Âm Nhạc & Nghệ Thuật • Music & Arts


Sưu tầm văn học nghệ thuật: Nguyễn Ngọc Duy Hân

posted Mar 29, 2020, 5:53 AM by Le Phan

Hân hạnh giới thiệu 
Nguyễn Ngọc Duy Hân
Một nhà thơ, một nhà văn cũng là một họa sĩ, Duy & Hân hiện định cư tại Toronto, Canada. Các bút hiệu: Trịnh Tây Ninh, Ái Miên, Nguyễn Ngọc Duy Hân, Nguyễn Ngọc Duy

Tuyển tập gồm 100 bài viết đã đăng trên tuần báo Thời Mới Canada, từ số 101 tới 199 - viết trong khoảng tháng Ba 2018 tới tháng Ba 2020.  Mỗi trang là một bài viết ngắn, có khi chen vào vài câu thơ hoặc câu danh ngôn, cũng có khi là câu chuyện bằng tranh cho trẻ em học tiếng Việt.

Mời bấm vào đọc sách dạng e-book, lật từng trang như sách thật
Nếu ô quảng cáo hiện ra, bấm X để tắt đi.


Mời bấm vào xem Viết Cho Yêu Thương # 2 dạng PDF

Tuyển tập "Viết Cho Yêu Thương" số 1 gồm 100 bài từ số 1 tới 100 


Về Miền Quá Khứ - Tập Nhạc Chép Tay
Đây là tập nhạc Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, nhạc Tiền Chiến và nhạc Trẻ thời đó được chép bằng tay.

Thời gian sau 1975, sách, nhạc Vàng bị đốt, mấy chị em đi mượn và bỏ giờ ra ngồi chép lại từng bản nhạc để giữ làm kỷ niệm. Tính tới nay sách đã cũ hơn 40 năm.

Mời bấm vào đọc Tuyển tập "Những Viên Sỏi Nhỏ" 

"Đất Cũ" tập chuyện ngắn - Duy Hân thực hiện

Nỗi Niềm Riêng Ta - Tập thơ bút hiệu Trịnh Tây Ninh

Mời bấm vào xem trang blog của Duy Hân, gồm thơ nhạc, slideshow, hình ảnh

Bản Quốc ca "O Canada!" lời Việt

posted Feb 27, 2020, 4:52 PM by Le Phan

Vidéo YouTube


Toronto, 2017-06-27
Thư gửi quý vị lãnh đạo tôn giáo, hội đoàn và chủ biên báo chí truyền thông.

Kính thưa quí vị,

Chúng tôi được biết Toronto Symphony Orchestra nhân dịp kỷ niệm Canada 150 năm lập quốc đã thâu hình và phổ biến Quốc ca Canada hát bằng 12 thứ tiếng trên TSO Canada Mosaic Web site (http://canadamosaic.tso.ca/anthem/). Do đó chúng tôi đã có dự án soạn và phổ biến lời Việt cho bản Quốc ca Canada để cộng đồng người Việt của chúng ta có thể góp mặt với các sắc dân khác trên trang mạng của TSO.

Kết quả khởi đầu của dự án chúng tôi gồm có:
-  Lời Việt bản Quốc Ca "O Canada!" do Bắc Phong soạn.
-  Bản dịch lời Việt Quốc ca Canada sang tiếng Anh của Nguyễn Đình Phương.
-  Bản Quốc ca "O Canada!" lời Việt dưới dạng MP3 do Đoàn Chính hát với nhạc đệm của dàn nhạc giao hưởng TSO.
-  Youtube video bản Quốc ca "O Canada!" lời Việt (https://www.youtube.com/watch?v=6BLN9xnuvRE)

Chúng tôi đã liên lạc với Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải và được ông khích lệ cũng như yểm trợ tích cực dự án qua những hành động cụ thể như:
-  Đệ trình lên thượng viện Canada ngày 20 tháng sáu bản quốc ca Canada lời Việt để được ghi nhận và lưu trữ.
-  Phổ biến bản Quốc ca Canada lời Việt trên trang Web của ông (http://senatorngo.ca/).
-  Viết văn thư cho TSO yêu cầu họ phổ biến thêm bản tiếng Việt Quốc ca Canada lên trang mạng TSO.

Chúng tôi hy vọng dự án này cũng sẽ gây được sự hưởng ứng sâu rộng trong cộng đồng để chúng ta sẽ có thể cùng hát bản quốc ca Canada bằng tiếng mẹ đẻ mỗi khi chào cờ Canada trong những buổi sinh hoạt cộng đồng.  Chúng ta có thể hát bản quốc ca Canada bằng tiếng Việt hay bằng tiếng Anh, Pháp cùng với tiếng Việt tùy theo tinh thần và phương thức tổ chức của mỗi buổi sinh hoạt.

Do đó chúng tôi viết thư này để thỉnh cầu sự trợ giúp của quý vị trong việc giới thiệu bản Quốc ca Canada lời Việt đến tất cả những Cộng đồng người Việt tại Canada bằng cách:
-  Phổ biến bản ký âm Quốc ca Canada lời Việt trên báo chí và trang mạng truyền thông.
-  Phân phối bản in nhạc Quốc ca Canada tiếng Việt cho đồng bào trong các buổi sinh hoạt cộng đồng và mời đồng bào hát theo nhạc phát thanh.

Trong tinh thần phục vụ cộng đồng bất vụ lợi, chúng tôi rất mong được quý vị yểm trợ để dự án này được hoàn thành tốt đẹp nhân dịp kỷ niệm 150 năm lập quốc Canada.

Trân trọng,


Đinh Ngọc Bôi, điều hợp viên dự án 
Trần Thái Lực, thành viên
Nguyễn Đình Phương, thành viên
Đoàn Chính, thành viên
Kiều Duy Phong, thành viên
Nguyễn Hải Việt, thành viên

TS TRƯƠNG CÔNG HIẾU VỚI CÔNG TRÌNH TRƯỜNG TIỀN NƠI KINH THÀNH OTTAWA

posted Nov 25, 2019, 8:07 PM by Le Phan

TS TRƯƠNG CÔNG HIẾU VỚI CÔNG TRÌNH

TRƯỜNG TIỀN NƠI KINH THÀNH OTTAWA 


     

Ngày 17/11/2019, Liên Hội Người Việt Canada và Cộng Đồng Người Việt Ottawa dành cho tôi vinh dự thuyết trình giữa lòng thủ đô Canada. Nghi thức chào quốc kỳ Canada và VNCH do ban Thủ Đô đồng ca là một sự tiếp nối giữa quê nhà và quê người. Trong số đồng bào ưu tư về tiền đồ đất nước tham dự có những vị đến từ Little Saigon bên nước Mỹ và các đô thị cận kề như Montréal, Québec ; còn lại là kinh thành Ottawa. Trong số các thân hữu hiện diện có tiến sĩ Nguyễn Hải Bình, nguyên giáo sư Đại học Luật Khoa Saigon tiêu biểu cho giới sĩ phu của VNCH cùng với phu nhân là nhà văn Nguyễn Lệ Châu, luật sư Lâm Chấn Thọ, người khởi xướng việc phục hoạt hiệp định Paris 1973, tiến sĩ Trương Minh Trí của Liên Hội Người Việt Canada, nhà hoạt động cộng đồng Lê Phan, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Ottawa, tiến sĩ Trương Công Hiếu và phu nhân Hiếu Tâm. Ngày hôm sau (18/11), tiến sĩ Trương Công Hiếu, nhà nhiếp ảnh Trần Hy Hiền, trưởng nam của GS Trần Chánh Thành, cựu ngoại trưởng VNCH, hai thân hữu Lê Phan và Chung Thế Hùng đã hướng dẫn tôi đi thăm một số di tích lịch sử của kinh thành Ottawa, trong số có cầu Trường Tiền.

Thật đúng là duyên kỳ ngộ, ‘‘hữu duyên thiên lý năng tương ngộ’’ (有緣千里能相遇), vì cái tên ‘‘Trường Tiền’’ (場錢) có cấu trúc gần giống cầu sắt Alexandra nối liền Ottawa và Gatineau.

Hữu duyên, vì cái tên tiền định ‘‘Trường Tiền’’ của cố đô Huế còn có nghĩa là xưởng đúc tiền. Cầu ‘‘Trường Tiền’’bắc ngang sông Hương có từ năm 1899. Trường Tiền có nghĩa là xưởng đúc tiền. Đồng tiền do cơ xưởng đúc có bốn chữ Cảnh Hưng Thuận Bảo :   

Ngoài cây cầu Trường Tiền, thủ đô Ottawa còn có xưởng đúc tiền (mint). Anh Lê Phan đã giới thiệu sở Trường Tiền của kinh thành Ottawa như sau : ‘‘Trong quyển sách ‘‘Lịch sử 100 năm của Nhà máy Đúc tiền Hoàng gia Canada’’ (Royal Canadian Mint 100 Years of History), tiến sĩ Trương Công Hiếu đã được ghi nhận là người đầu tiên trên thế giới đã thay đổi hệ thống đúc tiền bằng những kỹ thuật dùng kim loại và thép để làm cho đồng tiền mỏng hơn, nhẹ hơn và không bị rỉ sét.’’ (trích website Viet Vancouver).

Hình chụp tiến sĩ Trương Công Hiếu trên tựa đề bài viết, phía trái đen trắng khi còn ở quê nhà, mắt hướng về tương lai. Phía bên phải nơi xứ người, mắt nhìn về cố hương. Năm 2006, ông đảm nhận chức vụ Tổng Giám Đốc Kỹ thuật của Sở Trường Tiền Canada (Royal Canadian Mint). Ngày 16/03/2018, vị Toàn quyền Canada ban tặng cho ông Huân chương Canada (Ordre du Canada). Huân chương này có từ năm 1967 là huy chương cao quý nhất của Canada, tưởng thưởng những vị cống hiến những công trình đặc biệt cho đất nước Canada.

 Anh Lê Phan còn cho biết tiến sĩ Trương Công Hiếu đã có công :

- tinh chế 4 số 9 (.9999), được dùng làm tiêu chuẩn quốc tế từ năm 1982 ;

- phát minh [COLOR=maroon], kỹ thuật sản xuất tiền xu với hình ảnh ba chiều (hologram).

Tôi có vinh dự được tiến sĩ Trương Công Hiếu trao tặng đồng tiền Canada, một công trình tim óc của tiến sĩ, được tác giả Albert M. Bech ghi nhận như sau :

‘‘Trong 40 năm vừa qua, người có nhiều công lao nhất trong sự tiến bộ về ngành đúc tiền, người đã đóng góp nhiều nhất những kiến thức mới về ngành đúc tiền trên thế giới chính là Tiến sĩ Trương Công Hiếu của Sở Đúc tiền Hoàng gia Canada (trích Story of World Money Fair, Berlin).

Nhờ sáng chế của tiến sĩ Trương Công Hiếu, đồng tiền Canada phát hành năm 2010 còn đem cả chiếc lá Érable nhuộm đỏ, quốc huy của Canada, sát cánh cùng (érable) sắc vàng, quốc kỳ VNCH.

Biểu tượng vừa kể mà tiến sĩ Trương Công Hiếu thể hiện trên đồng tiền Canada chính là hành trình từ quê nhà đến quê người của ông, làm rạng danh quê cha đất tổ, nơi có cây cầu Trường Tiền bắc ngang đất Thần Kinh.

Tôi mạo muội có bài đường thi cổ kính, riêng tặng tiến sĩ Trương Công Hiếu và phu nhân, để ghi lại kỷ niệm kinh thành Ottawa, nơi có Cơ xưởng Trường Tiền Hoàng gia Canada :

 

Sắc thắm hoàng kỳ mãi vẫn kiêu

Đồng tiền ‘‘Tiến sĩ’’ Hiếu in nhiều

‘‘Trường Tiền’’để lại cho nhân thế

Phát minh tiền bạc có ba chiều

Trí tuệ quê nhà được kính nể

Tâm huyết họ Trương có tuyệt chiêu

Lá vàng Érable, quê hương Việt

Phất phới tung bay thật mỹ miều.

