà người đậu kỳ đó là Nguyễn Trãi. Nếu hỏi những giám khảo chấm kỳ thi Thái Học Sinh đầu tiên lấy tư cách gì để chấm kỳ thi nầy thì tôi chịu. Chỉ nói rằng mọi chuyện đều cần có cái ban đầu. 
Khi tôi cho in lần đầu tiên quyển Văn Học Nam Hà, (1970) cũng chính anh Mục nói tôi viết được, nhưng mà phải viết kỹ lưỡng hơn nữa, quyển sách có chiều dầy nhưng như là còn sơ lược. Tôi hỏi sơ lược chỗ nào, anh chỉ cho từng chỗ, tôi sẽ bổ sung khi có thể. Anh Mục chỉ cười. ‘Toa phải tự tìm hiểu, moa đâu phải thầy của toa đâu..’ Rồi anh nghiêm chỉnh hơn. ‘Toa có thể đi xa trên đường nghiên cứu, nhưng phải cẩn thận, viết mau, viết sai thì chết, không thể sửa được.’ 

    Tôi biết ơn sự cảnh báo phải cẩn thận của anh. Và tôi ghi tâm mấy chữ nghiên cứu phải cẩn thận, viết mau, viết sai thì chết. Tôi phục cái đức tính đó của anh, chỉ cho đàn em biết được điều cơ bản của việc nghiên cứu. Tôi cũng biết anh đi theo phương châm đó trong những nghiên cứu về văn học của anh.

    Chúng ta không thể dửng dưng liệng đại đùa vào thị trường sách vở những quyển sách đầy sai lầm do sự tất trách. Chôn vùi tên tuổi mình là chuyện nhỏ, nhưng đầu độc người khác bằng những kiến thức sai lạc và những lý luận khiên cưỡng là chuyện không thể tha thứ được. Sách vở còn đó, 30, 50, hay cả trăm năm sau. Nhưng, với tôi, sự cẩn trọng phải có giới hạn, không thể cẩn thận quá đáng để rồi không biết đến bao giờ mới dám cho in tác phẩm của mình. Đến khi về già nếu có muốn in thì tiền bạc cũng như tinh lực không còn bao nhiêu để lo tròn việc in ấn. 

    Sau đại nạn 75, nhiều giáo chức Đại học như hai chúng tôi đều mất trường, mất lớp. Tôi thường ngâm nga cho anh nghe câu thơ tán thán rất là ưng ý nảy sinh khi đạp xe cọc cạch đi ngang trường cũ: Trường này nào phải trường ta/ Liệu mà sửa soạn về nhà đi buôn. Tôi không biết đi buôn, nhưng đã chìm sâu vào sự trống vắng tuyệt cùng, xa cách nghìn trùng với sách vở bảng phấn. Trong khi đó, mỗi khi gặp người chuyên môn về chữ Nôm nổi tiếng từ Miền Bắc vào như GS Nguyễn Tài Cẩn, hoặc sau nầy gặp ở Paris như nhà nghiên cứu Tạ Trọng Hiệp, tôi phần lớn nghe chính từ cửa miệng họ lời thán phục và kính nể bác/cụ Lê Hữu Mục. Có người còn nói với giọng tri ân rằng những chữ nầy chữ kia tôi đọc được là nhờ bác/cụ Mục. Tạo được cái uy tín đó, có được sự tri ân đó sở học và sự suy luận của anh Mục chắc chắn là đã có sức thuyết phục thật nhiều.
Nhiều lần nói chuyện với anh, tôi rút ra mấy quan điểm tôi cho là cần thiết cho người lăn lóc trong môi trường chữ Nôm, do anh Mục khám phá được như là kinh nghiệm thực tiễn: 

1. Chữ Nôm có tích cách lịch đại: Chữ Nôm được viết ra mỗi thời mỗi khác. Khi đọc bản Nôm phải chú ý đến thời đại xuất hiện của nó. Mỗi thời đại có qui luật cấu tạo riêng. Cho những chữ Nôm vào cái khuôn thời đại của nó thì ta dễ đọc hơn dầu là chữ đó ta chưa từng gặp và nó cũng chẳng có mặt trong bất cứ từ điển nào. Lời anh nhấn mạnh: Cụ Hoàng Xuân H. không để ý đến qui luật thời đại mà chỉ để ý đến miền xuất hiện. Miền, chẳng hạn Nghệ An, Hà Tĩnh là một yếu tố không gian, nhưng yếu tố thời gian còn quan trọng hơn, không thể bỏ qua.

