Âm Nhạc & Nghệ Thuật • Music & Arts


NHỮNG NÉT VĂN HÓA BÁCH VIỆT TRONG MỘ NAM VIỆT VƯƠNG, QUẢNG CHÂU.

posted Nov 22, 2018, 6:32 AM by Le Phan

 NHỮNG NÉT VĂN HÓA BÁCH VIỆT

TRONG MỘ NAM VIỆT VƯƠNG, QUẢNG

CHÂU,TRUNG QUỐC.

Nguyễn Xuân Quang

Tàc giả đứng trước tượng Triệu Đà (Zhao Tou) trong Bảo Tàng Viện Quảng Châu, Nam Trung Hoa.

(ảnh Michelle Mai Nguyễn).

Vào năm 214 Trước Tây Lịch (BC), Tần Thủy Hoàng xua quân chiếm Lĩnh Nam và lập ra ba quận: Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Nam Hải là thành Phiên Ngung (Panyu), nay là tỉnh Quảng Châu. Khi nhà Tần suy tàn, Triệu Đà, vị tướng nhà Tần tại địa phương, thống nhất ba quận lại lập nên nước Nam Việt và xưng là Vũ Đế (137 BC-122 BC). Cung điện của Nam Việt là thành Phiên Ngung ở ngay trung tâm tỉnh Quảng Châu ngày nay.

Vương quốc Nam Việt Vương gồm có 5 triều vua kéo dài 93 năm (137 TTL-122 TTL).

Điểm cần lưu ý, vương phả cho thấy Triệu Đà truyền ngôi cho cháu là Triệu Mạc (Mo) chứ không phải cho con là Trọng Thủy. Điểm này cho thấy truyền thuyết nói rằng Trọng Thủy tự tử theo Mỵ Châu có thể là có thật.

Vương quốc Nam Việt còn để lại nhiều di chỉ khảo cổ học tại Lĩnh Nam, Quảng Châu như Cung Điện của Vương quốc Nam Việt, Lăng Mộ Nam Việt Vương và Thủy Môn Bằng Gỗ (Wooden Watergate) của Vương quốc Nam Việt. Thủy Môn này là hệ thồng thoát dẫn nước của thành phố Quảng Châu cách đây 2.000 năm để phòng ngừa lụt lội.

Lăng Mộ Của Triệu Mo

Bài viết này có chủ đích chính là viết về những dấu tích văn hóa Bách Việt còn tìm thấy trong mộ của Triệu Mo qua các chứng tích cổ vật trưng bầy trong Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương.

Người nước Nam Việt vốn gốc Bách Việt trong đó có Lạc Việt Tráng dù bị người Hoa cai trị nhưng dĩ nhiên vẫn còn giữ lại cội gốc văn hóa Bách Việt, Người Mặt Trời Thái Dương, có cốt lõi văn hóa lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng. Văn hóa Bách Việt dĩ nhiên còn thấy ở Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương ở Quảng Châu.

Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương mở cửa năm 1988, xây ngay tại khu lăng mộ Triệu Mô, cháu của Triệu Đà, đời vua thứ nhì của Vương Triều Nam Việt. Bảo Tàng Viện có chứa 11.465 cổ vật khai quật được. Trong mộ còn tìm thấy xương của 15 người hiến sinh chôn theo vua.

Khu lăng mộ của Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 Ngay cổng chính Bảo Tàng Viện, trên cao nhất có hình mặt trời. Đây là biểu tượng của Bách Việt, Người Mặt Trời. Hiển nhiên Nam Việt là một thành phần của Bách Việt. Không một viện bảo tàng nào khác của Trung Quốc có để mặt trời tại ngay cổng chính.

 Hình mặt trời đứng trên cao nhất của mặt tiền Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương, Quảng Châu.

Lưu ý mặt trời ở đây có nọc tia sáng là mặt trời nọc Việt thái dương. Có hai loại nọc tia sáng cho thấy mặt trời nọc tia sáng này có khuôn mặt lưỡng hợp nòng nọc, âm dương của nhánh mặt trời nọc thái dương. Cả hai loại nọc tia sáng đều có đầu bằng (không nhọn) cho biết thuộc ngành nọc âm thái dương mặt trời êm dịu.

Nọc tia sáng dài biểu tượng cho phía dương còn nọc tia sáng ngắn hình tam giác ngược biểu tượng cho phía âm.

Mặt trời này cho biết Nam Việt có con dân hay bị ảnh hưởng của văn hóa ngành nọc âm Thần Nông thái dương của Bách Việt. Nói một cách khác là thuộc phía Tầy Thái ngành Lạc Việt  Lạc Long Quân Chấn thái dương.

Trên một bức tường mặt ngoài Bảo Tàng Viện cũng có một kiến trúc mô phỏng lại hình con thuyền trên một thạp đồng tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương Triệu Mo tức Văn Đế cháu của Triệu Đà.

 Một kiến trúc trên một bức tường mặt ngoài Bảo Tàng Viện mô phỏng lại hình con thuyền trên một thạp đồng tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương Triệu Mo tức Văn Đế cháu của Triệu Đà.

 

Hình vẽ chi tiết một chiêc thuyền trên một chiếc thạp đồng loại Đông Sơn tìm thấy trong lăng mộ Nam Việt Vương (Treasures From the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

Những thuyền này là những thuyền phán xét linh hồn giống như các thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Tuy nhiên cách diễn đạt đã thể điệu hóa nhiều và có nhiều điểm bình dân học vụ hơn như ở thân thuyền bên trái có khắc hình bốn chiếc trống đồng loại trống tượng Nước hình nồi úp Nguyễn Xuân Quang IV hay Heger IV là trống biểu của tộc mặt trời Nước Chấn thái dương ứng với Lạc Long Quân cho biết thuyền này thuộc tộc mặt trời Nước Chấn (sẽ có một bài viết về những con thuyền trên thạp này).

 

 

Chiếc thạp loại Đông Sơn tìm thấy trong lăng mộ Triệu Mô, Văn Đế (137-122 BC) (ảnh của tác giả).

Chiếc thạp loại Đông Sơn này cùng loại với các thạp đồng Đông Sơn tìm thấy ở Việt Nam như thạp Đào Thịnh, Hợp Minh… Các thạp đồng thường dùng làm vật cải táng chôn các phần quan trọng của con người như đầu hay tro than sau khi hỏa táng hay dùng làm vật tùy táng, hộ mệnh cho các linh hồn về cõi hằng cửu hay được tái sinh, vì thế trên mặt thạp thường diễn tả cảnh liên hệ với Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Chiếc thạp này có các hoa văn loại của đại tộc Đông Sơn và các hình thuyền phán xét linh hồn mang nét đặc thù của văn hóa lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Chim-Rắn, Tiên Rồng, nguyên lý căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Việt Dịch nòng nọc, cốt lõi của văn hóa Bách Việt. Điểm này cho thấy văn hóa Hoa Hán của Nam Việt đã bị Việt hóa. Văn hóa Hoa Hạ, Tần, Hán của dân du mục, võ biền không có văn hóa thuyền phán xét linh hồn.