 

 

 

Paris, 25/11/2019

Niagara Thác Đổ

posted Nov 25, 2019, 7:58 PM by Le Phan

Niagara Thác Đổ


Còn hơn hai tháng nữa, tôi mới có dịp đến thuyết trình ở Ottawa nhưng Niagara thác đổ dường như đã ầm vang trong tâm tưởng. Niagara Canada khiến tôi bồi hồi nhớ lại  Gougah của Đà Lạt năm xưa, tuy không hùng vĩ bằng, nhưng còn mang nguyên vẹn nét hoang sơ của núi rừng cao nguyên.

Niagara trong ký ức tôi, ngoài tiếng thác đổ, còn là bút ký của Chateaubriand. Năm 2009, Sébastien Baudoin soạn luận án tiến sĩ về ‘‘La poétique du paysage dans l’œuvre de Chateaubriand’’ nói nhiều về chất thơ trong văn Chateaubriand.

Đoạn văn ‘‘Dans les forêts du Nouveau-Monde’’ mở đầu bằng một ý tưởng chen lẫn giữa nhạc và thơ như sau : ‘‘Một đêm lạc bước trong khu rừng ngút ngàn, không xa thác Niagara ; tôi chợt thấy ánh chiêu dương tắt dần và cảm nhận trong nỗi cô liêu của núi rừng, cảnh trí tuyệt đẹp một đêm nơi miền hoang dã của Tân Thế Giới.’’

Trong đoạn cuối, tác giả chuyển hóa bút ký thành một tấu khúc tuyệt vời : ‘‘Auprès, tout était silence et repos, hors la chute de quelques feuilles, le passage brusque d’un vent subit, les gémissements rares et interrompus de la hulotte ; mais au loin, par intervalles, on entendait les roulements solennels de la cataracte de Niagara qui, dans le calme de la nuit, se prolongeaient de désert en désert, et expiraient à travers les forêts solitaires.’’

Chateaubriand sử dụng bảy nốt nhạc trong thang âm, nốt rê lưu lạc gặp lại nốt rê cố cựu (gamme dorienne). Nào ta hãy cùng nghe khúc nhạc dồn của tiếng thác Niagara, qua ngòi bút Chateaubriand :

‘‘(enten)dait, (prolon)geaient, (dé)sert, (dé)sert, (expi)raient, (tra)vers, (soli)taires.’’

Đó chính là tiếng thác đổ ngoài thiên nhiên và trong trong ngôn ngữ : ý tại ngôn ngoại (意在言外).

Về ngôn từ, Chateaubriand viết ‘‘cataracte’’ thay vì ‘‘chute’’. Cataracte, gốc hy lạp, ghép lại hai chữ ‘‘kata’’ (bên dưới) và ‘‘rasso’’ (vỡ tan), vẽ nên một bức tranh nhân sinh. Ngọn nước từ lưng trời, đổ xuống thế nhân, vỡ tan thành bụi mờ trắng xóa.

Tác giả dùng thì ‘‘imparfait’’, gốc tiếng latin, có nghĩa là dang dở. Cách dụng ngữ tượng thanh, là tiếng thác đổ tiếp nối chập chùng, giống như khúc đàn dang dở : ‘‘Symphonie inachevée’’.

Đoạn văn của Chateaubriand rất khó dịch, tôi mạo muội chuyển ngữ với 7 chữ vần trắc : ắt, thể hiện bảy nốt nhạc trong nguyên bản tiếng Pháp.

‘‘Quanh đây hoàn toàn tĩnh lặng, ngoài vài chiếc lá rơi xào xạc, một cơn gió thoảng qua, tiếng chim rừng nức nở. Ngoài chốn xa, tiếng thác Niagara từng chặp đổ xuống hùng vĩ, trong đêm khuya vắng ngắt, nỗi se sắt chạy dài trong hoang vắng triền miên, chìm lắng giữa núi rừng vắng lặng.’’

 

Ý thơ của Chateaubriand hóa thân vào vần thơ Việt :

 Từ trời thác đổ xuống sườn non

Quạnh quẽ duyên trao phận mỏi mòn

Tháng đợi năm chờ sầu lặng lẽ

Duyên kiếp lỡ làng nước cuốn tuôn.

 

Rừng cây bát ngát quanh triền đá

Lẳng lặng mà nghe thác đổ dồn

Biếng nhác chim rừng buồn chẳng hót

Mây bay gió cuốn tựa cung đàn !


Cầu Trường Tiền...

posted Nov 25, 2019, 7:54 PM by Le Phan

CẦU TRƯỜNG TIỀN
   
 
Quốc Văn Giáo Khoa Thư kể lại câu chuyện như sau :
 ‘‘Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, làng xóm, láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi : Ông đi du sơn du thủy, thế tất đã trông thấy nhiều cảnh đẹp. Vậy ông cho ở đâu là thú hơn cả. Người du lịch đáp lại rằng : Cảnh đẹp mắt tôi trông thấy đã nhiều, nhưng không đâu làm cho tôi cảm động, vui thú bằng lúc trở lại chốn quê hương, trông thấy cái hàng rào, cái tường đất cũ kỷ của nhà cha mẹ tôi. Từ cái bụi tre ở xó vườn, cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi ra cho tôi những mối cảm tình chứa chan, kể không sao xiết được.’’

Khách du lịch đã nói thay tâm trạng người viễn xứ. Sau chiều 17/11/2019 thuyết trình, do Liên Hội Người Việt Canada và Cộng Đồng Người Việt Ottawa tổ chức, tiến sĩ Trương Công Hiếu, họa sĩ Lê Phan hướng dẫn tôi đi thăm thủ đô Ottawa. Phía sau Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật phủ lớp tuyết trắng xóa, anh Lê Phan dẫn tôi đến ven sông, chỉ cho xem chiếc cầu sắt phía xa mà anh đặt tên là cầu Trường Tiền. 

Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy sen thì nhớ đồng quê Tháp Mười.  

Còn người bạn tri kỷ ở Ottawa, thấy cây cầu sắt bắc ngang sông Ottawa, lại nhớ cầu Trường Tiền xứ Huế : 
‘‘Cầu Trường Tiền sáu vài, mười hai nhịp
Em qua không kịp tội lắm anh ơi
Mấy lâu ni mang tiếng chịu lời
Có xa nhau chăng nữa, cũng tại ông trời mà xa’’

Cầu sắt Alexandra nối liền thủ phủ của Canada (Ottawa) và tỉnh lỵ Gatineau, dài 6 nhịp (arches). Cầu Trường Tiền bắc ngang sông Hương có 12 nhịp, từ thời vua Lê Thánh Tôn kết bằng song mây, sau đổi thành gỗ, mãi đến đời vua Thành Thái, kỹ sư Gustave Eiffel mới biến thành thép vững vàng.

Khi viết về mảnh đất quê hương, nhà văn Chateaubriand cho rằng sỏi đá cũng phải ngậm ngùi : ces cailloux, qui prennent la parole, offrent de plus une sorte de personnification presque inconnue. Huống hồ là cây cầu bắc ngang đất Thần Kinh, gợi nhớ Bát nhã Tâm kinh : Gate, gate, paragate, parasamgate, Bodhi, svaha. (Vượt qua, vượt qua, vượt qua bờ bên kia, hoàn toàn vượt qua, hoàn toàn giác ngộ). Khi đặt tên cho cầu sắt bắc ngang sông Ottawa là Trường Tiền (場錢), hẳn là anh Lê Phan nhớ đến Vài nét Huế của nhà thơ Nguyễn Bính :

Cầu cong như chiếc lược ngà
Sông dài mái tóc cung nga buông hờ
Đôi bờ đôi cánh tay vua
Cung nga úp mặt làm thơ thất tình.

Ở đây áo tím riêng màu
Bài thơ nón mỏng che đầu mỹ nhân
Loanh quanh xóm vắng, đường gần
Ấy ai làm dáng phi tần với ai.

Con sông không rộng mà dài
Con đò không chở những người chính chuyên.
Ở đây có nước sông Hương 
Có cây núi  Ngự, có đường Nam Giao.

Bồng bềng sáu nhịp cầu cao
Thờ ơ bóng mát nơi nào cũng xanh
Thâm u một dải hoàng thành
Đình suông con én không đành bay đi.

Con sông không rộng mà dài. Từ Bằng Lăng đến cửa Thuận An dài 33 km, so với sông Ottawa dài 1.197 km. Nhịp cầu uốn cong trông giống chiếc lược ngà. Chính vì hình tượng đó, cầu Alexandra mới hóa thân thành cầu Trường Tiền trong tâm tưởng người Việt viễn xứ.

Vì đã hứa với anh Lê Phan sẽ làm một bài thơ mang tên Cầu Trường Tiền, tôi xin có bài thơ đề tặng như sau :

Vắt vẻo cầu cong bắc ngang sông
Mười hai bến nước vẫn ngóng trông
Lạc nơi xứ lạnh toàn là tuyết 
Cây cành nặng trĩu những hoài mong.

Trường Tiền xứ Huế dấu bên song
Mây trôi nước cuốn vẫn trinh trong
Qua thôn Vỹ Dạ, cầu Gia Hội
Cuốn theo tâm sự nhịp cầu cong.

Hương giang chảy miết đến phương Đông
Cuốn theo lau lách bám ven sông
Lau còn nhớ mãi làng thôn cũ
Lách vẫn chờ mong, dạ mỏi mòn.

Alexandra nối bến sông
Đôi bờ kết lại tấc lòng son
Lưu thủy hành vân thôn Vỹ Dạ
Sóng vỗ chập chùng nước cuốn tuôn.


 

 Paris, 20/11/2019

GS. Lê Đình Thông - Thuyền Trăng Kính mừng sinh nhật bách niên của GS Vũ Quốc Thúc

posted Oct 21, 2019, 7:40 AM by Le Phan   [ updated Oct 21, 2019, 7:44 AM ]

GS. Lê Đình Thông – Thuyền Trăng
Kính mừng sinh nhật bách niên của GS Vũ Quốc Thúc


Sinh nhật trăm tuổi (16/09/2019) của GS Vũ Quốc Thúc nhằm rằm tháng tám năm Kỷ Hợi (13/09/2019), tuy xê xích ba ngày nhưng vẫn là ánh trăng rằm. Thầy trò cùng nhấp chén trà quê hương, trong khi chúng tôi ngâm nga hai câu thơ trong bài Mạn Hứng (漫興) của Nguyễn Trãi để chúc thọ thầy :

Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng

故山昨夜纏清夢

Nguyệt mãn Bình Than tửu mãn thuyền

月滿平灘酒滿船

Trăm năm chỉ là một con thuyền ‘‘trải qua các thời biến’’, như tựa cuốn hồi ký của thầy xuất bản cách nay đúng 10 năm (2009). Thuyền bách niên chuyên chở bao nhiêu nỗi u hoài thời thế, đến năm thứ 100 còn ngập ánh hào quang :

Thuyền trôi vẫn quyến sao đêm

Hào quang vẫn ngủ êm đềm trong mơ.

Vũ Hoàng Chương 

Trên bình diện nhân sinh, hào quang của bậc thầy đào tạo các môn sinh lúc nào cũng sáng tỏ. Trên bình diện quốc gia, hào quang bừng sáng, mai này sẽ đem lại tự do no ấm cho dân tộc. Thầy luôn vững tin vào tương lai đất nước :

Càn khôn ký bĩ nhi phục thái

乾 坤 既 否 而 復 泰,

Nhật nguyệt ký hối nhi phục minh.

日月 既 晦 而 復 明 。

(Càn khôn bỉ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh.)