2. Không nên lạm dụng ý cho rằng chữ nọ chữ kia khắc sai: Khi khảo sát một tác phẩm, phải cẩn thận, tốt nhất là giới hạn lại cái câu: Chữ này viết sai, phải là thế này. Chắc bản khắc đã lầm, chắc người sao chép đã lộn. Anh Mục nhấn mạnh nhiều lần với tôi: Không gì dễ dàng bằng nói người xưa sai. Họ không cãi được mà người đời nay không bao nhiêu người có thề biện hộ giùm cho họ. Đó mới là điều nguy hiểm vì phần nhiều ta chưa xét đến hết mọi mặt, kết luận chữ đó sai chính thật là ta sai. Cụ Đào Duy A. mắc lỗi này dầu rằng sở học của cụ thiệt là uyên bác, chúng ta rất khó sánh được! 

3. Nên chú ý đến cổ ngữ, cổ âm…: Xét thơ xưa, thơ Nguyễn Trãi, thơ Hồng Đức, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ Vương Tường… phải chú ý đến giọng đọc xưa, lối nói xưa, từ xưa. Cố gắng quên mình là người bây giờ với cách nói, cách suy nghĩ bây giờ của thế kỷ 20, 21, mà đặt mình vào thời cách đây năm sáu thế kỷ, nhứt là để ý đến những nhóm chữ Hán mà người xưa cố gắng dịch ra tiếng Việt. Không hiểu từ mà họ dịch thì ta không thể nào hiểu được chữ Nôm đó, anh muốn nói đến bản Phật Thuyết Phụ Mẫu Báo Ân Kinh, Tân biên Truyền Kỳ Mạn Lục…

4. …Còn nhiều điều nữa tôi lõm bõm nhớ quên trong những lần nói chuyện với nhau qua điện thoại hay trong lúc lái xe nhưng tôi có thể tóm tắt là: Đi vào lãnh vực chữ Nôm thì đừng bao giờ tự hào cho rằng chữ nọ chữ kia mình đọc là đúng, lúc nào có ai gợi ý cách đọc khác thì phải suy đi nghĩ lại nhiều lần… Và nhứt là phải yêu tha thiết cái văn hóa được thể hiện bằng chữ Nôm, quí cái thứ chữ đã bị gạt bên lề thời gian…

    Tôi học được nhiều kinh nghiệm phiên âm của anh Mục. Tôi biết anh làm việc cần cù mỗi ngày. Tôi thông cảm với thái độ của anh khi những lần mình gọi điện thoại cho anh, phải khổ sở nghe anh say mê nói về công việc mình đang làm, nói như là anh đang thuyết giảng mấy giờ liền trước một cử tọa đông đảo. Tôi biết nếu anh cho in hết những công trình anh đã làm về Nôm, về văn học thì có thể tới hơn năm mươi đầu sách. Đó là kết quả của một đời người cặm cụi, đơn độc, say mê và không biết ngưng nghỉ để giải quyết những bài toán khó (1) về nguồn gốc chữ Nôm, (2) về cách đọc một số chữ ai ai cũng bí, (3) về trường hợp thơ Nguyễn Trãi sao có xen lẫn một hàng sáu chữ ở mỗi bài…

    Tôi phục sức làm việc của anh, tôi thương anh nhiều lắm khi anh nói: “Moi đã chết rồi đấy toa, lần đó là chết thiệt rồi đó. Người ta định đem xuống nhà xác rồi. Không biết làm sao mà moa sống lại.”

    Một câu trả lời lóe lên trong đầu tôi: Cho anh sống lại để anh giải quyết những món nợ tự mang về chữ Nôm, về văn học, để anh nêu tấm gương người làm việc không ngưng nghỉ dầu tuổi đời đã quá tám mươi… 

    Riêng tôi, tôi cám ơn anh đã nhiều lần khuyên nên dùng thời giờ viết truyện ngắn với bản sắc và văn phong mà tôi đã vạch ra cho mình, và cách viết đem triết học vào trong văn chương của tôi, cũng cám ơn anh đã coi tôi như người bạn vong niên có nhiều vấn đề trao đổi, nhất là về những tác phẩm của Huỳnh Tịnh Của mà anh biết rằng tôi rất ưa thích.

    Bài viết nầy nguyên là bài viết cách nay 10 năm dành riêng cho quyển tuyển tập về GS Lê Hữu Mục do nhiều người hâm mộ anh viết khi anh còn sống còn rất hăn hái và minh mẫn (đã in ở California), nay được tin anh mới ra đi thiệt sự, tôi chợt thốt lên trong trí mấy tiếng: Ô hô! Ai tai (Than ôi! Buồn thay!) 

    Những năm cuối đời anh Mục thường nói đi nói lại khi tôi gọi thăm nơi anh an dưỡng tuổi già: Bây giờ moi quên hết mọi chuyện rồi toa, mỗi ngày moi đánh piano cho anh em ở đây thưởng thức. Vui lắm và thấy tinh thần thoải mái lắm. Hỏi anh về công trình nghiên cứu Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi mà anh bỏ ra 3 thập niên cần cù nghiền ngẫm anh trả lời như thiền giã: ‘Đừng hỏi mây bận tâm nhớ quên những gì. Mây sẽ không trả lời được. Moi bây giờ thấy lòng mình là mây!’