Vương biểu chính của Triệu Mo là một mặt ngọc thạch hình Rồng-Phượng tìm thấy đặt ở mắt phải của ông ta.

 Mặt ngọc thạch hình Rồng-Phượng, Vương biểu chính của Triệu Mo (ảnh của tác giả).

 Mặt ngọc này được các nhà khảo cổ học Trung Quốc chọn làm biểu hiệu (logo) cho Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương này.

Mặt ngọc gồm có hai vòng tròn đồng tâm tức hai nòng, thái âm nước. Vòng trong có hình gọi là rồng. Vành ngoài có hình chim gọi là phượng đứng trên một chân rồng. Phần còn lại là hình thái sóng cuộn to, tròn đầu nước và hình sóng cuộn lửa nhỏ, nhọn đầu. Ta thấy rõ chim-rắn (rồng) là lưỡng hợp nước lửa Tiên Rồng đi đôi với các hình sóng cuộn mây nước- lửa chớp cũng là dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.

Ở đuôi rồng có hình đĩa tròn trong có hình móc nước. Theo duy dương đĩa tròn này là mặt trời nước, còn theo duy âm là mặt trăng hay không gian âm nước.

Đĩa tròn này cũng cho thấy Triệu Việt Vương nghiêng về nhánh mặt trời Nước ngành Thần Nông-Lạc Long Quân.

Lưu ý con rồng ở đây rất lớn là chủ thể ở tâm điểm của vương biểu trong khi chim phượng nằm vòng ngoài nhỏ con hơn. Điểm này cho thấy văn hóa Nam Việt nghiêng về nước Rồng mang tính chủ tức bị ảnh hưởng của Lạc Việt. Điểm này cũng thấy rõ là vành ngoài của vương hiệu có những hình mây cuộn lớn, cường điệu cho thấy ngành nước thái dương mang tính chủ.  Mây nước là chủ thể trang trí của Nam Việt thấy khắp nới như:

  

Hìh mây nước trên vách lăng mộ Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 

Hình mây nước trên chiếc áo quan bọc ngoài bằng sơn mài của Triệu Mo (ảnh của tác giả).

Hình mây nước  trên tấm bình phong sơn mài (Treasures From the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

 Con rồng ở đây cũng có sừng hình móc nước sóng cuộn là con rồng nước thuộc loại rồng Lạc Long Quân. Ta cũng thấy con rồng còn mang hình bóng của con giao long có cốt cá sấu Việt như không có hai sửng mang gạc hai mấu nhọn, lưỡi không lè ra (lưỡi cá sấu dính sát vào hàm dưới). Rồng giao Việt cá sấu Việt thấy rõ hơn qua cái ấn vàng của Triệu Mô.

 Ấn vàng hình rồng giao long của Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 Chi tiết rồng giao long trên ấn vàng (Treasures from the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

Ta thấy rất rõ con rồng này mang hình dạng cá sấu mõm to, hai tai to như hai sừng mang âm tính, có vẩy cá sấu, chân ba móng. Đuôi cuộn hình móc nước’. Đây là rồng nước giao long của Giao Việt khác hẳn với rồng long Trung Hoa.

Chiếc ấn vàng mang tên Triệu Mô, Văn Đế tìm thấy trong lăng mộ là một bằng chứng xác thực lăng mộ này là của Nam Việt Vương.

Con chim gọi là chim phượng ở đây cũng mang hình bóng chim tổ của Đại Tộc Việt là con chim Rìu, chim Việt mỏ cắt.

Chim phượng còn mang hình ảnh con chim Rìu, chim Việt mỏ Cắt.

 Chim phượng trong vương biểu Rồng-Phượng của Triệu Mo có mỏ rất lớn như mỏ rìu và có mũ sừng, đây chính là con chim mỏ Rìu, chim Việt mỏ Cắt vật tổ của ngành mặt trời thái dương Viêm Đế.

Xác của Triệu Mo được cho mặc một chiếc áo liệm bằng ngọc thạch gồm 2.291 thẻ ngọc ráp lại, cột bằng sợi tơ lụa.

 Xác Triệu Mo được liệm bằng chiếc áo bằng ngọc thạch ráp lại (ảnh của tác giả).

Theo quan niệm xưa các vua chúa được liệm trong áo ngọc thạch vì tin là ngọc thạch giữ cho xác không bị luỗng thối.

Trong mười bộ áo liệm bằng ngọc thạch tìm thấy ở Trung Quốc, bộ áo này là bộ áo lâu đời nhất được kết bằng sợi tơ lụa. Điều này cho thấy tơ tằm có rất sớm trong văn hóa Bách Việt.

Hiển nhiên văn hóa Lạc Việt mặt trời nước còn thấy rõ trong văn hóa Nam Việt. Lịch sử của người Tráng Zhuang  cũng đã ghi lại là nước Nam Việt  được người Tráng Zhuang hỗ trợ cho tới khi Nam Việt suy tàn vào năm 111 Trước Tây Lịch ( Lạc Việt Tráng Zhuang).

Một Vài Cổ Vật Việt Khác

Ngoài ra trong mộ còn tìm thấy nhiều chứng vật liên hệ với văn hóa Bách Việt như:

.Người dũng sĩ Việt được dùng làm chân đỡ tấm bình phong:

Dũng sĩ Việt dùng làm chân đỡ bình phong (ảnh của tác giả).

Người dũng sĩ Việt tay cầm đầu rắn và miệng ngậm rắn. Các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng dùng rắn là mục đích để xua đuổi đi tà ma, điều xấu. Thật ra rắn là vật tổ của ngành nước Thần Nông-Lạc Long Quân-Lạc Việt có ý nghĩa bao gồm trọn vẹn tất cả ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo hiển nhiên trong đó có ý nghĩa duy tục là che chở, bảo mệnh.

.Nồi ba chân bằng sắt kiểu đặc thù Việt.

Ngoài nhiều dụng cụ bằng đồng, đặc biệt nhất là chiếc nồi ba chân bằng sắt kiểu đặc thù Việt.