Nguyễn Trãi

Tôi kính biếu Thầy ba tặng vật tinh thần đầy ý nghĩa của ba nhà báo CTKD :

Trăn Trở Cuối Đời của Hoàng Ngọc Nguyên. Tác giả xuất thân khóa I CTKD là nhà báo kỳ cựu, viết đều đặn bằng Việt ngữ và tiếng Anh-Mỹ, nhận lãnh trách nhiệm đệ tứ quyền với những nhận định sắc bén, luôn tôn trọng nhiệm vụ luận báo chí (déontologie du journalisme) từng được giảng dạy tại trường CTKD Đà Lạt. Tác giả đã dành một chương sách kể lại những kỷ niệm với GS Vũ Quốc Thúc, nói lên lòng tri ân và chúc thọ.

– Trang blog Thụ Nhân Bắc Một Nhịp Cầu do nhà báo Thạch Lai Kim, khóa I CTKD chủ biên, giới thiệu các Bản Tin của Thụ Nhân Paris, bài vở thơ văn thể hiện tinh thần tôn sư trọng đạo, theo truyền thống đại học nước nhà. Số lượt truy cập ngày 14/09/2019 :  274459.

– Trang website Diễn Đàn Thụ Nhân do nhà báo Võ Thành Xuân, khóa I CTKD, chủ trương, tập hợp các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà biên khảo CTKD trong nước và hải ngoại. Số lượt truy cập ngày 14/09/2019 : 393875.

Các công trình văn học trên đây minh chứng lời giảng dạy của thầy ở quê nhà luôn là khuôn vàng thước ngọc cho các môn sinh, theo đúng tôn chỉ Bách Niên Chi Kế Mạc Như Thụ Nhân (百年之計莫如樹人).

Hai ý nghĩa Thuyền Trăng (để chỉ thời gian) và Thụ Nhân (không gian) gom lại thành bài thơ chúc thọ GS Vũ Quốc Thúc như sau :

Thuyền trăng chở mãi đến trăm năm

Nợ nước lo tròn chẳng bận tâm

Chính Trị Kinh Doanh trường đại học

Kinh Bang Tế Thế quyết cùng làm

Trồng Người bách niên mà không mệt *

Tuổi hạc da mồi trí vẫn chăm

Tấm thân mòn mỏi, hồn minh mẫn

Thanh bình thịnh trị chẳng bao lăm !


Paris, 16/09/2019


* hối nhân bất quyện (誨 人 不 倦).

GS. Lê Đình Thông -Trăng Thu


Trăng rằm tháng Tám mãi trên non

Ánh Nguyệt rơi hoài dạ sắt son

Múa khúc Nghê Thường trăng mỏi mệt

Hằng Nga nghỉ đỡ vướng ngàn thông

Trăng vàng hải ngoại buồn da diết

Rớt  xuống dòng sông nước cuốn tuôn

Ánh Nguyệt bồng bềnh theo sóng vỗ

Mưa thu đẫm lệ lúc trăng tròn.


Thu 2019
Nguồn: http://lediemchihue.com/

Hai Vì Sao Băng Trong Chòm Sao Bắc Đẩu Bị Cộng Sản Bất Tử: Vũ Hoàng Chương và Hồ Hữu Tường

posted Oct 21, 2019, 7:33 AM by Le Phan

Hai Vì Sao Băng Trong Chòm Sao Bắc Đẩu Bị Cộng Sản Bất Tử
GS. Lê Đình Thông 

Vũ Hoàng Chương
Hồ Hữu Tường

30/04/1975 mở đầu tiến trình bức tử các nhà văn hóa miền nam : từ Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường đến Trần Văn Tuyên, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Mạnh Côn v.v.

Trong số năm cây bút, Vũ Hoàng Chương và Hồ Hữu Tường bị đầy ải trong ngục tù cộng sản, lúc sắp chết mới được thả ta, từ trần khi về nhà. Ba vị khác là Trần Văn Tuyên, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Mạnh Công đều chết trong các trại cải tạo đèo heo hút gió. Cái gọi là cải tạo chỉ có nghĩa là cộng sản cải tạo từ cuộc sống tự do ở miền nam, biến thành cái chết oan khiên trong ngục tù cộng sản. Vì khuôn khổ hạn hẹp, bài báo này chỉ viết về :

– Thi bá Vũ Hoàng Chương (1915-1976), thọ 61 tuổi : ngôi sao bắc đẩu của thi ca Việt Nam ;

– và Nhà văn Hồ Hữu Tường (1910-1980), thọ 70 tuổi : cây đại thụ của văn học miền Nam.

Các vị khác :

– Luật sư Trần Văn Tuyên (1913-1976), thọ 63 tuổi.

– Sử gia Phạm Văn Sơn (1915-1978), thọ 63 tuổi.

– Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn (1920-1979), thọ 59 tuổi.

Người viết xin thắp nén hương lòng tưởng niệm.

Cái chết trong ngục tù cộng sản nói lên sự dũng cảm của các bậc thức giả miền nam : uy vũ bất năng khuất (威武不能屈), đối nghịch với văn nô bồi bút (文奴陪筆) cộng sản, bán rẻ ngòi bút để hưởng chút cơm thừa canh cặn.

Các vị là ngôi sao Tham Lang (天枢), Cự Môn (天璇), Văn Khúc (天权), Liêm Trinh (玉衡), Vũ Khúc (开阳) trong trong chòm sao Bắc Đẩu (北斗),sáng chói trên nền trời văn học nước nhà.

Xin bắt đầu với nhà thơ họ Vũ, 
được văn giới tôn vinh là ngôi sao bắc đẩu của thi đàn nước ta.

1) Vũ Hoàng Chương (1915-1976): Ông sinh năm Ất Mão (1915), nhưng nhiều tài liệu ghi là 1916. Quê ông ở phủ Thượng Hồng, tỉnh Nam Định. Ông học chữ hán năm lên 5 với thân phụ là cụ tri huyện Vũ Thiện Thuật. Năm 12 tuổi học tiểu học ở Nam Định, năm 13 tuổi bắt đầu làm thơ. Năm 22 tuổi, ông vào học lycée Albert Sarraut ở Hà Nội. Sáu năm sau, thi đậu tú tài I : cổ ngữ la tinh – hy lạp ; phần II : toán. Năm 1938, ông học luật nhưng bỏ dở. Năm 1941, ghi tên cử nhân toán nhưng cũng bỏ học, dạy học ở Hải Phòng. Năm 1942 : về Hà Nội lập một kịch đoàn cùng với nhà thơ Nguyễn Bính và Chu Ngọc, công diễn vở kịch thơ Vân Muội do ông sáng tác. Năm 1944, ông thành hôn với bà Định Thị Thục Oanh, giáo sư trung học, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng (có tài liệu ghi nhầm là ‘‘em gái’’). 

1948 : xuất bản tập Thơ Lửa, cùng với Đoàn Văn Cừ.

1951 : công diễn : Tâm sự Kẻ sang Tần.

1959 : xuất bản : Hoa Đăng (Văn Hữu Á Châu)

1960 : tái bản  Thơ Say và Mây, Vân Muội, Trương Chi, Hồng Điệp.

1970 : Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm.

1971 : Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai.

1974 : Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau. Ta Làm Chi Đời Ta.

Bút tự của Vũ Hoàng Chương (tài liệu : Đặng Tiến)

Ngoài việc làm thơ, Vũ Hoàng Chương dạy học ở trường Chu Văn An và Văn Lang (Saigon). Trang web của Hội Ái Hữu Học Sinh Chu Văn An Bắc California có bài ‘‘Tại sao Vũ Hoàng Chương bị bắt’’ của Phạm Nguyên Khôi, xin trích như sau :

‘‘…Cùng thời với Vũ-hoàng-Chương còn có rất nhiều văn nhân thi sĩ khác cùng nổi tiếng trên văn thi đàn, trong đó có Huy-Cận (tên thật là Cù-huy-Cận) sinh năm 1919. Huy-Cận cũng là một nhà thơ nổi tiếng, điển hình là bài “Ngậm ngùi” đã được phổ nhạc mà chúng ta thường nghe. Huy-Cận kém Vũ-hoàng-Chương ba tuổi và xuất bản tập thơ đầu “Lửa Thiêng” sau khi Vũ-hoàng-Chương đã có thi tập “Thơ say” và “Mây” đang sắp phát hành. Vì thế Huy-Cận coi thi sĩ Vũ như anh.

Một hôm Huy-Cận bất ngờ gặp Vũ-hoàng-Chương và  rủ Ông đi ăn phở. Vì mới ra tập thơ đầu lại cũng có ý thân mật so sánh nên Huy-Cận nửa đùa nửa thật vỗ vai Vũ-hoàng-Chương nói rằng:

“Đã lâu lại gặp ‘chàng Say’

‘‘Lửa Thiêng’’ xin đốt chờ ‘‘Mây’’ xuống trần

 Vũ-Hoàng-Chương cũng hơi khựng một chút, nhưng vui vẻ đáp ngay:

‘‘Mây’’ kia chẳng chịu xuống  trần

Lửa ơi theo khói lên gần với ‘‘Mây’’.

Hai người đối đáp với nhau như thế, vừa có ý kiêu ngạo, vừa có ý thân thiện, thật xứng đôi. Rồi thời gian trôi qua, năm 1946 Huy-Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ bác và đảng, được sủng ái nên đã có thời leo lên đến chức thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ-hoàng-Chương thì chạy tản cư, cũng có làm một số bài thơ ái quốc, nhưng sau đó hồi cư về lại Hanoi rồi di cư vào Saigon theo hiệp định Genève năm 1954, vẫn tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.

Vật đổi sao dời, năm 1975 miền nam bị bỏ rơi và cộng sản thắng đại cái “đại thắng mùa xuân”. Và hai thi nhân lại có dịp gặp nhau trong hoàn cảnh éo le quốc cộng. Huy-Cận được cử vào Saigon cùng với một phái đoàn với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.

Dĩ nhiên người mà Huy-Cận muốn gặp đầu tiên là Vũ-hoàng-Chương, cũng vì tình bạn cũ và cũng nghĩ rằng nếu chiêu dụ được Vũ theo cách mạng thì mình lập được công lớn. Vì vậy Huy-Cận đã sửa soạn cuộc thăm viếng rất trọng thể. Lễ vật đến thăm Vũ-hoàng-Chương gồm một chai rượu quí, một lọ đầy thuốc phiện và cũng không quên mang theo một bức hình Hồ chí Minh. Rượu và thuốc thì để biếu bạn, còn bức hình thì Huy-Cận ước mong sẽ được Vũ-hoàng-Chương đề tặng cho mấy vần ca ngợi để có bằng chứng báo cáo lấy công đầu.

Cuộc gặp gỡ diễn ra tốt đẹp sau bao năm xa cách. Vũ-hoàng-Chương đón Huy-Cận như một bạn cố tri nồng nàn vui vẻ. Sau khi Huy-Cận ngỏ ý muốn Vũ đề thơ thì Ông trầm mặc không nói gì. Huy-Cận khi ra về có hẹn ba ngày sau sẽ cho người đến xin lại bức hình, Vũ-hoàng-Chương cũng chỉ ậm ừ tiễn bạn.

Đúng ba ngày sau khi nhân viên của Huy-Cận tới thì thấy trên bàn vẫn còn y nguyên hai món lễ vật và bức hình, Vũ-hoàng-Chương không hề đụng tới mặc dù rượu với thuốc phiện đối với Ông là rất quí hiếm. Còn bức hình thì vẫn chỉ là bức hình như khi đem tới, không một nét chữ đề. Được báo cáo lại, dĩ nhiên là Huy-Cận tím mặt. Nhưng Ông biết tính họ Vũ là ngưòi không dễ lung lạc nên cũng đành thôi.

Vũ-hoàng-Chương, ông quả là một người có khí phách. Ông có một cơ hội an thân nhưng Ông đã không làm, chỉ vì tấm lòng Ông “một tấc thành” nên Ông phải giữ tiết tháo không a dua theo thời cuộc. Thế là lại có thêm một cái ‘họa’. Nhưng như thế vẫn chưa hết.

Chê thơ Tố-Hữu và dạy cộng sản cách làm thơ.