    Vâng, con người đạt đến độ buông thả rốt ráo thì lòng mình LÀ MÂY chớ không phải NHƯ MÂY. Lòng trống không tuyệt đối, không vướng bận bịu về chuyện trần thế nữa. Sống ngày nào là như nhiên, là vô tâm đến tuyệt cùng ngày đó. Chỉ sống được trạng thái nầy khi thấy rằng mình đã trả xong nợ với đời, với xã hội, tự kết luận rằng mình đã đến lúc ra đi. Ra đi ngay bây giờ hay một hai năm nữa là vấn đề của thể xác, không phải là vấn đề của chính con người tại thế là cái ta đương hiện hữu nầy nữa. 

Ôi! Bao người đạt được cái tâm LÀ MÂY đó!
Tôi thấy mình thua xa anh diệu vợi, anh Lê Hữu Mục ạ!

Nguyễn Văn Sâm
(Phần chánh: Port Arthur, TX, Aug. 01, 2007, 

Thêm đoạn cuối: Victorville, LA, Nov. 07, 2017)


KÝ-ỨC VỀ GIÁO-SƯ LÊ HỮU MỤC

          Giáo-Sư Lê Hữu Mục đã từng ở Huế, và tôi thì suốt thiếu-thời ở Huế, cho nên Giáo-Sư Lê Hữu Mục đã là một phần trong ký-ức của tôi.

          Hồi đó, tôi được động-viên chuyên-môn với tư-cách văn-nghệ-sĩ & ký-giả vào làm việc tại Phòng 5 Bộ Tham-Mưu Đệ-Nhị Quân-Khu, từ tháng 4 năm 1954 đến tháng 10 năm 1956, thời-gian xảy ra nhiều biến-cố sôi-động nhất trong lịch-sử nước nhà.
          Tôi vừa viết bài tuyên-truyền và cũng đích-thân lên xe Tác-Động Tinh-Thần (Moral Action= tiền-thân của Tâm-Lý-Chiến [Chiến-Tranh Tâm-Lý], rồi Chiến-Tranh Chính-Trị sau này) của Đại-Đội Võ-Trang Tuyền-Truyền đi phổ-biến tại các nơi giáp vùng Việt-Minh, vừa phụ biên-tập tuần-báo Tiếng Kèn của ký-giả Lê Đình Thạch, vừa nhập vào toán phóng-sự chiến-trường của nghệ-sĩ Tô Kiều Ngân, vừa viết thời-luận hằng ngày cho chương-trình phát-thanh Tiếng Nói Quân-Đội tại Đệ-Nhị Quân-Khu.

         Tôi được Bộ Tư-Lệnh, do Tham Mưu Trưởng là Thiếu-Tá Trần Thiện Khiêm ký Công-Vụ-Lệnh (bằng tiếng Pháp), cử kiêm-nhiệm Trưởng Ban Phát-Thanh, thông-thường gọi là Trưởng Đài hoặc Giám-Đốc Đài Tiếng Nói Quân-Đội tại Miền Trung, thay-thế nhạc-sĩ Anh-Chương.

          Khi ông Ngô Đình Diệm về nước làm Thủ-Tướng, Trung-Tướng Nguyễn Văn Hinh, với tư-cách Tổng Tham-Mưu-Trưởng Quân-Đội Quốc-Gia Việt-Nam, đã sử-dụng quân-đội để chống lại, với khẩu-hiệu Mười Vé Phi-Cơ cho gia-đình họ Ngô [ra khỏi Việt-Nam], hay là tính-mạng của cả trăm ngàn (?) chiến-sĩ Quốc-Gia?
          Tại Đệ-Nhị Quân-Khu, dưới quyền Tư-Lệnh là Đại-Tá Trương Văn Xương, Phòng 5, do Đại-Úy Đặng Văn An chỉ-huy, cầm đầu các hoạt-động của quân-đội, và cả dân-chúng, chống lại họ Ngô.  Và tôi là người phụ-trách viết bài thời-luận, tuyên-truyền, hiển-nhiên phải nằm trong phe Hinh+Xương.

          Nhưng tôi tự mình tách ra, tránh né âm-mưu của họ, bằng cách không những đã không viết gì chống-đối Ông Diệm, mà còn đả-kích thực-dân Pháp lúc đó đang còn thao-túng chính-quyền Quốc-Gia và có cố-vấn trong Quân-Đội Việt-Nam, đồng-thời đề-cao lý-tưởng tự-do mà Hoa-Kỳ gieo-rắc khắp năm châu.  

          Đài Huế hồi đó phát trên làn sóng rất mạnh, thính-giả nghe rõ cả ngoài Miền Bắc lẫn trong Miền Nam.