Nồi sắt kiểu đặc thù Việt ba chân (Treasures from the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

 Chiếc nồi sắt kiểu đặc thù Việt là mẫu vật bằng sắt lớn nhất tìm thấy ở vùng Lĩnh Nam này cộng chung với 190 dụng cụ bằng sắt tìm thấy trong lăng mộ cho thấy Nam Việt đã có một kỹ thuật cao trong việc tôi luyện đúc đồ sắt.

Trong lăng mộ không tìm thấy trống đồng mà chỉ có thạp đồng Đông Sơn vì thạp đồng như đã nói ở trên liên hệ với mai táng trong Vũ Trụ giáo. Tuy nhiên ở những nơi khác ở Quảng Châu dĩ nhiên cũng tìm thấy trống đồng. Đặc biệt nhất là tìm thấy một chiếc trống bằng gốm làm theo kiểu trống đồng.

Trống gốm có niên đại đời Tây Hán làm theo kiểu trống đồng tìm thấy ở Nongliaxia, năm 1986 hiện để tại Bảo Tàng Viện Quảng Châu (ảnh của tác giả).

Trống đồng bằng gốm này cũng giống trống đồng bằng đất sét là chứng tích hùng hồn cho thấy trống đồng không phải làm ra với chủ đích dùng làm bộ gõ trong âm nhạc mà là trống mang ý nghĩa biểu tượng tín ngưỡng.

Vân vân…

Tóm lại những chứng tích khảo cổ học tìm thấy ở lăng mộ Triệu Mo Văn Đế cháu của Triệu Đà Vũ Đế cho thấy Nam Việt vẫn còn giữ nguyên cốt lõi của Bách Việt và văn hóa Tần Hán đã bị Việt hóa. Triệu Mô nghiêng về ngành nòng âm thái dương Thần Nông Lạc Long Quân của Bách Việt, Người Mặt Trời.

Sự vắng bóng của con Triệu Đà qua sự kiện Triệu Đà truyền ngôi cho cháu Triệu Mo cho thấy con trai Triệu Đà là Trọng Thủy đã mất vì thế truyền thuyết cho rằng TrọngThủy tự tử chết theo Mỵ Châu có thể là có thật.

 

 

Lễ khánh thành nhà máy đúc tiền ở Canada. Ông Trương Công Hiếu một người Việt giỏi làm rạng danh đất nước.

posted May 8, 2018, 5:28 AM by Le Phan

Lễ khánh thành nhà máy đúc tiền ở Canada.
Ông Trương Công Hiếu, 
một người Việt giỏi làm rạng danh đất nước.

Tiến Sĩ TRƯƠNG CÔNG HIẾU
Tiến Sĩ Trương Công Hiếu nguyên là cựu học sinh trường Jean-Jacques Rousseau ở Saigon, sau khi đậu Tú Tài II Ban Toán năm1959, Ông được học bổng sang Hoa Kỳ để theo học ngành kỹ thuật tại trường Đại Học New York. Ông là sinh viên đậu Thủ Khoa khi lấy bằng kỹ sư và theo học lấy bằng Master về Kỹ Sư Hóa Học của trường Đại Học New York. Năm 1964 Ông trở về Việt Nam đi dạy ở trường Cao Đẳng Hóa Học và trường Cán Sự Hóa Học ở Phú Thọ và được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng của trường nầy. Sau 3 năm là giáo sư ở trường Hóa Học nói trên Ông trở lại Hoa Kỳ để lấy bằng Tiến Sỉ Kỹ Sư vào năm 1971.


Giáo Sư Trương Công Hiếu và các sinh viên Trường Cao Đẳng Hóa Học Phú Thọ 1-Feb-1966 

Sau 1971 Ông rời Mỹ sang định cư ở Canada đảm trách chức vụ kỹ sư tại nhiều công ty lớn:
1. Ông là Giám Đốc Kỹ Thuật của Công Ty Groupe Victoriaville, Québec, Công Ty sản xuất bàn ghế lớn nhất ở Québec, Canada.
2. Ông làm Giám Đốc Sản Xuất của Công Ty Bombardier. Công Ty Bombardier chuyên sản xuất xe chạy trên tuyết (Snowmobile), 
xe chạy dưới đường hầm (Subway), máy bay Canadair Regional Jet (loại máy bay jet bay đường ngắn).
3. Năm 1978 Ông vào làm việc cho Công Ty Đúc Tiền Kim Loại Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint). Nơi đây ông được giử 
nhiều trọng trách trông coi về phần kỹ thuật đúc tiền kim loại và đến năm 1980 Ông được bổ nhiệm làm Giám Đốc Kỹ Thuật của Công Ty Đúc Tiền Kim Loại Hoàng Gia Canada.
Năm 2006 Ông được đề cử làm Tổng Giám Đốc Kỹ Thuật Ban Khảo Cứu của Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint).

Royal Canadian Mint
Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại, là Tổng Công Ty thuộc sở hữu của chính phủ Canada, được thành lập vào năm 1908 tại Ottawa để sản xuất tiền kim loại cho Canada và tinh chế vàng ròng được vận chuyển từ rất nhiều mỏ vàng ở Quebec, Ontario, Manitoba, phía Bắc Alberta và British Columbia.

Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại chuyên sản xuất tiền xu lưu hành và đồng phôi với cao độ dập tự động cho hơn 80 quốc gia trên thế giới tại cơ sở đúc tiền ở Winnipeg.Những kỹ thuật chuyên sản xuất những loại tiền xu lưu niệm, những loại tiền kim loại quý như vàng, bạc, bạch kim, palladium để đầu tư trên thế giới đều được sản xuất tại cơ sở lịch sử Ottawa.

Năm 2008 Canada tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày thành lập Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại (Royal Canadian Mint) để đánh dấu sự thành công của Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada được nổi danh là một công ty hàng đầu của thế giới về những kỹ thuật và những phát minh hiện đại, những hiểu biết sâu rộng về khoa học và kỹ thuật đúc tiền.

Trong quyển sách: "Lịch Sử 100 Năm của Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại", "ROYAL CANADIAN MINT 100 YEARS OF HISTORY" Tiến Sĩ Trương Công Hiếu đã được ghi nhận là người đầu tiên trên thế giới đã thay đổi hệ thống đúc tiền bằng 
những kỹ thuật dùng kim loại và thép để làm cho đồng tiền mỏng hơn, nhẹ hơn và không bị rỉ sét.

Ngày nay những kỹ thuật hiện đại của Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại do Ông phát minh đã thay đổi tất cả tiền lưu hành hiện tại của nước Canada. Ông là người đầu tiên và duy nhất phát minh kỹ thuật in màu trên tiền kim loại lưu hành giống như in mầu trên giấy bạc bằng cách sử dụng tia laser để đổi màu trên tiền kim loại...