Theo một bài đăng  trên “net”  của tác giả Sông-Lô viết về Vũ-hoàng-Chương nhận xét thơ Tố-Hữu, được biết phái đoàn từ bắc vô nam cùng với Huy-Cận như đã nói ở đoạn trên còn có nhiều nhân vật sáng giá khác như Tố-Hữu,  Hoài-Thanh, Xuân-Diệu, Vũ-đình-Liên…. Phái đoàn được ký giả nằm vùng Thanh-Nghị tiếp đón và tổ chức một đêm”họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ-hoàng-Chương đã được mời và có tham dự. Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố-Hữu đã làm để khóc Stalin khi ông trùm đỏ Nga-sô  này chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp cùng đầy đủ tiếng khen chê đối với  tên trùm văn nghệ cộng sản này là câu:

“Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương ông thương mười “

Thanh-Nghị với tư cách nằm vùng theo cộng sản từ lâu, coi như đại diện miền nam, dĩ nhiên ca ngợi thơ Tố-Hữu hết mình. Rồi lần lượt đến Xuân-Diệu, Huy-Cận, Vũ-đình-Liên từ ngoài bắc vào lên diễn đàn thì khỏi nói. Cũng cần có một tiếng nói miền nam cho xôm tụ, cho nên Hoài-Thanh khẩn khoản mời Vũ-hoàng-Chương lên phát biểu với dụng ý là họ Vũ, một thi bá đương thời, nhưng vốn người trầm mặc hiền hoà chắc cũng chỉ vuốt theo mà không nói điều gì nghịch ý. Xin trích nguyên văn sau đây một đoạn của Sông-Lô:

“Ai đã biết Vũ-hoàng-Chương ắt phải biết cái đanh thép bên trong tấm thân nhỏ bé ọp ẹp của ông. Đôi ba lần tạ từ không được, đành nhảy vào ưỡn ngực “ hò kéo pháo”, nhưng trước khi vào cuộc họ Vũ đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái  ‘sáng giá’  của đêm họp  ‘văn nghệ đặc biệt’ này, bởi vì ‘tất tần tật’ đã thẩm định rồi.”

Sau đây là lời của Vũ-hoàng-Chương :

“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.

Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được ‘đóng khung’ tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố-Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao. Lời thẩm định của Thanh-Nghị thật xác đáng, tôi chịu. Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép. Vấn đề của thơ, nói cho đến nơi, là ở đây, có nghĩa là thơ phải thực.

 Tố-Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việt Nam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việt Nam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca; nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việt Nam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?

Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài ‘Đời đời nhớ Ông’ Tố-Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:

“Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin.’’

Chắc chắn là không có một bà mẹ Việt Nam nào, kể cả Bà Tố-Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ. Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm; đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố-Hữu nếu tự khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việt Nam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm’’.

Vẫn theo lời kể của Sông-Lô thì  lời thẩm định này đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ-hoàng-Chương, có người đã yêu cầu Ông nói về thơ để hòng bắt bẻ này nọ, nhưng Ông vẫn ôn tồn phát biểu:

“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo; nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.

“Tôi xin nhắc ; sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca; vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống.”

Sau đêm hôm ấy, hình như có một buổi họp khẩn cấp của các “nhân vật then chốt” cộng sản, và Vũ-hoàng-Chương đã bị bắt. Như vậy cái tội phản động của thi sĩ họ Vũ không phải là một mà có đến ba : bắt đầu từ bài thơ thời sự , kế đến không nể nang tình bạn và sau cùng là đã dạy khôn cho kẻ đang thắng thế. Theo Sông-Lô thì Vũ-hoàng-Chương không phải là người dại, cũng không phải người can đảm mà Ông chính là người của tự do không phải quị lụy trước bất cứ một áp lực nào.’’

Trích đoạn trên đây nói lên khí phách của nhà thơ miền Nam trước sự thấp hèn của những kẻ dối lòng, tự biến thành ông cai văn nghệ, ra oai tác quái với những cây bút chân chính. Nhưng không chỉ có thế. Di ngôn của thi bá họ Vũ còn là bản tuyên ngôn của các nhà văn, nhà thơ chân chính, không bẻ cong ngòi bút, chỉ nói lên những điều mắt thấy tai nghe, cho dù vì nói thật, nói thẳng mà phải mất mạng.

Vũ Hoàng Chương thẳng thắn phê bình bài thơ của Tố Hữu nịnh bợ Staline vốn là đồ tể trời tây. Theo sử gia Norman M. Naimark chuyên về thời kỳ xô viết của Đại Học Stanford, trong thập niên 30, Staline ra lệnh cho cục Goulag bắt giam rồi hạ sát từ 15 đến 20 triệu người vô tội trong các trại tập trung ở miền băng giá Sibérie. Con gái Staline là Svetlana cảm thấy nhục nhã, từ bỏ họ cha, lấy họ mẹ Allilouïeva, tỵ nạn chính trị ở Hoa Kỳ. Vậy mắc mớ gì mà Tố Hữu bẻ cong ngòi bút, thương vay khóc mướn đao phủ thủ giết người không gớm tay :

Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin.

Ta hãy so sánh giữa vần thơ giả tạo của Tố Hữu và bài thơ nói lên thực trạng miền nam vào ngày tết âm lịch đầu tiên vắng bóng cờ vàng.

Mỗi độ xuân về, Vũ Hoàng Chương lại làm một bài thơ khai bút. Vào Tết Bính Thìn (1976), nhà thơ họ Vũ ‘‘Vịnh Tranh Gà Lợn’’. Chỉ với 8 câu thơ, mỗi câu 7 chữ  (8 x 7 = 56 chữ), thi bá tuyên chiến với cả chế độ qua bài ‘‘Vịnh Tranh Gà Lợn’’. Bản chép sau đây của bà Vũ Hoàng Chương cất giữ và trao cho nhà văn Đặng Tiến :    

Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành

Gà lợn, om sòm rối bức tranh

Rằng vách có tai, thơ có họa

Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh

Mắt gà huynh đệ bao lần quáng

Lòng lợn âm dương một tấc thành

Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn

Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

Ta hãy nghe bà Vũ Hoàng Chương chú giải bài thơ, do nhà văn Đặng Tiến công bố : ‘‘Thơ có họa có ba nghĩa: thơ có xướng thì phải có họa, gọi là thơ xướng họa; thơ phản nghịch là tai họa; và thơ họa (vẽ) ra tranh. Vũ Hoàng Chương nổi tiếng là uyên bác: thơ ông thường sử dụng nhiều điển cố. Đặc biệt bài này ông sử dụng tục ngữ, theo truyền thống Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Bà Vũ Hoàng Chương lưu ý đến những tục ngữ : ‘‘rừng có mạch,  vách có tai’’ ; ‘‘xanh vỏ đỏ lòng’’. Nhưng còn nhiều thành ngữ, tục ngữ khác như : ‘‘tranh  tối tranh sáng’’, ‘‘mắt xanh’’, ‘‘mắt quáng gà’’, ‘‘gà cùng một mẹ’’, ‘‘lợn âm dương’’, ‘‘con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi’’. ‘‘Khúc tân thanh’’ ngụ ý ‘‘đoạn trường’’.

Bố cục thất ngôn bát cú 七言八句 của bài ‘‘Vịnh Tranh Gà Lợn’’ như sau :

– Đề 題 (phá đề và thừa đề) : bối cảnh nhiễu nhương miền Nam vào năm 1976, gà và lợn ‘‘ám chỉ’’ : Lê Duẩn, Văn Tiến Dũng. Họ ‘‘om xòm’’, huênh hoang với cái ‘‘đại thắng mùa xuân’’, cả miền Nam vật đổi sao dời.

– Thực 實 : ‘‘thơ có họa’’ : nghĩa đen là trong thơ có họa ; nghĩa bóng nói lên tình trạng công an đêm ngày rình rập, quấy nhiễu dân lành, sau cùng nhà thơ cũng phải mang họa vào thân. Lòng đỏ là việt hóa chữ đan tâm là 丹心, tác giả dùng phép ẩn dụ (métaphore) để nói lên bạn bè thân quen, đối lại với mắt xanh là dịch chữ ‘‘thanh nhãn’’ 青眼, tác giả mượn điển tích Nguyễn Tịch đời Tấn, ám chỉ những cán bộ hống hách, đáng khinh chê.

– Luận 論 : câu 5 nói mắt quáng gà vì nghe luận điệu dối gạt. Câu 6 nói đến ‘‘tấc thành’’ của người miền Nam.

– Kết 結 : Thi bá nhắn nhủ lũ gà lợn thôi ủn ỉn thùng rỗng ‘‘đại thắng’’ mà nghe rồng Bính Thìn miền Nam ngân nga khúc Tân Thanh réo rắt, đứt ruột (Đoạn Trường Tân Thanh).

Bài thơ này đưa đến cái chết của thi bá họ Vũ. Ngày 13/04/1976, cộng sản bắt Vũ Hoàng Chương, giam cùng xà lim với bác sĩ Phan Huy Quát. Vì biết nhà thơ họ Vũ sắp chết, cộng sản mới phóng thích. Lúc 23 giờ ngày 06/09/1976, nhẳm ngày 13 tháng 8 năm Bính Thìn,  nhà thơ qua đời tại Khánh Hội tại nhà em vợ là phu nhân thi sĩ Đinh Hùng. Lao tù cộng sản đã bức tử thi bá Vũ Hoàng Chương.

Theo tài liệu của nhà văn Đặng Tiến, vào năm Kỷ Mão (1999), bà Vũ Hoàng Chương tức nữ sĩ  Đinh Thục Oanh làm bài thơ ‘‘Mai Thúy Vũ’’ khóc chồng như sau ;

Cao sâu từng nhập bóng cây già,

Cây vẫn thân xưa bóng chẳng nhòa.

Vườn trải băng sương trăm thức cỏ,

Xuân còn Thúy Vũ một cành hoa.

Lòng nghe nắng ấm say đôi chút

Cánh để men hồng nhuốm phớt qua

Vang tiếng chim xanh về hót đấy,

Bồng lai hẳn nhớ kẻ đi xa.

Nếu thi bá họ Vũ là ngôi sao bắc đẩu sáng chói trong văn học miền Bắc, 
văn hào họ Hồ là cây đại thụ rợp bóng văn học miền Nam.

2) Hồ Hữu Tường (1926-1980) : Họ Hồ quê quán quận Cái Răng, tỉnh Cần Thơ. Theo nhà phê bình văn học Thụy Khê, ‘‘Hồ Hữu Tường sinh ngày mùng 8 tháng 5 năm 1910 tại làng Thường Thạnh, huyện Cái Răng, tỉnh Cần Thơ. Cha là Hồ Văn Sây, mẹ là Võ Thị Nữ và ông nội là Hồ Văn Điểu. Dòng họ Hồ này khi xưa ở đất Nghệ An. Sau khi Hồ Quý Ly thất thế, đầu thế kỷ XV đã bị xua vào đất Qui Nhơn sinh sống. Đến thế kỷ XVIII, trong họ xuất hiện ba anh em Nhạc, Huệ, Lữ, nổi lên cầm đầu phong trào Tây Sơn. Khi nhà Tây Sơn bại liệt, tất cả những người họ Hồ, bà con xa gần với Tây Sơn đều phải lánh nạn. Tỉnh Qui Nhơn bị Nguyễn Ánh đổi tên thành Bình Định. Sự đổi tên này, đối với họ Hồ, có nghĩa là một sự trả thù, một sự đàn áp. Để tránh sự trả thù của nhà Nguyễn, một thanh niên tên là Hồ Văn Phi trốn vào Nam, lưu lạc đến rạch Cái Răng ở miệt Cần Thơ, lập nghiệp. Vợ chồng Hồ Văn Phi chưa có con trai, nuôi một đứa nhỏ tên là Điểu mà mẹ nó dường như là một người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn lánh nạn. Khi trao con lại cho Hồ Văn Phi, bà dặn dò rằng: Cha nó cũng họ Hồ, tôi cho nó cho ông là để nó giữ họ. Khi nó lớn lên, ông bà dặn nó nên nêu lên hai chữ Kế Thế mà thờ giữa hai chữ Hồ phủ, và truyền lại mãi mãi với con cháu nó nên làm như vậy. Chữ Kế Thế rút từ những chữ “Kế thế vi đức, dĩ hữu thiên hạ“, hàm súc cái mộng làm đế vương. Người con nuôi của Hồ Văn Phi có dòng dõi bí mật, đế vương ấy (dòng Quang Thiệu), chính là Hồ Văn Điểu và là ông nội của Hồ Hữu Tường. Đó là những điều mà Hồ Hữu Tường thuật lại về dòng dõi của mình trong cuốn tự truyện Thằng Thuộc, con nhà nông và tiểu thuyết dã sử Kế thế.’’