          Trong những ngày khởi-sự ủng-hộ Ông Diệm, tôi được người bạn là nhạc-sĩ Ngọc-Linh, từ nhóm thân-Diệm đầu tiên, đến móc nối để lợi-dụng Tiếng Nói Quân-Đội mà củng-cố vị-thế của thủ-tướng đang bấp-bênh trong Nam.

          Tôi biết rõ hơn về nhân-vật Ngô Đình Diệm, lúc đó vẫn còn xa-lạ đối với đại-đa-số đồng-bào, phần lớn là nhờ nhạc-sĩ Ngọc-Linh.
          Thế là tôi công-khai ly-khai, dùng Đài Quân-Đội Miền Trung để chính-thức chống lại Hinh+Xương, tức là chống lại Pháp, và hậu-thuẫn Diệm là người của Thế-Giới Tự-Do tức của Hoa-Kỳ.

           Phe Hinh+Xương phải lập một đài phát-thanh khác, nhưng nhỏ và yếu nên chỉ nghe được quanh Huế mà thôi.

          Kết-quả là Tiếng Nói Quân-Đội của tôi, nghe được khắp nước, nhất là ở Sài-Gòn, đã góp một phần tích-cực tác-động quân-sĩ, trấn-an dân-nhân, ổn-định tình-hình, giúp Ngô Thủ-Tướng thoát cảnh khốn-đốn ban đầu... 

          Nhạc-sĩ Ngọc Linh là bào-đệ của Giáo-Sư Lê Hữu Mục.
          Tôi quen Giáo-Sư Lê Hữu Mục trước tiên là qua nhạc-sĩ Ngọc-Linh.  

          Lê Hữu Mục là một trong số các nhà khoa-bảng/trí-thức hiếm-hoi của Huế thời bấy giờ. Ông dạy đại-học, nhưng ông cũng là một tay chơi đàn tuyệt-vời.

          Chương-trình phát-thanh của tôi, ngoài các mục bình-luận thời-cuộc, tin-tức thời-sự, điểm báo, phóng-sự chiến-trường, quân-nhân tìm hiểu, Anh-ngữ thực-hành (lớp dạy tiếng Anh vô-tuyến đầu tiên cho người Việt-Nam do tôi đảm-trách), thi-ca, kịch vô-tuyến, nhạc ngoại-quốc, cổ-nhạc, dân-ca 3 Miền, đương-nhiên là có tân-nhạc; mà mục tân-nhạc của Đài Quân-Đội Miền Trung hồi ấy thì vượt trội hẳn mục tân-nhạc của Đài dân-sự Huế, vì các tài-năng, nhất là giới trẻ, đều đã đổ dồn qua phía nhà-binh (một phần là do Phòng 5 trả tiền thù-lao cao hơn).
          Các ca-sĩ như Ngọc-Cẩm & Nguyễn Hữu ThiếtKim TướcHà ThanhBạch Yến, v.v... đều hát ở đây trước khi dời vào Sài-Gòn.
          Điều-khiển ban tân-nhạc thì có các nhạc-sĩ tên-tuổi như Lê Quang NhạcƯng LangLâm TuyềnVăn GiảngLê Trọng Nguyễn, v.v...
          Nhưng trong mấy năm có Ngọc Linh giúp tôi ở Đài Quân-Đội Miền Trung thì trên thực-tế Giáo-Sư Lê Hữu Mục là nhạc-trưởng, vì ông có tài sử-dụng và phối-hợp các nhạc-cụ, sắp-xếp chương-trình, giải-quyết các vấn-đề liên-quan.
          Điều đáng nói nhất là Giáo-Sư Lê Hữu Mục chỉ đến chơi đàn với tư-cách nghệ-sĩ và thân-hữu, cống-hiến tài-năng cho thính-giả bốn phương, chứ không phải là bán công trình-tấu để nhận tiền thù-lao.
          Do đó, Giáo-Sư Lê Hữu Mục có nhiều uy-tín hơn và được mọi người kính trọng hơn. 
          Tôi gần-gũi với Giáo-Sư Lê Hữu Mục nhiều hơn là vào thời-gian ông ra tờ tuần-báo Rạng Đông.
          Tôi thấy ông làm mọi việc, hầu như là chủ-nhiệm kiêm chủ-bút kiêm tổng-thư-ký tòa-soạn, đích-thân đọc kỹ từng bài lai-cảo, tìm hiểu từng tác-giả, giải-đáp thắc-mắc cho từng người.
          Thế mà ông còn lo về phần trước-tác của chính ông.
          Trong lúc đó, ông là giáo-sư giảng-dạy tại Viện Đại-Học Huế, nơi có đặc-san Đại Học với sự đóng góp bài-vở giá-trị, nhất là nghiên-cứu văn-học, triết-học, lịch-sử, v.v... của những thành-phần ưu-tú như ông. 
          Riêng với tờ tuần-báo Rạng Đông, tôi được ông giao giữ mục Vườn Thơ.
          Rõ-ràng là ông, nếu không làm thơ, thì cũng là một tay rành về thơ, hơn là chỉ một độc-giả yêu thơ; và ông đã dành thời-gian mời các nhà-thơ đến dự những buổi mạn-đàm về thơ, tại tư-thất ông là nơi dùng làm tòa-soạn của tờ Rạng Đông.