Những phát minh mới về kỹ thuật đúc tiền của Ông hiện nay đã tạo nhiều ảnh hưởng về hình thức và phương cách đúc tiền kim loại trên thế giới như: tinh chế vàng nguyên chất 4 số 9 (.9999) làm tiêu chuẩn quốc tế từ năm 1982, và kỹ thuật lọc vàng 5 số 9 (.99999), kỹ thuật mạ đa lớp trên thép (kỹ thuật nầy đang được xữ dụng trong tiền kim loại của hơn 35 nước trên thế giới).

Ngoài ra Ông cũng là người đã phát minh kỹ thuật sản xuất tiền xu với hình ảnh ba chiều (hologram), và dùng kiến thức DNA trong tiền lưu hành à vàng để bảo mật và định tính xác thực đồng tiền vàng ròng của Canada lưu hành ở bất cứ nơi nào trên thế giới qua hệ thống vệ tinh điện thoại di động (smartphone).

Tiến Sỉ Trương Công Hiếu là người có nhiều phát minh và sáng chế trong ngành kỹ thuật đúc tiền kim loại với hơn 10 bằng sáng chế đã được nhiều nước trên thế giới và Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại ghi nhận là quá xuất sắc.

Hiện nay tiền xu ở các nước như: Canada, Singapore, New Zealand, Barbados, Ghana, Ethiopia, Thailand, Philippines, Venezuela, Panama, Albania, United Arab Emirates… cũng đang dùng những kỹ thuật của Ông. Chính phủ Mỹ cũng đã bình chọn kỹ thuật của Ông để đưa vào áp dụng trong chương trinh tuyển lựa kim loại mới cho ngành tiền tệ của Mỹ, do Thượng và Hạ Nghị Viện Mỹ chấp thuận cho phép chánh phủ Obama thay đổi tiền tệ Mỹ trong tương lai.

Trong quyển sách: "Chuyện Kể Về Các Cuộc Triển Lãm Tiền Xu Quốc Tế", "STORY OF WORLD MONEY FAIR" được xuất
 bản vào năm 2012, tác giả Albert M Beck, Chủ Tịch và Sáng Lập Viên của Hội Chợ Quốc Tế Tiền Tệ Berlin tại Đức đã viết và 
bình luận về Tiến Sĩ Trương Công Hiếu như sau: 

"Trong 40 năm vừa qua người mà có công lao nhiều nhất trong sự tiến bộ về nghành đúc tiền trên thế giới, người đã đóng góp nhiều nhất về những kiến thức mới về nghành đúc tiền trên thế giới chính là Tiến Sỉ Hieu C. Truong của Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại".

Ông M. Beck cũng đưa thêm lời bình luận: "Tôi cho rằng ông Hieu C. Truong là người có công nhiều nhất đối với ngành kỹ thuật đúc tiền kim loại của thế giới. Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại cũng công nhận rằng Tiến Sỉ Trương Công Hiếu là người kỹ sư nổi tiếng nhất trên thế giới và là người hiểu biết nhiều nhất trong kỹ thuật đúc tiền. Theo tôi ai muốn biết kỹ thuật đúc tiền sẽ đi về hướng nào trong tương lai thì nên hỏi ông Hiếu".

Để tiếp tục lưu danh là một Công Ty dẫn đầu thế giới về kỹ thuật đúc tiền và để thành công trong những lảnh vực phát triển các công nghệ mới hầu phục vụ ngành công nghiệp đúc tiền của thế giới và cũng để tôn vinh và ghi nhớ những công trạng của Tiến Sỉ Trương Công Hiếu đối với Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại, Royal Canadian Mint đã cho xây dựng một Trung Tâm Khảo Cứu Xuất Sắc và Hiện Đại với ngân sách 10 triệu đô la tại Winnipeg và đặt tên cho cơ sở khảo cứu về kỹ thuật đúc tiền vừa mới xây dựng nầy là:

TRUNG TÂM KHẢO CỨU XUẤT SẮC Tiến Sĩ TRƯƠNG C. HIẾU 
(Dr. HIEU C. TRUONG CENTER OF EXCELLENCE)
Royal Canadian Mint, Winnipeg, Manitoba, Canada.

Cơ sở khảo cứu nầy đã được khánh thành vào ngày 13 tháng 6 năm 2013 cùng lúc với nhà máy mạ thứ hai được xây dựng với ngân sách 70 triệu đôla. Tất cả những cơ sở nầy là nơi mà những kỹ thuật mới nhất về đúc tiền trong lảnh vực khoa học, trong lảnh vực tự động hóa qua máy vi tính, trong kiến thức mới nhất với điện tín vệ tinh, phát triển phần mềm, khoa học vật liệu trong việc quản lý tiền tệ, trong lảnh vực thông tin liên lạc bằng điện thoại hoán chuyển thói quen của người tiêu dùng ... tất cả những phát minh mới về tiền tệ của Tiến Sỉ Trương Công Hiếu sẽ được đưa vào áp dụng và sẽ được phát triển tại nơi nầy để phục vụ cho các thế hệ trong tương lai.

Trung Tâm Khảo Cứu mới nầy cũng sẽ là nơi được dùng để đào tạo các kỹ sư, các nhà quản lý và các giám đốc của các Nhà Máy Đúc Tiền trên thế giới. Những người đi tu nghiệp sẽ được đưa đến Trung Tâm nầy để học các kỹ thuật căn bản cũng như các kỹ thuật hiện đại về đánh tiền, vì từ trước đến nay kỹ thuật nầy chưa từng được giảng dạy tại một trường đại học nào trên thế giới.
Trung Tâm Khảo Cứu nầy cũng sẽ là nơi hội tụ của các kỹ sư, các nhà khảo cứu trên thế giới tìm đến với nhau để cùng nhau hợp tác khảo cứu về môn đúc tiền.

Ngoài việc phục vụ cho đất nước Canada, Tiến Sĩ Trương Công Hiếu cũng tham gia và ủng hộ các chương trình họat động của Cộng Đồng Việtnam tại Canada. Ông làm có vấn cho các tổ chức: Thể Thao Người Việt Bắc Mỹ lần thứ IX được tổ chức tại Ottawa năm 1981, Ủy Ban Lập Đền Kỹ Niệm của Liên Đoàn Hội Người Việt, bao gồm 11 Hội Người Việt của các địa phương khắp nước Canada, Ủy Ban xây dựng Trung Tâm Văn Lang, ngân sách do chánh phủ Ontario, Canada tài trợ. Trung Tâm Văn Lang là một chung cư gồm 80 căn hộ được xây dựng lên để nâng đở, trợ giúp cho những bô lão người Việt và những hộ gia đình có nguồn lợi tức thấp có được nơi ổn định cho đời sống. Ông cũng cộng tác với Hội Phật Giáo Người Việt xây dựng lên Chùa Từ Ân với kiến trúc thuần túy của một ngôi chùa Việt Nam tại thủ đô Ottawa.