Cũng như Vũ Hoàng Chương học cử nhân Toán tại Đại Học Hà Nội,  Hồ Hữu Tường học cao học Toán tại Đại Học Lyon. Họ Vũ có thơ đăng trên các tờ báo. Họ Hồ xuất thân là nhà báo rồi nhà văn.

– Báo chí :

1930 : chủ nhiệm tờ Tiền Quân.

1932 : chủ nhiệm tờ Tháng Mười.

1936 : chủ nhiệm Thường Trực Cách Mạng, Le Militant, Thầy Thợ.

1967 : biên tập viên các báo : Ánh sáng, Tiếng Nói Dân Tộc, Quyết Tiến, Đuốc Nhà Nam, Tin Sáng, Saigon Mới, Điện Tín.

– Biên khảo :

Xã hội học nhập môn (Minh Đức, 1945).

Kinh tế học và kinh tế chánh trị nhập môn (Tân Việt, 1945).

Tương lai kinh tế Việt-nam (Hàn Thuyên, 1945).

Tương lai văn hóa Việt-nam (Minh Đức,1946, Huệ Minh, 1965).

Phong kiến là gì? (Minh Đức,1946).

Vấn đề dân tộc (Minh Đức,1946).

Muốn tìm hiểu chánh trị (Minh Đức,1946).

Lịch sử văn chương Việt-nam (quyển 1) (Lê Lợi, 1950).

Phép nói và viết hỏi ngã (1950).

Em học tiếng mẹ (1950).

Những kỹ thuật căn bản của nghề làm báo (in tại Paris, 1951, Hòa Đồng, 1965).

Em tập đọc (1951).

Tương lai văn hóa Việt Nam (Minh Đức,1946, Huệ Minh, 1965).

Trầm tư của một tên tội tử hình (Lá Bối, 1965),

Luận lâm I (Huệ Minh, 1965),

Nói tại Phú Xuân (những bài tham luận đọc tại Đại học Huế) (Huệ Minh, 1965).

– Văn học :

Một thuở ngàn năm (truyện trào phúng chính trị) gồm có: Phi Lạc sang Tàu (Sống Chung, 1949), Phi Lạc náo Hoa Kỳ (Vannay, Paris, 1955), Tiểu Phi Lạc náo Sàigòn (Nam Cường, 1966), Diễm Hồng xuất giá (Nam Cường, 1966).

Hồn bướm mơ hoa (tiểu thuyết lịch sử xã hội, miền Hậu Giang) gồm 4 tập: Mai Thoại Dung, Tam nhơn đồng hành, Ông thầy Quảng, Bủa lưới người (Nam Cường, 1966).

Gái nước Nam làm gì? (tiểu thuyết tranh đấu chống Pháp) gồm Thu Hương và Chị Tập (Sống Chung, 1949).

Nỗi lòng thằng Hiệp (Lê Lợi, 1949).

Quả trứng thần (1952).

Kể chuyện (Huệ Minh, 1965),

Kế thế (tiểu thuyết dã sử) (Huệ Minh, 1964).

Thuốc trường sanh gồm 3 tập: Xây mộng, Phúc đức và Vẹn nguyền (Huệ Minh, 1964). Hoa dinh cẩm trận (tiếp theo Thuốc trường sanh).

Nợ tinh thần (Huệ Minh, 1965).

Thằng Thuộc con nhà nông (An Tiêm, 1966).

Người Mỹ ưu tư (tác giả xuất bản, Paris, 1968).

Un fétu de paille dans la tourmente (Paris, 1969, chưa in)

41 năm làm báo (Trí Đăng, Đông Nam Á tái bản tại Paris, 1984).

Họ Hổ, nhập thế thì làm báo, viết văn ; xuất thế thì ở tù. Giai thoại sau đây trên Wikipedia kể lại chuỗi ngày vào tù ra khám của một người lương thiện. ‘‘Khi bị giam ở phòng giam tập thể (trong nhà tù cộng sản), một người tù hỏi Hồ Hữu Tường: ‘‘Bác Tường ơi! Thời Tây, thời Ngô Đình Diệm và cả thời này nữa, thời nào bác cũng đi tù. Bác có hiểu tại sao bác cứ ở tù hoài vậy không ? Hồ Hữu Tường nhìn anh ta, vừa cười, vừa hỏi: ‘‘Mày trả lời giùm tao đi, tại sao ?’’ Anh ta nhanh nhẩu trả lời: ‘‘Dễ quá mà! Tên bác là ” Hữu Tường” nên bác phải “hưởng tù” dài dài!’’. Hồ Hữu Tường cười buồn: ‘‘Có thể thằng nầy nói đúng!’’.

Ta đã nghe thơ họ Vũ thì nay sẽ xem văn họ Hồ, để biết nhân sinh quan của ông.

– Nhận định của Hồ Hữu Tường về chủ nghĩa cộng sản :

“Tôi bước vào mê ly đồ của chủ nghĩa Mác-Lê đầu tháng 6 năm 1930. Tôi bước chân ra ngoài cái mê ly đồ ấy vào đầu tháng 6 năm 1939. […] Trong 9 năm này, những bài luận của tôi viết thảy đều lập trên nền tảng của duy vật luận biện chứng pháp. Từ tháng 6 năm 1939 đến tháng 6 năm 1945, ngoài những bức thơ ngắn cho gia đình, tôi không có viết gì khác. Đến Hà Nội vào đầu tháng 6 năm 1945, tôi đã sắp dàn bài cho quyển Xã hội học nhập môn mà tôi viết xong khi khởi đầu tháng 11. Từ hai mươi năm nay, tôi chưa trước tác được tài liệu nào vững chắc và khoa học để đả kích chủ nghĩa của Marx, hơn tập sách nhỏ này. Cả phương pháp biện chứng và duy vật sử quan đều bị “lật vích”, nền tảng triết lý và cơ sở xã hội học của Marx đều bị lật ngược, thế mà kiểm duyệt Việt Minh đọc không hiểu nên chẳng bôi chữ nào. Từ ấy, phương pháp biện luận của tôi không còn là biện chứng pháp nữa. Trong năm năm nằm ở Côn Đảo, trong những ngày tàn của chế độ thực dân, tôi đã suy tư tìm thấy và thường nói với Nguyễn An Ninh rằng duy vật luận của Marx hóa ra siêu hình, chánh là do Marx đội cho nó cái lốt của biện chứng pháp […]. Năm năm tù dưới chế độ thực dân đã giúp cho tôi “cai” biện chứng pháp, cũng như người nghiện cai thuốc phiện. Và, rời bỏ tư duy siêu hình của biện chứng pháp, tôi trở về với tư thái khoa học […] Khoa học, bao giờ cũng cho phép ngoại suy để mở rộng phạm vi hữu hiệu của mình. Nhưng bao giờ những cuộc ngoại suy nầy phải phê phán cho chặt chẽ, kẻo bị lầm. Nói theo một danh từ mới xuất hiện, mà đã tràn lan khắp nơi, là cần phải “xét lại”. Thế mà, biện chứng pháp, tin tưởng như là một giáo điều, không cho tín đồ của chủ nghĩa Marx “xét lại”.” (Luận lâm I , Huệ Minh xuất bản năm 1965, tại Sài Gòn).

– Nhận thức luận của Hồ Hữu Tường :

– ‘‘Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thật to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép. Thực đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin,… để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu về cho dân tộc ta, dân tộc Việt’’ (Tương lai Văn hóa Việt Nam, in lần thứ ba, Huệ Minh, Sài Gòn, 1965).

– ‘‘Văn, trong nghĩa cầu nguyên của nó, là đẹp đẽ, là hiền lành, trái với võ, là hung bạo. Hóa, trong nghĩa cầu nguyên của nó là thay đổi. Hai chữ đó mà ghép lại, thì tôi cho rằng đó là cái gì làm cho người ngày càng cao quý hơn, đẹp đẽ hơn, làm cho người (hạ tiện, xấu xa) hóa ra Người (cao quý, đẹp đẽ)’’.

– ‘‘Tôi vẫn muốn rèn, luyện, uốn, nắn, hun đúc tôi, cho tôi ngày nay đẹp đẽ hơn ngày hôm qua, cho tôi ngày mai càng đẹp hơn tôi ngày nay, để rồi bây giờ tôi là “người” dần dần theo đuổi Người’’ (sđd, trang 18)

– ‘‘Sứ mạng của bạn là sứ mạng sáng tác.’’ (trang48)

– ‘‘Lương tri sẽ là sản phẩm của người. Nó có nguồn gốc ở người. Nó là một vật nhân bản.’’ (trang 56)

– Phương pháp kể chuyện của Hồ Hữu Tường :

‘‘Đọc tiểu thuyết hay của các nước, tôi rất hiểu tiểu thuyết xây dựng thế nào, nhưng tôi không chịu viết tiểu thuyết, mà chỉ bám vào lối văn “kể chuyện”.

– ‘‘Tôi chỉ muốn “kể chuyện” cho hoang đường, cho hóm hỉnh, cho trào phúng, cho quê mùa, như những giáo sư văn chương của tôi mà thôi. Con nhà trâm anh thế phiệt, ông, bác, cha, anh, thảy đều khoa hoạn, thì viết văn điêu luyện như Nguyễn Du, việc ấy hợp lý, hợp tình. Con nhà nông như tôi, mà viết văn nông dân, việc ấy cũng hợp lý, hợp tình nữa.
Con vua thì đặng làm vua

Con sãi ở chùa thì quét lá đa

có cái văn tâm như thế, nên trong chín năm theo chủ nghĩa Mác-Lê, giáo điều của chủ nghĩa nầy dạy phải viết theo đường lối ‘‘tả chân xã hội’’ (réalisme socialiste), thà tôi nhịn viết văn, chớ tôi không chịu phản lại giai cấp tôi. […] Cái văn tâm như thế đem những văn tứ ‘‘cổ điển’’ lại, chuyện ‘‘ma’’, chuyện thần tiên, chuyện hoang đường, chuyện tiếu lâm châm biếm … ‘‘cổ điển’’ là cổ điển của thứ văn chương nông dân ta vào thế hệ của tôi.” (trích bài Tựa cuốn Kể chuyện, nxb Huệ Minh, Sài Gòn, 1965)

– Ngục tù : Văn hào Hồ Hữu Tường thọ 70 thì đã có đến 15 năm tù đầy : từ 1940-1944 : tù thực dân Pháp, từ 1955 đến 1964 : tù quốc gia vì tham gia Mặt Trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia, từ 1978 đến 1980 : tù cộng sản là khắc nghiệt nhất. Ngày 26/06/1980, chiếc xe chở ông từ nhà tù về đến trước cửa nhà thì ông tắt thở.


Thủ bút của Hồ Hữu Tường

Trong số các tác phẩm của Hồ Hữu Tường, Phi Lạc Sang Tầu cảnh báo về đại họa cộng sản bắc phương, qua nhân vật thằng mỏ làng Phù Ninh. Họ Hồ viết như sau : ‘‘Ba đời liên tiếp, s­ư tổ của tôi là Bạch Hạc, sư phụ là Hoàng Hạc và tôi, đã dày công nghiên cứu sấm ký, nhất là sấm của Khổng Minh Gia Cát Lượng. Nhờ vậy mà chúng tôi biết rằng chúng ta sắp đến một thời loạn to tát, chưa từng thấy trong lịch sử  Trung Hoa. Mà muốn cứu vãn tình thế, phải cần có Thánh Nhân, người xuất tại phương Nam, nghĩa là ở Việt Nam.’’