          Trong ký-ức tôi, ít nhất có hai kỷ-niệm vẫn còn đậm nét sau bao khúc quanh thời-gian.

          Từ cuối tháng 10 năm 1956 trở đi, mãn hạn quân-dịch, tôi rời Tiếng Nói Quân-Đội ra khỏi môi-trường văn-nghệ (văn thơ kịch nhạc) của chính-quyền, về lại với ngành Cảnh-Sát Công-An.
          Bên phía Thông-Tin (chủ-chốt văn-nghệ), từ Nha Trung-Phần đến Ty Thừa-Thiên, có chuyện tranh-giành ảnh-hưởng giữa các nhân-vật, đều là nhà-thơ, về các chức-vụ chỉ-huy trong ngành Thông-Tin. Trong khung-cảnh đó, có việc dò-xét moi-móc đời tư của nhau, cốt dìm người khác để mình leo lên.
          Trong một buổi họp tại tòa-soạn tuần-báo Rạng Đông, nhà-thơ Đỗ Tấn (tên thật là Đỗ Tấn Xuân, tác-giả tập thơ Mùa Hoa Sim Nở), đã đùa chỉ tôi mà bảo: Anh là cảnh-sát văn-nghệ đấy nhé!  Nó chỉ có nghĩa là một viên-chức cảnh-sát mà làm văn-nghệ, nhưng nó cũng có nghĩa ngầm là một viên-chức mật-vụ, hoặc văn-nghệ-sĩ mà làm công-tác dò-xét, nhắm chính vào giới văn-nghệ.  Ý hẳn Đỗ Tấn muốn chọt một kẻ nào đó trong số nhà-thơ viên-chức Thông-Tin có mặt trong buổi họp ấy, song câu nói đó làm tôi nổi sùng, vì tôi không ở trong ngành Thông-Tin.
          Tôi thấy Giáo-Sư Lê Hữu Mục có vẻ tinh-ý thông-cảm tâm-trạng của tôi.
          Lát sau, ông lấy ra một bài thơ của tôi, đọc lên, phê-bình với lời ngợi-khen, rồi kết-luận:    
          Thanh-Thanh bao giờ cũng vẫn là Thanh-Thanh.
          Tôi đoán là ông gián-tiếp trả lời Đỗ Tấn giùm tôi, nên tôi thầm cám ơn ông.
          Hồi đó, dân Huế vẫn còn thủ-cựu, nếu không nói là cổ-hủ, lạc-hậu hay quan-liêu.  Đi ra khỏi nhà thì phải phục-sức đường-hoàng, nhét áo trong quần, không mặc sơ-mi chim-cò (có hình, có hoa).  Nói-năng thì phải lựa lời, nhất là tôn-trọng tuổi-tác, địa-vị xã-hội, cấp-chức chính-quyền.
          Những ai tiếp-xúc với Giáo-Sư Lê Hữu Mục, dù không phải là học-sinh/sinh-viên, cũng vẫn gọi ông là giáo-sư, thông-thường thì gọi ông là ông.
          Thế mà, có một hôm, trong buổi họp, nhà-thơ Trần Dạ Từ, đã gọi Giáo-Sư Lê Hữu Mục là anh.
          Tiếng anh mà Trần Dạ Từ, người trẻ tuổi nhất, chưa có sự-nghiệp, dùng để gọi một giáo-sư đại-học, một trong số ít các nhà trí-thức được chế-độ trọng-vọng, đã gây ngạc-nhiên cho nhiều người.
          Trần Dạ Từ thì hồn-nhiên, không để ý gì đến chuyện đó.
          Nhưng khi ra khỏi tòa-soạn Rạng Đông, tôi nghe có tiếng xì-xầm: ông Mục bất-bình vì Trần Dạ Từ gọi ông là anh.
          Dù sao, tôi vẫn không tin là Giáo-Sư Lê Hữu Mục bực Trần Dạ Từ về chuyện đó, bởi ông không hề có ý lập nên một Hội của các nhà-thơ, để giữ chức-vụ Hội-Trưởng hay Chủ-Tịch (như bên Hội Văn-Nghệ-Sĩ và Ký-Giả Miền Trung), không phân-biệt gì khi mời các nhà-thơ đến họp, và trước sau ông cũng vẫn là một người yêu thơ, có tâm-hồn thơ.   