Vidéo YouTube


Vidéo YouTube


Vidéo YouTube


Vidéo YouTube


https://www.cdncoin.com/kb_results.asp?ID=33

Nomination of Dr. Hieu C. TRUONG to the Order of Canada

posted May 8, 2018, 5:12 AM by Le Phan   [ updated May 8, 2018, 5:49 AM ]

A valuable and lasting contribution of Dr. Hieu C. Truong to Canada at the service of all Canadians

It is our honour and our privilege to nominate Dr. Hieu C. Truong as a candidate for consideration by the Governor General of Canada for an Order of Canada award.

REASONS FOR THE NOMINATION

Dr. Hieu C. Truong has made Canada known globally as the leader in the Minting industry because of his innovations, his dedication for excellence in his work, his aspiration, his desire and his zeal to make Canada the recognized leading country in minting technology excellence in the world. Dr. Truong was a Royal Canadian Mint inventor and innovator for more than 36 years, with a reputation at the Mint and in minting technology circles around the globe that has become legendary. His life career at the Royal Canadian Mint had served Canada and all Canadians in our daily life.

In fact, Dr. Truong worked at the Royal Canadian Mint in the last thirty-six years of his long distinguished career spanning over more than forty five years in Canada. He retired two years ago. All the coins that Canadians and other people in a great number of countries have been using and will be using, collecting or investing are the results of his work and his many inventions. To summarize his view and the motivation behind his

WORK AT THE ROYAL CANADIAN MINT: A PASSION FOR THE MINT TO BE THE BEST IN ITS CLASS WITH MANY INNOVATIONS AS “FIRSTS” IN THE WORLD. THIS DEDICATION HAS BEEN BRINGING PRESTIGE TO CANADA AND MAKES THE ROYAL CANADIAN MINT THE RENOWN WORLD LEADER IN MINTING TECHNOLOGY AND THE ENVY OF THE WORLD.

Today, the Royal Canadian Mint is recognized for its mastering knowledge of minting engineering, for the quality of its coins, for the continuous introduction of new concepts. The Royal Canadian Mint is also commended for putting science into  minting, with sharp edge technologies which modernize a secretive, conservative industry which used to be very traditional to a competitive industry open to changes and an industry in which Canada regularly shared its knowledge with the other mints by presenting informative papers at international minting conferences on subjects such as machinery design, new coining materials  for circulation coins, by presenting beautiful and captivating  numismatic coins and revealing how they are made, by promoting changes and knowledge sharing and by setting high quality standards for the coin industry worldwide.

Among the patented innovations, we can mention the brilliant idea of the multi-ply plating technology used to produce the new second generation of plated steel coinage materials. Using this technology invented by Dr. Truong, Canada changed from expensive pure nickel coins and cupro nickel coins to very competitive nickel plated steel coins. Many other countries followed suit by using this Canadian technology and converted their coins and coin blanks to Canadian made nickel plated steel.

Among the “firsts” claimed by Canada and the Royal Canadian Mint, we can mention the four nines and the five nines in gold refining (the world leading Gold Maple Leaf bullion coin), the multi-ply plating technology cited earlier for plated coins (this technology is being used for all circulating coins in Canada, in New Zealand, in Singapore, in Barbados, in Fiji …. ), the circulation coins in color, unique in the world (e.g. the red poppy coin), the DNA-Digital Nondestructive Activation - technology for gold coin authentication as a protective measure against gold coin counterfeiting, the diamond embedded gold coin issued by the Mint to celebrate Her Majesty the Queen Jubilee Year, the PVD die coating technology to replace the use of carcinogenic chromium in die surface hardening and brightening, the coin blank burnishing machine used in all mints in the world today and which was developed by the Royal Canadian Mint in cooperation with a German machinery manufacturer,…

BRIEF SUMMARY ON DR. HIEU C. TRUONG’S PERSONAL INFORMATION

Hieu C. Truong was born on September 23, 1941 in Saigon (Vietnam). He attended Lycée Jean-Jacques Rousseau in Saigon and finished his high school in the top 1 percent of his graduating class in the whole country in 1959. He went to the US for his university education and was the top student in Chemistry of his graduating class in Chemical Engineering at New York University in 1963. He received a Master of Chemical Engineering (1964) and a Ph.D. in Engineering (1971) from New York University.

Hieu C. Truong immigrated to Canada from the US in 1971.

His ideology, his aspiration has always been to see that Canada is recognized to be among the top countries on the world stage. Dr.Truong often quoted President John F. Kennedy who said in his inaugural Presidential speech : “Ask not what your country can do for you, ask what you can do for your country”. This quote has marked Dr. Truong for life and this was his compassion as a Canadian.

PROFESSIONAL ACTIVITIES/OCCUPATIONS

First, Dr. Hieu C. Truong worked for Victoriaville Furniture Group, Victoriaville, QC, one of the largest furniture conglomerate in Quebec which owned four furniture plants in Victoriaville, as a development engineer, then as Director of Engineering, from 1971 to 1975. His responsibilities included the development of processes and products in furniture manufacturing to make the Quebec furniture companies of this conglomeration more competitive in the Canadian and US markets, more efficient, more innovative with a solid reputation for quality, good pricing, and industry leading innovations such as the incorporation and the popularization of solid polyurethane foam moldings as decorative and structural elements. One of the important facets of his work was to introduce scientific foundations, rational engineering principles in furniture making in an industry where knowledge and know-how were passed traditionally from one generation to the next within a family ownership. For example, there was little scientific knowledge within the industry why certain types of glue performed and behaved the way they did. There was no rationale in choosing fasteners (screw and nail types and sizes, clips, types of glues, …) except by experience and common sense. New fasteners designs, new and better glues, and a combination thereof, new structural elements were engineered, developed, explained by Dr. Truong to technologists and engineers who were trained to test, record, review, learn, apply and innovate from what was learned.

Dr. Truong developed and expanded Polyurethane foam and cast polyester technologies. New finishing chemistry were introduced to enrich the look and the style of furniture which became available to the Canadian consumers. The techniques and products developed at Victoriaville Furniture Group filtered and cascaded down to the other furniture companies in Quebec, Ontario and New Brunswick.