Còn trong truyện ‘‘Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp’’, Hồ Hữu Tường đã dùng con chuột nói lên cái Bi Trí Dũng, theo ý ông là chủ tể của luân lý : ‘‘Từ ấy, hỏi đứa trẻ nào, nó cũng biết “tí là con chuột”. Nhưng từ ấy nhẫn nay, loạn lạc vẫn kéo dài hoài; bởi loài người chưa giác ngộ, cứ lầm tưởng chuột ấy là thứ “chuột tham, sân, si” kia. Chừng nào, đứng đầu cho cuộc vận hành của vũ trụ là con Long Thử, con chuột học được, và hành được theo Bi, Trí, Dũng thì may ra, nguồn Thanh Bình mới khai được.’’

Nếu thơ của Vũ Hoàng Chương có gà và lợn, văn Hồ Hữu Tường có chuột và mèo. Ông viết như sau: ‘‘Có Bi mà không Trí, là vô bổ. Có Bi và Trí mà thiếu Dũng, là vô hiệu. Bi, Trí, Dũng là ba cái chân vạc, thiếu một chân ấy là vạc nghiêng đổ đi.’’

Đoạn văn này dường như là để nhắn nhủ Văn Tiến Dũng, tác giả cuốn ‘‘Đại Thắng Mùa Xuân’’. Trong sách Luận Ngữ (論語) viết rằng: ‘‘Trí giả bất hoặc, nhân giả bất ưu, dũng giả bất cụ’’ (知者不惑, 仁者不憂, 勇者不懼 (Tử Hãn 子罕) : Người trí không mê hoặc, người nhân không lo, người dũng không sợ.

‘‘Người có dũng không sợ’’. Vậy cớ sao tên là Dũng mà ông lại sợ Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường vốn không có một tấc sắt trong tay, đầy ải họ đến chết ?

Lê Đình Thông
Nguồn:  http://lediemchihue.com/

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà

posted Apr 24, 2019, 4:41 AM by Le Phan

Trích từ tập Văn Hóa Tuổi Trẻ Online

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà

23/04/2019 14:49 GMT+7

TTO - 'Tôi cần một không gian với chiều kích thật để đưa nghệ thuật của mình về đặt giữa quê nhà'. Ước mơ của danh họa Lê Bá Đảng (1939-2015) đã thành hiện thực, khi 'Không gian ký ức Lê Bá Đảng' vừa được khánh thành tại một khu đồi núi ngoại ô Huế.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 1.

Không gian ký ức Lê Bá Đảng nhìn từ trên cao - Ảnh: HỒ VIẾT VINH

Không gian ký ức Lê Bá Đảng (Lebadang memory space) đã được khai trương vào chiều tối 21-4 với sự có mặt của giới hoạt động văn hóa nghệ thuật Việt Nam và quốc tế.

Một bức tranh phong cảnh hoành tráng

Một không gian rộng dài, có núi đồi nhấp nhô, có suối nước róc rách, một bên là rừng cây xanh thẳm, một bên là đồng lúa chín vàng. Ngôi làng Kim Sơn (xã Thủy Bằng, Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế) với những mái nhà hiền hòa lẫn trong rừng cây, gợi nhớ đến làng Bích La Đông của ông ở huyện Triệu Phong - Quảng Trị.

Người thiết kế không gian này là KTS Hồ Viết Vinh, một người Huế đang nghiên cứu và giảng dạy kiến trúc ở TPHCM. Ông Vinh cho biết toàn bộ không gian với núi đồi, rừng cây, suối, nước, đất đá... này là một tác phẩm mang tên "Không gian ký ức Lê Bá Đảng".

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 2.

Một góc Không gian ký ức Lê Bá Đảng - Ảnh: MINH TỰ

Không gian đó lấy dòng suối làm yếu tố minh đường, lấy núi Kim Sơn làm tiền án, lấy đồi Thiên An làm hậu chẩm.

Trong không gian rộng lớn đó có sáu không gian nhỏ như là sáu khu chức năng. Không gian chính là khu nhà tôn vinh nghệ thuật Lê Bá Đảng, nơi trưng bày các tác phẩm nghệ thuật hội họa, đồ họa, điêu khắc, với đủ loại chất liệu, phương pháp tạo hình, đã làm nên tên tuổi Lê Bá Đảng - bậc thầy của hai thế giới Đông - Tây.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 3.

Không gian trưng bày tác phẩm nghệ thuật Lê Bá Đảng - Ảnh: MINH TỰ

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 4.

Bên trong khu trưng bày tác phẩm Lê Bá Đảng - Ảnh: MINH TỰ

Trên mái của ngôi nhà này là Vườn địa đàng, nơi sắp đặt những tác phẩm của ông tạo thành một tác phẩm, theo chiều ngắm từ trời cao nhìn xuống. Cũng từ đây nhìn xuống toàn bộ quang cảnh chung quanh sẽ thấy một bức tranh kết hợp giữa thiên nhiên sẵn bày và sự sắp đặt của bàn tay con người.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 5.

Một phần của bức tranh được nhìn từ trên cao xuống - Ảnh: HỒ VIẾT VINH

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 6.

Nơi đây còn là không gian cho những chương trình hòa nhạc lớn. Trong ảnh là chương trình hòa nhạc khai trương không gian. - Ảnh: MINH TỰ

Một đường hầm dài dài 50m đi dưới sườn đồi là nơi trưng bày nghệ thuật ánh sáng của Lê Bá Đảng. Phía trên đường hầm là không gian biểu diễn. Và các khu vực dành cho du khách nghỉ ngơi, ẩm thực, hàng lưu niệm...

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 7.

Đường hầm đi dưới sườn đồi là nơi trưng bày nghệ thuật ánh sáng của Lê Bá Đảng. Ảnh: PHAN THÀNH

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 8.

Bên trong đường hầm - Ảnh: MINH TỰ

"Phải nhìn từ trên cao xuống mới thấy được không gian Lê Bá Đảng - một cái nhìn rất độc đáo đã tạo nên một phong cách tạo hình riêng của ông ở nước Pháp và trên thế giới" - KTS Hồ Viết Vinh nói.

Giấc mơ thành hiện thực

"Từ rất lâu, Lê Bá Đảng đã từng mơ về tác phẩm Không gian với chiều kích thật. Và giấc mơ đó đã thành hiện thực. Một không gian rộng mở đến vô biên và khép kín đến sâu thẳm". Đó là lời chia sẻ của bà Lê Cẩm Tế, chủ đầu tư dự án nghệ thuật này và cũng là người đồng hành với họa sĩ đi tìm nơi để thực hiện giấc mơ đó ở quê nhà, từ hơn 20 năm trước.

Tôi chưa bao giờ rời bỏ quê hương. Dù cho trên thực tế tôi sống xa quê, nhưng tâm hồn tôi vẫn luôn gắn bó với quê nhà. Và trong lao động nghệ thuật, tất cả những gì tôi làm chỉ là phản ánh tình yêu vô cùng đa dạng đó.

Họa sĩ Lê Bá Đảng

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 10.

Bà Tế cho biết sau chừng đó năm đồng hành với cuộc trở về quê nhà của họa sĩ Lê Bá Đảng, bà tin chắc không gian này thật sự là nơi ông mong muốn, dù ông đã không thể sống cho đến ngày tác phẩm lớn này ra đời.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 11.

Không gian ký ức Lê Bá Đảng lung linh trong đêm - Ảnh: MINH TỰ

Bà Myshu Lebadang, phu nhân của họa sĩ, dù tuổi đã quá cao vẫn cố gắng bay từ Paris đến Huế để có mặt tại buổi lễ khai trương Không gian ký ức Lê Bá Đảng. "Đây là đỉnh cao của giấc mơ Lê Bá Đảng" - bà Myshu xúc động nói.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 12.

Phu nhân của họa sĩ (cụ bà ngồi giữa) cũng có mặt tại lễ khai trương. - Ảnh: MINH TỰ

Bà Lê Cẩm Tế cho biết sau khi xem xong toàn bộ không gian, bà Myshu đã quyết định đưa thêm tác phẩm của Lê Bá Dảng từ Pháp về đây.

Cùng có mặt tại buổi lễ này, những nhà sưu tập nghệ thuật Lê Bá Đảng từ London (Anh), Los Angeles (Mỹ) cũng quyết định tặng một số tác phẩm và hiện vật của họa sĩ cho không gian này.

Hoạ sĩ Lê Bá Đảng sinh tại Quảng Trị, sang Pháp năm 1939 theo đoàn "lính thợ", học tại Học viện Nghệ thuật Toulouse và trở thành một hoạ sĩ nổi tiếng ở châu Âu.

Trung tâm tiểu sử quốc tế của Đại học Cambridge (Anh) đưa vào danh mục những người có tên tuổi của thế giới, nhà nước Pháp tặng huân chương Văn hóa nghệ thuật Pháp. Được giới nghệ thuật đánh giá là bậc thầy của hai thế giới Đông - Tây. Ông qua đời năm 2015 tại Paris, thọ 94 tuổi.

NHỮNG NÉT VĂN HÓA BÁCH VIỆT TRONG MỘ NAM VIỆT VƯƠNG, QUẢNG CHÂU.

posted Nov 22, 2018, 6:32 AM by Le Phan

 NHỮNG NÉT VĂN HÓA BÁCH VIỆT

TRONG MỘ NAM VIỆT VƯƠNG, QUẢNG

CHÂU,TRUNG QUỐC.

Nguyễn Xuân Quang

Tàc giả đứng trước tượng Triệu Đà (Zhao Tou) trong Bảo Tàng Viện Quảng Châu, Nam Trung Hoa.

(ảnh Michelle Mai Nguyễn).

Vào năm 214 Trước Tây Lịch (BC), Tần Thủy Hoàng xua quân chiếm Lĩnh Nam và lập ra ba quận: Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Nam Hải là thành Phiên Ngung (Panyu), nay là tỉnh Quảng Châu. Khi nhà Tần suy tàn, Triệu Đà, vị tướng nhà Tần tại địa phương, thống nhất ba quận lại lập nên nước Nam Việt và xưng là Vũ Đế (137 BC-122 BC). Cung điện của Nam Việt là thành Phiên Ngung ở ngay trung tâm tỉnh Quảng Châu ngày nay.

Vương quốc Nam Việt Vương gồm có 5 triều vua kéo dài 93 năm (137 TTL-122 TTL).

Điểm cần lưu ý, vương phả cho thấy Triệu Đà truyền ngôi cho cháu là Triệu Mạc (Mo) chứ không phải cho con là Trọng Thủy. Điểm này cho thấy truyền thuyết nói rằng Trọng Thủy tự tử theo Mỵ Châu có thể là có thật.

Vương quốc Nam Việt còn để lại nhiều di chỉ khảo cổ học tại Lĩnh Nam, Quảng Châu như Cung Điện của Vương quốc Nam Việt, Lăng Mộ Nam Việt Vương và Thủy Môn Bằng Gỗ (Wooden Watergate) của Vương quốc Nam Việt. Thủy Môn này là hệ thồng thoát dẫn nước của thành phố Quảng Châu cách đây 2.000 năm để phòng ngừa lụt lội.

Lăng Mộ Của Triệu Mo

Bài viết này có chủ đích chính là viết về những dấu tích văn hóa Bách Việt còn tìm thấy trong mộ của Triệu Mo qua các chứng tích cổ vật trưng bầy trong Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương.

Người nước Nam Việt vốn gốc Bách Việt trong đó có Lạc Việt Tráng dù bị người Hoa cai trị nhưng dĩ nhiên vẫn còn giữ lại cội gốc văn hóa Bách Việt, Người Mặt Trời Thái Dương, có cốt lõi văn hóa lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng. Văn hóa Bách Việt dĩ nhiên còn thấy ở Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương ở Quảng Châu.

Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương mở cửa năm 1988, xây ngay tại khu lăng mộ Triệu Mô, cháu của Triệu Đà, đời vua thứ nhì của Vương Triều Nam Việt. Bảo Tàng Viện có chứa 11.465 cổ vật khai quật được. Trong mộ còn tìm thấy xương của 15 người hiến sinh chôn theo vua.

Khu lăng mộ của Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 Ngay cổng chính Bảo Tàng Viện, trên cao nhất có hình mặt trời. Đây là biểu tượng của Bách Việt, Người Mặt Trời. Hiển nhiên Nam Việt là một thành phần của Bách Việt. Không một viện bảo tàng nào khác của Trung Quốc có để mặt trời tại ngay cổng chính.

 Hình mặt trời đứng trên cao nhất của mặt tiền Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương, Quảng Châu.

Lưu ý mặt trời ở đây có nọc tia sáng là mặt trời nọc Việt thái dương. Có hai loại nọc tia sáng cho thấy mặt trời nọc tia sáng này có khuôn mặt lưỡng hợp nòng nọc, âm dương của nhánh mặt trời nọc thái dương. Cả hai loại nọc tia sáng đều có đầu bằng (không nhọn) cho biết thuộc ngành nọc âm thái dương mặt trời êm dịu.

Nọc tia sáng dài biểu tượng cho phía dương còn nọc tia sáng ngắn hình tam giác ngược biểu tượng cho phía âm.

Mặt trời này cho biết Nam Việt có con dân hay bị ảnh hưởng của văn hóa ngành nọc âm Thần Nông thái dương của Bách Việt. Nói một cách khác là thuộc phía Tầy Thái ngành Lạc Việt  Lạc Long Quân Chấn thái dương.

Trên một bức tường mặt ngoài Bảo Tàng Viện cũng có một kiến trúc mô phỏng lại hình con thuyền trên một thạp đồng tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương Triệu Mo tức Văn Đế cháu của Triệu Đà.

 Một kiến trúc trên một bức tường mặt ngoài Bảo Tàng Viện mô phỏng lại hình con thuyền trên một thạp đồng tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương Triệu Mo tức Văn Đế cháu của Triệu Đà.

 

Hình vẽ chi tiết một chiêc thuyền trên một chiếc thạp đồng loại Đông Sơn tìm thấy trong lăng mộ Nam Việt Vương (Treasures From the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

Những thuyền này là những thuyền phán xét linh hồn giống như các thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Tuy nhiên cách diễn đạt đã thể điệu hóa nhiều và có nhiều điểm bình dân học vụ hơn như ở thân thuyền bên trái có khắc hình bốn chiếc trống đồng loại trống tượng Nước hình nồi úp Nguyễn Xuân Quang IV hay Heger IV là trống biểu của tộc mặt trời Nước Chấn thái dương ứng với Lạc Long Quân cho biết thuyền này thuộc tộc mặt trời Nước Chấn (sẽ có một bài viết về những con thuyền trên thạp này).

 

 

Chiếc thạp loại Đông Sơn tìm thấy trong lăng mộ Triệu Mô, Văn Đế (137-122 BC) (ảnh của tác giả).

Chiếc thạp loại Đông Sơn này cùng loại với các thạp đồng Đông Sơn tìm thấy ở Việt Nam như thạp Đào Thịnh, Hợp Minh… Các thạp đồng thường dùng làm vật cải táng chôn các phần quan trọng của con người như đầu hay tro than sau khi hỏa táng hay dùng làm vật tùy táng, hộ mệnh cho các linh hồn về cõi hằng cửu hay được tái sinh, vì thế trên mặt thạp thường diễn tả cảnh liên hệ với Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Chiếc thạp này có các hoa văn loại của đại tộc Đông Sơn và các hình thuyền phán xét linh hồn mang nét đặc thù của văn hóa lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Chim-Rắn, Tiên Rồng, nguyên lý căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Việt Dịch nòng nọc, cốt lõi của văn hóa Bách Việt. Điểm này cho thấy văn hóa Hoa Hán của Nam Việt đã bị Việt hóa. Văn hóa Hoa Hạ, Tần, Hán của dân du mục, võ biền không có văn hóa thuyền phán xét linh hồn.

Vương biểu chính của Triệu Mo là một mặt ngọc thạch hình Rồng-Phượng tìm thấy đặt ở mắt phải của ông ta.

 Mặt ngọc thạch hình Rồng-Phượng, Vương biểu chính của Triệu Mo (ảnh của tác giả).

 Mặt ngọc này được các nhà khảo cổ học Trung Quốc chọn làm biểu hiệu (logo) cho Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương này.

Mặt ngọc gồm có hai vòng tròn đồng tâm tức hai nòng, thái âm nước. Vòng trong có hình gọi là rồng. Vành ngoài có hình chim gọi là phượng đứng trên một chân rồng. Phần còn lại là hình thái sóng cuộn to, tròn đầu nước và hình sóng cuộn lửa nhỏ, nhọn đầu. Ta thấy rõ chim-rắn (rồng) là lưỡng hợp nước lửa Tiên Rồng đi đôi với các hình sóng cuộn mây nước- lửa chớp cũng là dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.

Ở đuôi rồng có hình đĩa tròn trong có hình móc nước. Theo duy dương đĩa tròn này là mặt trời nước, còn theo duy âm là mặt trăng hay không gian âm nước.

Đĩa tròn này cũng cho thấy Triệu Việt Vương nghiêng về nhánh mặt trời Nước ngành Thần Nông-Lạc Long Quân.

Lưu ý con rồng ở đây rất lớn là chủ thể ở tâm điểm của vương biểu trong khi chim phượng nằm vòng ngoài nhỏ con hơn. Điểm này cho thấy văn hóa Nam Việt nghiêng về nước Rồng mang tính chủ tức bị ảnh hưởng của Lạc Việt. Điểm này cũng thấy rõ là vành ngoài của vương hiệu có những hình mây cuộn lớn, cường điệu cho thấy ngành nước thái dương mang tính chủ.  Mây nước là chủ thể trang trí của Nam Việt thấy khắp nới như:

  

Hìh mây nước trên vách lăng mộ Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 

Hình mây nước trên chiếc áo quan bọc ngoài bằng sơn mài của Triệu Mo (ảnh của tác giả).

Hình mây nước  trên tấm bình phong sơn mài (Treasures From the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

 Con rồng ở đây cũng có sừng hình móc nước sóng cuộn là con rồng nước thuộc loại rồng Lạc Long Quân. Ta cũng thấy con rồng còn mang hình bóng của con giao long có cốt cá sấu Việt như không có hai sửng mang gạc hai mấu nhọn, lưỡi không lè ra (lưỡi cá sấu dính sát vào hàm dưới). Rồng giao Việt cá sấu Việt thấy rõ hơn qua cái ấn vàng của Triệu Mô.

 Ấn vàng hình rồng giao long của Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 Chi tiết rồng giao long trên ấn vàng (Treasures from the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

Ta thấy rất rõ con rồng này mang hình dạng cá sấu mõm to, hai tai to như hai sừng mang âm tính, có vẩy cá sấu, chân ba móng. Đuôi cuộn hình móc nước’. Đây là rồng nước giao long của Giao Việt khác hẳn với rồng long Trung Hoa.

Chiếc ấn vàng mang tên Triệu Mô, Văn Đế tìm thấy trong lăng mộ là một bằng chứng xác thực lăng mộ này là của Nam Việt Vương.

Con chim gọi là chim phượng ở đây cũng mang hình bóng chim tổ của Đại Tộc Việt là con chim Rìu, chim Việt mỏ cắt.

Chim phượng còn mang hình ảnh con chim Rìu, chim Việt mỏ Cắt.

 Chim phượng trong vương biểu Rồng-Phượng của Triệu Mo có mỏ rất lớn như mỏ rìu và có mũ sừng, đây chính là con chim mỏ Rìu, chim Việt mỏ Cắt vật tổ của ngành mặt trời thái dương Viêm Đế.

Xác của Triệu Mo được cho mặc một chiếc áo liệm bằng ngọc thạch gồm 2.291 thẻ ngọc ráp lại, cột bằng sợi tơ lụa.

 Xác Triệu Mo được liệm bằng chiếc áo bằng ngọc thạch ráp lại (ảnh của tác giả).

Theo quan niệm xưa các vua chúa được liệm trong áo ngọc thạch vì tin là ngọc thạch giữ cho xác không bị luỗng thối.

Trong mười bộ áo liệm bằng ngọc thạch tìm thấy ở Trung Quốc, bộ áo này là bộ áo lâu đời nhất được kết bằng sợi tơ lụa. Điều này cho thấy tơ tằm có rất sớm trong văn hóa Bách Việt.

Hiển nhiên văn hóa Lạc Việt mặt trời nước còn thấy rõ trong văn hóa Nam Việt. Lịch sử của người Tráng Zhuang  cũng đã ghi lại là nước Nam Việt  được người Tráng Zhuang hỗ trợ cho tới khi Nam Việt suy tàn vào năm 111 Trước Tây Lịch ( Lạc Việt Tráng Zhuang).

Một Vài Cổ Vật Việt Khác

Ngoài ra trong mộ còn tìm thấy nhiều chứng vật liên hệ với văn hóa Bách Việt như:

.Người dũng sĩ Việt được dùng làm chân đỡ tấm bình phong:

Dũng sĩ Việt dùng làm chân đỡ bình phong (ảnh của tác giả).

Người dũng sĩ Việt tay cầm đầu rắn và miệng ngậm rắn. Các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng dùng rắn là mục đích để xua đuổi đi tà ma, điều xấu. Thật ra rắn là vật tổ của ngành nước Thần Nông-Lạc Long Quân-Lạc Việt có ý nghĩa bao gồm trọn vẹn tất cả ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo hiển nhiên trong đó có ý nghĩa duy tục là che chở, bảo mệnh.

.Nồi ba chân bằng sắt kiểu đặc thù Việt.

Ngoài nhiều dụng cụ bằng đồng, đặc biệt nhất là chiếc nồi ba chân bằng sắt kiểu đặc thù Việt.

Nồi sắt kiểu đặc thù Việt ba chân (Treasures from the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

 Chiếc nồi sắt kiểu đặc thù Việt là mẫu vật bằng sắt lớn nhất tìm thấy ở vùng Lĩnh Nam này cộng chung với 190 dụng cụ bằng sắt tìm thấy trong lăng mộ cho thấy Nam Việt đã có một kỹ thuật cao trong việc tôi luyện đúc đồ sắt.

Trong lăng mộ không tìm thấy trống đồng mà chỉ có thạp đồng Đông Sơn vì thạp đồng như đã nói ở trên liên hệ với mai táng trong Vũ Trụ giáo. Tuy nhiên ở những nơi khác ở Quảng Châu dĩ nhiên cũng tìm thấy trống đồng. Đặc biệt nhất là tìm thấy một chiếc trống bằng gốm làm theo kiểu trống đồng.

Trống gốm có niên đại đời Tây Hán làm theo kiểu trống đồng tìm thấy ở Nongliaxia, năm 1986 hiện để tại Bảo Tàng Viện Quảng Châu (ảnh của tác giả).

Trống đồng bằng gốm này cũng giống trống đồng bằng đất sét là chứng tích hùng hồn cho thấy trống đồng không phải làm ra với chủ đích dùng làm bộ gõ trong âm nhạc mà là trống mang ý nghĩa biểu tượng tín ngưỡng.

Vân vân…

Tóm lại những chứng tích khảo cổ học tìm thấy ở lăng mộ Triệu Mo Văn Đế cháu của Triệu Đà Vũ Đế cho thấy Nam Việt vẫn còn giữ nguyên cốt lõi của Bách Việt và văn hóa Tần Hán đã bị Việt hóa. Triệu Mô nghiêng về ngành nòng âm thái dương Thần Nông Lạc Long Quân của Bách Việt, Người Mặt Trời.