           Về sau, vì hoàn-cảnh chung của Đất Nước, cũng như riêng của cá-nhân, tôi không còn gặp mặt Giáo-Sư Lê Hữu Mục, nhưng vẫn gặp ông trong một số tác-phẩm của ông.

          Về mặt văn-học nghệ-thuật, ông đã đóng góp vào kho tàng Văn-Hóa Việt-Nam nhiều công-trình biên-khảo có giá-trị cao.
          Tuy ở xa ông, nhưng khi đề-cập đến ông, tôi vẫn còn nhớ thời-gian cộng-tác với ông qua tờ tuần-báo Rạng Đông với lòng kính mến như tự ngày nào.

                                                                                 Alameda, Tháng Tư 2007
                                                                                 Thanh-Thanh (Lê Xuân Nhuận)

 


OPEN LETTER • TÂM THƯ

posted Nov 5, 2017, 4:42 AM by Le Phan   [ updated Nov 6, 2017, 2:50 AM ]

   

Dr. Long Nguyen

Hi-Tech Entrepreneur

 Dr. Long V. Nguyen is Founder of Pragmatics, Inc., an information technology firm based in Reston, VA.  He provides overall strategic guidance and direction to senior management in operations, business development and finance. Pragmatics was established in 1985 and delivers innovative solutions to clients in numerous defense and civilian agencies, including the Departments of the Army, Navy, Air Force, Homeland Security, State, Commerce, Treasury, Transportation, and Labor.  Over the years, Pragmatics has performed on more than 1,000 projects for more than 100 different customers.  Pragmatics has been externally appraised at CMMI Level 5 (highest level), one of very few companies (world-wide) at that level.  Pragmatics is also registered for ISO 9001, 20,000 and 27,000.  Prior to Pragmatics, Dr. Nguyen had a distinguished academic career, in which he taught computer science at Georgetown University, Indiana University-Purdue University.

He also served as a member of the Transition Committee for Virginia’s Governor-Elect Tim Kaine in 2005.

A longtime philanthropist, Dr. Nguyen has established relief funds for numerous disasters, including 9/11 victims, an earthquake in Nepal, a typhoon in the Philippines, tornadoes and storms in Oklahoma, an earthquake and tsunami in Japan, Hurricane Sandy, an earthquake in Haiti, and Hurricane Katrina.  Supporting our nation’s wounded veterans and their families is also important to him, and he has made numerous donations over many years to benefit and support them.

For the Vietnamese community in America, Dr. Nguyen:

-       Contributed substantially to the Smithsonian Vietnamese American Heritage Endowment

-       Contributed for 30 years to VN Association for the Handicapped to provide artificial limbs and wheelchairs to wounded warriors in VN

-       Contributed over the years to many organizations such as AALead, Scout Jamborees,  Vietnamese Student Associations   

For the Vietnamese people in Vietnam, Dr. Nguyen:

-       Provided scholarships to students at the University of Ho Chi Minh City

-       Supported a Da Nang Hospital

-       Provided financial support and lunch to poor patients and their families at Hue hospital

-       Provided financial support for cataract operations to poor patients at a Can Tho hospital

-       Built a kindergarten school educating about 150 children

-       Provided about 100 scholarships every year for 20 years

He has created endowments at both George Mason University and Iowa State University in honor of his past academic advisors.  In 2007, he established the Lanh and Oanh Nguyen (his parents) Endowed Chair in Software Engineering at Iowa State University.  In 2009, he and his wife donated $5M to the School of Engineering/IT at George Mason University which names the new Engineering Building after them.

His awards include:

- 2016 Mason Medal from George Mason University

- 2016 Distinguished Alumni Award from Iowa State University

- 2010 Ernst & Young Entrepreneur of the Year

- 2010 Executive of the Year from the Greater Washington Government Contractor

- 2008 Ellis Island Medal of Honor for showing outstanding qualities in his personal and professional life, yet maintaining the richness of his heritage

- 2008 Washington Business Journal Minority Business Leader Award

- 2007 Corporate Leader from The Center for Multicultural Human Services

- 2006 Ernst & Young Entrepreneur of the Year Finalist

- 2006 Leadership Award from the International Leadership Foundation

- 2005 Federal 100 Awardee

- 2005 Executive of the Year Finalist from the Greater Washington Government Contractor Awards

-  2004 “Entrepreneur of the Year” award from the Diversity Advisory Board of George Mason University

- 2004 Citation of Merit from Iowa State University. 

Dr. Nguyen earned his undergraduate degree in physics at North Carolina State University, his master's degree, also in physics, at University of Virginia, and his doctorate in computer science at Iowa State University.