Then, Dr. Hieu C. Truong worked at Flakeboard, in St. Stevens, New Brunswick in 1975-1976, as Manager of Engineering and Operations, responsible for the installation of a high speed manufacturing line of decorative particle boards used in residential and institutional wall finishings. There, he installed and started the first automated manufacturing line in Canada of polyester filled, UV cured thin wall flakeboards. These boards were then paper laminated or wood grain printed on the same high speed production line. In the late seventies and early eighties, it was a popular material used in the finishing of family recreation rooms in the basement of Canadian homes.

Dr. Hieu C. Truong joined Les Industries Ville Marie Ltd, a wholly owned subsidiary of Bombardier in the Snowmobile Division, as Director of Production, from 1976 to 1978. He concentrated on snowmobile safety. He worked on the incorporation of engineered padded foam components to absorb shock in the seating and in the directional steering bar in snowmobiles to improve seating comfort in the outdoors very cold environment and to minimize the impact of injuries in the use of those vehicles in sport, in outdoors winter transport activities. He also contributed to the safety of people in mass public transportation: Self extinguishing foam, in case of fire, was introduced as seating material in subway trains manufactured by Bombardier for the City of Montreal.

Then, Dr. Hieu C. Truong joined the Royal Canadian Mint in 1978 until he retired in 2014. This is where he contributed the most as a talented engineer, a prolific inventor, a pioneer in precious metals refining and processing, a resourceful, productive innovator in the field of minting. He has left quite a legacy to Canada because Canada and more than forty countries are enjoying now, and for many years to come, the fruits of his work and his many inventions.

He started at the Mint in 1978, first as Superintendent of Technical Services in charge of machine repairs, die and tooling production, then he became Manager of Engineering for the Ottawa and Hull Mints and the Gold Refinery in Ottawa in 1979, then Director of Engineering at the Royal Canadian Mint which includes all the plants in Ottawa and Winnipeg in 1984, then Director of Corporate Engineering which included the long term technical and engineering development strategy for the Mint. Then, finally, as Executive Director, Advanced Engineering in Research and Development, in 2001, he was responsible for new products and innovations, during which time, Canada introduced many “firsts in the world” in the global minting industry. This made Canada the recognized leader with many innovations which changed the technology of manufacturing coins.

When Dr. Truong joined the Royal Canadian Mint he realized that there will have a lot of work to be done because the Mint was a reclusive government institution which had not looked much outside to compare itself with the other industries for engineering improvements as the world was on its way to an incredibly fast industrial platform powered by modern electronics which were the precursors of today’s computers and laptops. Back then, computers were not used yet in the industry for machinery control. In 1978, most of the machinery and production equipment at the Royal Canadian Mint was purchased in the late nineteen forties and early nineteen fifties just after the War! Breakdown in production machinery was a daily occurrence and knowledge of the staff in minting metallurgy was limited.

Everything looked like a “black box” where employees just followed the work rules and procedures established by the foremen without the fundamental understanding of the reasons why the process procedures were written the way they were and if there was a tooling failure no one knew why and the problems were repeated. 

Work safety and the environment work conditions were potential work hazards which also needed much attention.

Dr. Truong spent years of dedicated work and long hours on the floor with the Production employees to correct the process and the machinery shortcomings, to explain to the technical staff the reasons for the failure of the process or the machine. He worked out the metallurgical solutions to the problems and the unanswered questions in the “black box”. He introduced engineering and science principles to the art of making coins. This art of making coins was very secretive because there were no systematic attempts to introduce modern science to the Mint operations. This was true not only for the Mint in Canada but also for the other Mints in the world. In addition, each national Mint was on its own and the Mints did not seem to open up to other Mints because of perceived national secrecies and national pride.

As the Royal Canadian Mint modernised itself with new equipment, as minting processes were systematically analysed and understood through underlying scientific and engineering principles by Dr. Truong, he trained the staff on the sciences of minting which are, in fact, made up of a combination of metallurgical, chemical, mechanical, material sciences engineering disciplines. Electrical and electronics engineering  knowledge were added to troubleshoot electrical controls in machinery and automation was introduced to take away the boredom of some necessary manufacturing tasks. Robots and robotic controls were introduced in coin manufacturing to improve safety, to increase productivity, to avoid back injuries caused by repetitive and heavy load lifting.

Ten years after he joined the Mint, persistent recurring production problems were under control and the staff was more confident and more capable in resolving machinery and process failure problems. Today, minting is no longer a black box for the staff, failures are no longer repeated and potential process and machinery shut-downs are foreseen and prevented by pre-emptive corrective actions.

 

MAJOR ACCOMPLISHMENTS WITH A FAR REACHING LEGACY

THE FIRST LASTING ACCOMPLISHMENT FOR THE ROYAL CANADIAN MINT: 

THE GOLD MAPLE LEAF COIN, the original development of Dr. Hieu C. Truong

The turnaround from a work culture of “black box” to a modern engineering and technical team confident in solving daily manufacturing challenges in the Mint allows Dr. Truong to spend more time and give more attention to the Gold Refinery operations, namely, refining processes, analytical instrumentation and procedures, work safety, working environment improvements, environmental study and pro-active environment protection.

The Refinery was first established, in 1911, to refine gold from the mines in Canada. Gold ores were processed in the mines, up to a purity of about .800 (80 percent), then shipped to the Royal Canadian Mint in Ottawa for final refining. In the early days, .995 and.999 (three nines) gold were considered as top grades for trading in the precious metals commodity markets.

In the late ninety sixties, South Africa was the giant in the global gold industry and the Krugerrand gold coins produced by the South Africa Mint was the standard and preferred gold coin for gold investment in the world. The Krugerrand coin was made of an alloy of gold and copper with a purity of 91.67 percent gold and 8.33 percent copper. It was not made of pure gold, it was only 22 Karat gold, but it was the undisputed gold coin of the world for investment purposes.

Since Canada was one of the major gold producing country in the world, the Royal Canadian Mint wanted to have a share of the world gold coin market. The Royal Canadian Mint produced, at that time, gold coins in .9995 (three nines five range) purity which was still considered impure in gold quality. Although richer in gold contents, this Canadian gold coin could not compete against the dominant Krugerrand gold coin. To change the situation, Dr. Truong thought of the .9999 (four nines) purity coin which is considered as pure gold (24 Karat) and proposed the idea to the Royal Canadian Mint. Dr Truong set to develop the technology to produce, efficiently and effectively, at low production cost, gold at a purity of .9999 (four nines) in large volume and this gave the Mint of Canada the ability to produce and to introduce .9999 gold coins to the world. The first .9999 Gold Maple Leaf of the Royal Canadian Mint was struck in 1982. Within a short time of two to three years following its introduction to the world market, the Gold Maple Leaf coin became the Number One gold coin seller. Effectively, Canada changed the world gold standard for gold coins to four nines gold.