Sự vắng bóng của con Triệu Đà qua sự kiện Triệu Đà truyền ngôi cho cháu Triệu Mo cho thấy con trai Triệu Đà là Trọng Thủy đã mất vì thế truyền thuyết cho rằng TrọngThủy tự tử chết theo Mỵ Châu có thể là có thật.

 

 

Lễ khánh thành nhà máy đúc tiền ở Canada. Ông Trương Công Hiếu một người Việt giỏi làm rạng danh đất nước.

posted May 8, 2018, 5:28 AM by Le Phan

Lễ khánh thành nhà máy đúc tiền ở Canada.
Ông Trương Công Hiếu, 
một người Việt giỏi làm rạng danh đất nước.

Tiến Sĩ TRƯƠNG CÔNG HIẾU
Tiến Sĩ Trương Công Hiếu nguyên là cựu học sinh trường Jean-Jacques Rousseau ở Saigon, sau khi đậu Tú Tài II Ban Toán năm1959, Ông được học bổng sang Hoa Kỳ để theo học ngành kỹ thuật tại trường Đại Học New York. Ông là sinh viên đậu Thủ Khoa khi lấy bằng kỹ sư và theo học lấy bằng Master về Kỹ Sư Hóa Học của trường Đại Học New York. Năm 1964 Ông trở về Việt Nam đi dạy ở trường Cao Đẳng Hóa Học và trường Cán Sự Hóa Học ở Phú Thọ và được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng của trường nầy. Sau 3 năm là giáo sư ở trường Hóa Học nói trên Ông trở lại Hoa Kỳ để lấy bằng Tiến Sỉ Kỹ Sư vào năm 1971.


Giáo Sư Trương Công Hiếu và các sinh viên Trường Cao Đẳng Hóa Học Phú Thọ 1-Feb-1966 

Sau 1971 Ông rời Mỹ sang định cư ở Canada đảm trách chức vụ kỹ sư tại nhiều công ty lớn:
1. Ông là Giám Đốc Kỹ Thuật của Công Ty Groupe Victoriaville, Québec, Công Ty sản xuất bàn ghế lớn nhất ở Québec, Canada.
2. Ông làm Giám Đốc Sản Xuất của Công Ty Bombardier. Công Ty Bombardier chuyên sản xuất xe chạy trên tuyết (Snowmobile), 
xe chạy dưới đường hầm (Subway), máy bay Canadair Regional Jet (loại máy bay jet bay đường ngắn).
3. Năm 1978 Ông vào làm việc cho Công Ty Đúc Tiền Kim Loại Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint). Nơi đây ông được giử 
nhiều trọng trách trông coi về phần kỹ thuật đúc tiền kim loại và đến năm 1980 Ông được bổ nhiệm làm Giám Đốc Kỹ Thuật của Công Ty Đúc Tiền Kim Loại Hoàng Gia Canada.
Năm 2006 Ông được đề cử làm Tổng Giám Đốc Kỹ Thuật Ban Khảo Cứu của Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint).

Royal Canadian Mint
Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại, là Tổng Công Ty thuộc sở hữu của chính phủ Canada, được thành lập vào năm 1908 tại Ottawa để sản xuất tiền kim loại cho Canada và tinh chế vàng ròng được vận chuyển từ rất nhiều mỏ vàng ở Quebec, Ontario, Manitoba, phía Bắc Alberta và British Columbia.

Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại chuyên sản xuất tiền xu lưu hành và đồng phôi với cao độ dập tự động cho hơn 80 quốc gia trên thế giới tại cơ sở đúc tiền ở Winnipeg.Những kỹ thuật chuyên sản xuất những loại tiền xu lưu niệm, những loại tiền kim loại quý như vàng, bạc, bạch kim, palladium để đầu tư trên thế giới đều được sản xuất tại cơ sở lịch sử Ottawa.

Năm 2008 Canada tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày thành lập Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại (Royal Canadian Mint) để đánh dấu sự thành công của Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada được nổi danh là một công ty hàng đầu của thế giới về những kỹ thuật và những phát minh hiện đại, những hiểu biết sâu rộng về khoa học và kỹ thuật đúc tiền.

Trong quyển sách: "Lịch Sử 100 Năm của Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại", "ROYAL CANADIAN MINT 100 YEARS OF HISTORY" Tiến Sĩ Trương Công Hiếu đã được ghi nhận là người đầu tiên trên thế giới đã thay đổi hệ thống đúc tiền bằng 
những kỹ thuật dùng kim loại và thép để làm cho đồng tiền mỏng hơn, nhẹ hơn và không bị rỉ sét.

Ngày nay những kỹ thuật hiện đại của Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại do Ông phát minh đã thay đổi tất cả tiền lưu hành hiện tại của nước Canada. Ông là người đầu tiên và duy nhất phát minh kỹ thuật in màu trên tiền kim loại lưu hành giống như in mầu trên giấy bạc bằng cách sử dụng tia laser để đổi màu trên tiền kim loại...


Những phát minh mới về kỹ thuật đúc tiền của Ông hiện nay đã tạo nhiều ảnh hưởng về hình thức và phương cách đúc tiền kim loại trên thế giới như: tinh chế vàng nguyên chất 4 số 9 (.9999) làm tiêu chuẩn quốc tế từ năm 1982, và kỹ thuật lọc vàng 5 số 9 (.99999), kỹ thuật mạ đa lớp trên thép (kỹ thuật nầy đang được xữ dụng trong tiền kim loại của hơn 35 nước trên thế giới).

Ngoài ra Ông cũng là người đã phát minh kỹ thuật sản xuất tiền xu với hình ảnh ba chiều (hologram), và dùng kiến thức DNA trong tiền lưu hành à vàng để bảo mật và định tính xác thực đồng tiền vàng ròng của Canada lưu hành ở bất cứ nơi nào trên thế giới qua hệ thống vệ tinh điện thoại di động (smartphone).

Tiến Sỉ Trương Công Hiếu là người có nhiều phát minh và sáng chế trong ngành kỹ thuật đúc tiền kim loại với hơn 10 bằng sáng chế đã được nhiều nước trên thế giới và Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại ghi nhận là quá xuất sắc.

Hiện nay tiền xu ở các nước như: Canada, Singapore, New Zealand, Barbados, Ghana, Ethiopia, Thailand, Philippines, Venezuela, Panama, Albania, United Arab Emirates… cũng đang dùng những kỹ thuật của Ông. Chính phủ Mỹ cũng đã bình chọn kỹ thuật của Ông để đưa vào áp dụng trong chương trinh tuyển lựa kim loại mới cho ngành tiền tệ của Mỹ, do Thượng và Hạ Nghị Viện Mỹ chấp thuận cho phép chánh phủ Obama thay đổi tiền tệ Mỹ trong tương lai.

Trong quyển sách: "Chuyện Kể Về Các Cuộc Triển Lãm Tiền Xu Quốc Tế", "STORY OF WORLD MONEY FAIR" được xuất
 bản vào năm 2012, tác giả Albert M Beck, Chủ Tịch và Sáng Lập Viên của Hội Chợ Quốc Tế Tiền Tệ Berlin tại Đức đã viết và 
bình luận về Tiến Sĩ Trương Công Hiếu như sau: 

"Trong 40 năm vừa qua người mà có công lao nhiều nhất trong sự tiến bộ về nghành đúc tiền trên thế giới, người đã đóng góp nhiều nhất về những kiến thức mới về nghành đúc tiền trên thế giới chính là Tiến Sỉ Hieu C. Truong của Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại".

Ông M. Beck cũng đưa thêm lời bình luận: "Tôi cho rằng ông Hieu C. Truong là người có công nhiều nhất đối với ngành kỹ thuật đúc tiền kim loại của thế giới. Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại cũng công nhận rằng Tiến Sỉ Trương Công Hiếu là người kỹ sư nổi tiếng nhất trên thế giới và là người hiểu biết nhiều nhất trong kỹ thuật đúc tiền. Theo tôi ai muốn biết kỹ thuật đúc tiền sẽ đi về hướng nào trong tương lai thì nên hỏi ông Hiếu".

Để tiếp tục lưu danh là một Công Ty dẫn đầu thế giới về kỹ thuật đúc tiền và để thành công trong những lảnh vực phát triển các công nghệ mới hầu phục vụ ngành công nghiệp đúc tiền của thế giới và cũng để tôn vinh và ghi nhớ những công trạng của Tiến Sỉ Trương Công Hiếu đối với Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại, Royal Canadian Mint đã cho xây dựng một Trung Tâm Khảo Cứu Xuất Sắc và Hiện Đại với ngân sách 10 triệu đô la tại Winnipeg và đặt tên cho cơ sở khảo cứu về kỹ thuật đúc tiền vừa mới xây dựng nầy là:

TRUNG TÂM KHẢO CỨU XUẤT SẮC Tiến Sĩ TRƯƠNG C. HIẾU 
(Dr. HIEU C. TRUONG CENTER OF EXCELLENCE)
Royal Canadian Mint, Winnipeg, Manitoba, Canada.

Cơ sở khảo cứu nầy đã được khánh thành vào ngày 13 tháng 6 năm 2013 cùng lúc với nhà máy mạ thứ hai được xây dựng với ngân sách 70 triệu đôla. Tất cả những cơ sở nầy là nơi mà những kỹ thuật mới nhất về đúc tiền trong lảnh vực khoa học, trong lảnh vực tự động hóa qua máy vi tính, trong kiến thức mới nhất với điện tín vệ tinh, phát triển phần mềm, khoa học vật liệu trong việc quản lý tiền tệ, trong lảnh vực thông tin liên lạc bằng điện thoại hoán chuyển thói quen của người tiêu dùng ... tất cả những phát minh mới về tiền tệ của Tiến Sỉ Trương Công Hiếu sẽ được đưa vào áp dụng và sẽ được phát triển tại nơi nầy để phục vụ cho các thế hệ trong tương lai.

Trung Tâm Khảo Cứu mới nầy cũng sẽ là nơi được dùng để đào tạo các kỹ sư, các nhà quản lý và các giám đốc của các Nhà Máy Đúc Tiền trên thế giới. Những người đi tu nghiệp sẽ được đưa đến Trung Tâm nầy để học các kỹ thuật căn bản cũng như các kỹ thuật hiện đại về đánh tiền, vì từ trước đến nay kỹ thuật nầy chưa từng được giảng dạy tại một trường đại học nào trên thế giới.
Trung Tâm Khảo Cứu nầy cũng sẽ là nơi hội tụ của các kỹ sư, các nhà khảo cứu trên thế giới tìm đến với nhau để cùng nhau hợp tác khảo cứu về môn đúc tiền.

Ngoài việc phục vụ cho đất nước Canada, Tiến Sĩ Trương Công Hiếu cũng tham gia và ủng hộ các chương trình họat động của Cộng Đồng Việtnam tại Canada. Ông làm có vấn cho các tổ chức: Thể Thao Người Việt Bắc Mỹ lần thứ IX được tổ chức tại Ottawa năm 1981, Ủy Ban Lập Đền Kỹ Niệm của Liên Đoàn Hội Người Việt, bao gồm 11 Hội Người Việt của các địa phương khắp nước Canada, Ủy Ban xây dựng Trung Tâm Văn Lang, ngân sách do chánh phủ Ontario, Canada tài trợ. Trung Tâm Văn Lang là một chung cư gồm 80 căn hộ được xây dựng lên để nâng đở, trợ giúp cho những bô lão người Việt và những hộ gia đình có nguồn lợi tức thấp có được nơi ổn định cho đời sống. Ông cũng cộng tác với Hội Phật Giáo Người Việt xây dựng lên Chùa Từ Ân với kiến trúc thuần túy của một ngôi chùa Việt Nam tại thủ đô Ottawa.

Vidéo YouTube


Vidéo YouTube


Vidéo YouTube


Vidéo YouTube


https://www.cdncoin.com/kb_results.asp?ID=33

1-10 of 19