Buổi nói chuyện của Tiến Sĩ Nguyễn Võ Long, Sáng Lập Viên cũng là Chủ Tịch Phong Trào Việt Hưng

posted Nov 2, 2017, 8:57 AM by Le Phan   [ updated Nov 5, 2017, 4:36 AM ]

Ottawa, ngày 1 tháng 11 năm 2017
Kính thưa quý vị,

Từ phương trời xa xăm, chúng ta đã và đang nhìn về quê hương yêu dấu. Đã hơn bốn mươi năm trôi qua với bao thăng trầm đổi thay, từ kinh tế đến giáo dục, từ các phương kế ngoại giao đến việc chỉnh đốn các hạ tầng cơ sở trong nước, liên tục đổi thay cho thích hợp với trào lưu quốc tế. Một trong những thay đổi đó là sự ồ ạt đầu tư vào Việt Nam, một đất nước rất giàu về tài nguyên thiên nhiên. Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã hoa mắt trước những số tiền đầu tư khổng lồ và đã mở rộng cửa cho ngoại bang vào Việt Nam, trong đó đại đa số là bọn Tàu Trung Cộng. Chúng là những người đồng chí của đảng Cộng Sản Việt Nam, lợi dụng sự kính nể và nhu nhược trong đường lối bang giao của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. 

Về mặt quân sự Trung Cộng xua quân xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đưa hạm đội Trung Cộng vào trấn áp biển Đông. Về mặt kinh tế ngoại giao Trung Cộng thuê nhượng và đưa nhân công vào khai thác một cách vô trách nhiệm các khu vục giàu tài nguyên thiên nhiên. Lợi dụng sự kiểm soát yếu kém của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, họ âm thầm đưa vũ khí vào VN để thành lập và bảo vệ các khu tự trị như ở Tây Nguyên và Hà Tỉnh. Đó chưa kể những sự đầu độc và phá hoại môi trường của những công ty ngoại quốc đầu tư vào VN. Viễn cảnh thật đen tối cho đất nước VN chúng ta, không biết lúc nào sẽ mất vào tay Trung Cộng. 

Kính thưa quý vị, Cộng Đồng Người Việt Ottawa hân hạnh giới thiệu đến quý vị một tổ chức mới được thành lập tại Hoa Kỳ đó là Phong Trào Việt Hưng (https://www.viet-hung.org) và chúng tôi sẽ tổ chức một buổi nói chuyện của Tiến Sĩ Nguyễn Võ Long, Sáng Lập Viên cũng là Chủ Tịch Phong Trào Việt Hưng. Đây là chuyến công du đầu tiên ngoài Hoa Kỳ của ông và Ban Chấp Hành Phong Trào Việt Hưng, ông sẽ có cơ hội trình bày về mục tiêu, tôn chỉ và đường lối của Phong Trào Việt Hưng dưới phương châm: Đuổi Tàu Cứu Nước.

Kính mời quý vị tham gia buổi nói chuyện do Cộng Đồng Người Việt Ottawa tổ chức vào lúc 9 giờ 30 sáng ngày thứ Bảy 25 tháng 11 năm 2017 tại Tom Brown Arena, số 141 đường Bayview Rd, Ottawa. Chúng ta sẽ có dịp chào đón và cổ võ cho những người nặng lòng với dân tộc Việt Nam, những người ái quốc trước nguy cơ của đất nước. Những mối ưu tư của những người con Việt xa quê cha đất tổ, sẽ giúp chúng ta đoàn kết thành một tập thể vững mạnh, tranh đấu cho tiền đồ đất nước trước hiểm họa xâm lăng từ phương Bắc.

Thân ái chào đoàn kết và hẹn gặp lại quý vị trong buổi nói chuyện sắp tới.

Thay mặt Ban Chấp Hành và Hội Đồng Quản Trị
Cộng Đồng Người Việt Ottawa

Lê Phan

Buổi chiếu Film "Chân trời tím" tại rạp Imagine Cinemas, Ottawa

posted Nov 2, 2017, 8:47 AM by Le Phan   [ updated Nov 2, 2017, 9:04 AM ]

Tôi đi xem phim Chân Trời Tím tại San Jose. 

Buổi chiếu Film "Chân trời tím" vào sáng Chủ Nhật Vừa qua do Dân Sinh Media thực hiện - thật thành công như mong đợi . 

Lần đầu tiên hội trường của quận hạt Santa Clara đã đông nghẹt, khoảng 500 người, phải kê thêm ghế xếp, chưa kể một số khán giả đến trễ cũng đành đứng chen vào hết những góc còn trống của lối đi. Đa số thành phần khán giả thuộc hàng trung niên và cao niên, nhưng chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi được biết rất ít người đã xem qua phim này tại Saigon trước đây, mặc dù họ có nghe nói, hoặc có đọc qua tiểu thuyết cùng tựa đề của nhà văn Văn Quang. 
 