With time, other countries such as Austria, Australia, UK, USA had to change their gold coins to the four nines gold standard in order to compete against Canada. The Canadian Gold Maple Leaf is sold worldwide today as the preferred coin against the American Gold Eagle coin, the Austrian Gold Philharmonic coin and the Australian Gold Kangaroo coin. The Krugerrand gold coin, which still remains a mainly copper gold alloy coin, is no longer the giant in the world gold investment coin market. Canada’s Gold Maple Leaf coin is the leading coin today.

FIVE NINES GOLD COIN

Many countries became capable of producing four nines purity (.9999, i.e. 100 parts of impurities per million) gold coins and were competing against Canada. It was a challenge to differentiate and to keep Canada ahead of the competition in the investment gold coin leadership positioning. Then, it was believed that if Canada had five nines purity gold coins this would certainly keep Canada ahead of the other countries. (.99999 means 10 parts of metallic inclusions per million parts of gold. At this level, the other 10 parts of  metals remaining in the gold are more precious and more expensive than gold itself).

Facing this highly technical endeavours and this big challenge with a targeted timetable date the Royal Canadian Mint concurrently worked on the challenge and independently consulted with outside gold specialists, with expertise in gold extractive metallurgy, while Dr. Truong and his team developed the Mint’s own technology to purify gold to five nines. At the end, the Mint’s own technology was chosen as the technology to be used by the Mint to reach its set objective because of its simplicity and its lower production costs. In 1998, the Royal Canadian Mint issued its first five nines gold coin. To this date, the Royal Canadian Mint remains the sole Mint in the world capable of producing five nines purity gold in large quantities and the Mint is selling five nines purity gold, on the world market as numismatic coins, investment coins and for special uses.

In 2007, the Royal Canadian Mint produced and sold the world’s first 100 kg, one million dollar face value, pure, five-nines (.99999) gold coin according to the Guiness Book of World Records.

 

CONTROL OF AIR QUALITY AND WORK ENVIRONMENT

Back in 1983, the Mint was already working on environment assessment, clean air, controls for a clean environment for a manufacturing facility and waste water treatment with remedial actions, at a time when clean air, environmental impacts were barely mentioned by any government agencies or pro-active civic groups. Dr. Truong developed and replaced traditional outdated gold refining techniques used in the Mint for more than seventy years from the time the Mint Refinery opened back in 1911 with new gold refining techniques and modern equipment. He changed the work environment from a blinding smoke filled environment with high heat and a thundering noise of 90+ decibel level caused by high air velocity expansion oil furnaces to a clean air, quiet environment, low heat and efficient energy processing operations for the health benefits of hard working gold refiners by introducing induction current furnaces and by changing the refining procedures.

The quality of the air emitted from the Gold Refinery was a big irritant for people living around the Mint Gold Refinery within a radius of five kilometers. The stench of industrial gases used in the gold refining process and released in the air was intolerable and there were complaints coming from different neighbourhoods depending on the wind directiọn. Dr. Truong realized that changes must be made soon.

Dr. Truong led his team of engineers to challenge the old traditional practice of gold refining which was zealously protected by the gold refiners who were taught these techniques since the opening of the Refinery in 1911. His team developed successfully new technologies which were implemented with the benefit of reducing refining costs, protecting the staff’s health and well being by eliminating noxious gases, excessive heat, thundering noise and unpleasant smell. With many changes implemented by Dr. Truong and his team to meet or exceed governmental guidelines, with environmental controls constantly under review and monitoring, the Gold Refinery was transformed to a modern efficient refining facility meeting the requirements of the toughest pollution laws and the expectations of the Environmental authorities in Canada for a Crown Corporation.

INTRODUCTION OF THE DOLLAR COIN

When the Government of Canada decided to replace the one-dollar bill with a coin, as Director of Engineering at the Mint, it was the responsibility of Dr. Truong to ensure that the introduction of the coin was made seamlessly. Mint Management decided that the color of the dollar coin shall be yellow to help the public distinguish it from the existing white coins, and the rest was up to Mint Engineering to propose to Mint Management the correct coin configuration so that the major coin processors and the vending industry are happy with this major historical coinage change. It was also of critical importance that the new coin configuration will not upset the public who would prefer to continue to use banknotes.

Dr. Truong conducted consultations with the Canadian Blind Association, the Vending Machine Associations, the heavy coin users such as the transit authorities, the road toll authorities at the time,…in order to incorporate their needs into the configuration of the new dollar coin which must include security features to distinguish it from the American dollar coin and other coins in the world of almost the same size and color.

The dollar coin, as we know today, was an integration of all the wishes of all the interested parties with many security features on the coin surface and in the metal contents itself. The coin was engineered by Dr. Truong to be made with a secure metal, to be eleven-sided with rounded corners and slightly rounded sides; it was designed to be of a convenient size not to be confused with the 25 cent coin and to be accepted by the commercial coin acceptors. The dollar coin configuration was designed for the public, for the sight impaired people to recognize the coin by the touch and not by seeing the coin, for the Canadian vending machine industry which includes the telephone companies, the toll machines and the municipal parking meters across the country, and for other requirements in the retail business, for all Canadians. Unlike the Americans, Canadians accepted and came to love their dollar coin, and with a stroke of luck for the Canadian team at the Winter Olympics Games the coin is fondly known as the Lucky Loonie today.

THE TWO-DOLLAR COIN

 

This coin was championed by Dr. Truong since he designed and worked on the concept of a bi-color coin extensively and thoroughly with his engineering team before it was launched by the Chretien government. The idea of a bicolor coin was very new at the time when it was released and the secure locking mechanism of the two-component coin was instrumental for its acceptance by the public and for its longevity, its endurance and its survival. The simple but solid and secure locking mechanism formed upon striking the two components of the coin together was invented and patented in the name of Dr. Truong.

This important contribution to the manufacturing engineering of the two-dollar coin was noted in the book, Royal Canadian Mint 100 Years of History, published in 2008. The decision by the Government to launch the two-dollar coin was in such a short time that the first coins produced at the time of the launching of the coin was struck on machines redesigned, revamped and refurbished at the Winnipeg plant of the Royal Canadian Mint by Dr. Truong and his team. Because of the high value of the coin, the most recent version of the two-dollar coin has many security features which incorporate many novel and difficult to copy features protected by the patents of Dr. Truong.