 

Cũng trong dịp này , Chúng tôi may mắn được dịp phỏng vấn trò chuyện với 3 nhân vật đã hợp tác với Chân trời tím : 
1. Cô Lệ Hiền, người đã lồng tiếng (Voice over) cho 2 nữ tài tử Kim Vui và Mộng Tuyền. Cô có chất giọng thật ngọt ngào, nghe ấm áp , mát rượi và có thể diễn tả tài tình tâm lý các nhân vật nữ qua giọng của cả 3 miền. Được biết Cô Lệ Hiền, một xướng ngôn viên đài phát thanh ngày xưa, đã là giọng nói lồng tiếng độc quyền cho Mỹ Vân Film trong suốt gần 20 năm. Cô đã đảm nhiệm vai trò lồng tiếng cho tất ca các vai nữ trong phim, già trẻ lớn bé, nam trung bắc. 

2. Họa sĩ Trương Thị Thịnh, từng là giáo sư hội họa trường cao đẳng mỹ thuật của Saigon trước 75, cũng là người đã vẽ chân dung bức tranh khỏa thân của nhân vật tên Liên do tài tử Kim Vui thủ vai chính. Bức tranh đó được Cô Kim Vui giữ riêng và mãi đến năm 2012, Bà mới tình cờ gặp lại Kim Vui và đích thân ký tên lên bức tranh sau 40 năm lưu lạc. 

3. Đại Tá không quân Trần Đỗ Cung, năm nay 94 T, chịu khó ngồi xe lăn đến xem Film. Tôi không khỏi bùi ngùi nhớ lại hình ảnh Trung Tá Lạc oai hùng do chính DT Đỗ Cung đóng ngay ở cảnh đầu lúc vừa vào Film, trong vai cấp chỉ huy của Hạ sĩ Phi (do Hùng Cường làm tài xế lái xe Jeep cho ông).

Khán giả lớn tuổi bày tỏ sự xúc động, thấy lại phần đời nào đó của mình, trong cuốn Film này. Khán giả trẻ chia xẻ sự ngạc nhiên hâm mộ khi xem một cuốn Film VN được thực hiện từ lúc họ chưa ra đời, với kỹ thuật, hình ảnh màu sắc và các tài tử diễn xuất đều đẹp và chuyên nghiệp , ngoài sức tưởng tượng. 

Riêng tôi, xem lại lần thứ 2 tại hải ngoại, tôi không cầm được nước mắt xót xa ở một vài đoạn, đặc biệt lúc tiền đồn 12 xảy ra trận đánh kịch liệt. Rồi có lúc chảy nước mắt cảm động và hãnh diện nhìn thấy lại hình ảnh oai hùng của các quân nhân trên đường phố thủ đô đây đó lúc về phép, hình ảnh phố xá Saigon năm xưa, tiền đồn heo hút, hàng rào kẽm gai, dấu tích chiến tranh, nguyên nhân oan trái của sinh ly tử biệt một thời. Nhưng có lẽ xúc động nhất khi nghe tiếng hát Thái Thanh cất lên " Ôi chỉ là giấc mơ thôi, nghe tình đang chết trong tôi...  và ai qua đời  tôi chiều âm vang ngàn sóng trên lối về nghĩa trang... "  Nửa hồn thương đau và người đi qua đời tôi, hai nhạc phẩm được Phạm Đình Chương viết riêng cho cuốn Film, sau 45 năm đã cùng với tiếng hát huyền thoại Thái Thanh trở thành bất tử. 

Tôi rất thích designs của những chiếc áo dài do Kim Vui và Mộng Tuyền mặc mà tôi đoán do nhà may Thiết Lập trên đường Pasteur thiết kế,  thật sang trọng và lộng lẫy như một thời Saigon - hòn ngọc viễn đông, văn minh, văn hóa và lịch lãm. Ôi ngày ấy biết tìm đâu, đâu giờ? 

Một cuốn phim thực hiện công phu, tốn kém, với sự góp mặt của nhiều tài tử nổi tiếng mà chắc hầu hết chúng ta sẽ khó có dịp tương phùng: Hùng Cường, Bà Năm Sa Đéc, Khả Năng, Ngọc Phu, Bảo Ân, Mộng Tuyền, Ánh Nga. Một cuốn phim đáng xem, gợi lại nhiều kỷ niệm đáng quí, đáng gìn giữ trân trọng. 

Xin hãy cùng chúng tôi bảo tồn nền điện ảnh VNCH bằng cách tích cực ủng hộ Mỹ Vân Film USA, nhằm tạo điều kiện, để chúng tôi tiếp tục khôi phục những bộ phim giá trị kế tiếp.

Xin hãy đón xem CHÂN TRỜI TÍM, lần đầu tiên được công chiếu tại Theatre Rialto, Montreal trưa thứ bảy 25 tháng 11 lúc 1 pm. Và lần đầu tiên tại rạp Imagine Cinemas, Ottawa, 1200 St Laurent Blvd, Ottawa, từ 1 giờ đến 4 giờ ngày Chủ Nhật 26 tháng 11 năm 2017.

Thái Hà 


1-10 of 330