THE MULTI-PLY PLATING TECHNOLOGY: The World Leading Technology in Plating Coinage Material

As living standards improved across the world and global industrial growth continued at an unprecedented pace in the history of mankind, base metals of limited supply such as copper, nickel and aluminum became more expensive and coinage materials made of these elements became too expensive for many coin denominations across the world. There was a need for a new coinage material which was more affordable, but as performing as the base metal alloys for the growing demand of coins in the world economy, particularly, for countries outside of North America and Europe.

The idea of steel plated coins was born because steel was and still is the lowest priced metal in the market today. But the first generation plated steel coinage material had many disadvantages and critical deficiencies; there was unsightly rust formation (e.g. the German Pfennig coin in the seventies); there was no security (steel slugs could be made by anybody, anywhere but the vending machines could not distinguish the first generation steel plated coins from  steel slugs); it was very hard and very difficult to produce the steel plated coins  because steel was and still is harder than copper alloys and coin die life was poor… Those first generation nickel plated steel coins were relatively expensive, of low quality and were inconvenient to produce.

First generation copper plated steel or copper plated zinc coins technologies used cyanides plating chemicals which presented a very high risk of poisoning and a real risk of environment contamination hazards which could be fatal to fish, birds, and human life if there were spills which could not be controlled. Against this background, Canada started to develop its own version of plating technology.

All these negative points were overcome with the second generation of nickel plated and copper plated steel coinage material using the multi-ply plated steel technology of the Royal Canadian Mint invented and patented by Dr. Truong. This novel technology is being used on all the circulation coins of Canada today. In fact, the Royal Canadian Mint changed coinage materials from nickel and cupronickel to nickel plated steel since the year 2000. The Royal Canadian Mint has also been supplying coins using this Canadian technology to about forty countries. Among those, seven countries have totally switched their circulation coins to multi-ply steel plated technology: Canada, New Zealand, Singapore, Barbados, Fiji, …

Today, the multi-ply plating technology of the Royal Canadian Mint is considered the world’s leading plating technology. This technology helps produce the world’s low cost, high quality coinage material in term of security, being safest for plant employees’ safety and health, durability, mintability, and best steel coinage material in term of  manufacturability compared to all other plated materials and alloys used in coining .

CANADA WITH THE FIRST CIRCULATION COIN IN COLOR IN THE WORLD

Many numismatic coins produced for collectors have colorful prints which enhance the beauty of the coins and which entice collectors to own the coins. Collectors do not handle and touch numismatic coins; collectors only look at their coins because a damaged coin surface makes the numismatic coin lose its numismatic value.

Banknotes were and have been very colorful but circulation coins were only silvery or bronze in color. Why is it so? It is because there is no viable technology to print color on circulation coins. If circulation coins were printed in colour with the same technology as used in printing numismatic coins, the colors of the circulation coins wore off fast due to intensive abrasive wear and tear during usage!

Dr. Hieu C. Truong took up the challenge, developed and patented for Canada the world’s so far unique technology to print colors on circulation coins which resist abrasive wear. Using fiber optics for light speed transmission of data information during the printing process, digital cameras for coin feature recognition and robot for precise coin positioning in printing, digital inkjet printers, chemistry, metallurgy, material sciences and minting experience the Royal Canadian Mint was the first mint in the world to manufacture circulation coins in color. To this date, the Royal Canadian Mint remains the only mint in the world capable of producing successfully circulation coins with color print enhancements. It is a prestigious achievement for Canada because other mints have tried but were not successful. The Government of Canada used color circulation coins to draw the attention of the public to celebrate an important event, a cause, a historical date which reflect Canadian values dear to the heart of all Canadians. We had, as circulation coins, the red poppy coin for Remembrance Day, the pink ribbon coin representing the hope to beat breast cancer, the Canadian Maple Leaf flag coin, the Commemoration of the 1812 War coin,...

  
CANADIAN FLAG COIN

  

ANOTHER “FIRST IN THE WORLD” FOR THE ROYAL CANADIAN MINT: THE DNA TECHNOLOGY TO AUTHENTICATE GOLD COINS.

Gold coins are obvious targets for counterfeiting and there are reports of such happening for almost all the major gold coin brands sold in the world. For gold investors it would be reassuring if there is a fast, easy, non-destructive and accurate method to authenticate gold and other precious metals coins before the coins are purchased.

Dr. Truong saw the need for an accurate, fast, almost instantaneous means, requiring no scientific instrument but totally reliable authentication method to protect the consumers against precious metals counterfeiting by inventing the DNA (Digital Non-Destructive Activation) Authentication Technology.

By generating a random pattern which cannot be duplicated, using high energy lamp lasering, Dr. Hieu C. Truong created an identification area in the form of a patterned design on the coin surface. This lasered area encompasses and incorporates the morphology of gold. A covert portion of the lasered design is then precisely defined and coded with proprietary computer algorithms developed with the cooperation of Signoptics and this lasered design which is digitally encoded and encrypted as a  signature or a digital fingerprint is recorded in a data base at the Mint.

At any moment, at any time of the day, anywhere in the world, for authentication purposes, a picture of the lasered design is taken with a smartphone and sent to a website of the Royal Canadian Mint. Upon receipt of the information in the form of a picture of the lasered design transmitted by the smartphone or by a PC over the Internet the picture is decoded by encryption, analysed by the computers at the Mint and the coin morphology signature is matched against the signatures in the database. If there is a match with a signature in the database a reply is sent back to confirm that the gold coin was made and registered at the Mint and if there is no match the gold coin is not an authentic coin issued by the Royal Canadian Mint. The authentication operation is completed within a very short time, from the time the picture is received at the Mint. In fact, the gold authentication can be done within a few seconds of a telephone call to the Mint.

The Canadian Gold Maple Leaf coin is the only gold coin in the world incorporating an electronic authentication signature; this is the first. and only quick authentication of gold for the consumer and it is done with a smartphone! For the Royal Canadian Mint and for Canada, it was an achievement at the fine edge of technology which leaves the international competition, years behind. The global precious metals investment institutions, with business revenues in the billions of dollars, welcome this innovation and are amazed by this Canadian fine edge advanced technology.

OTHER ADVANCED ENGINEERING TECHNOLOGIES FOR THE MINTING INDUSTRY.

Over the span of his career at the Mint, Dr. Truong has technically transformed and changed progressively and totally the  practices of minting at the Royal Canadian Mint. This has contributed to improve not only the Mint in Canada and placed the Royal Canadian Mint at the top in the world for the quality of its products and its innovations, but also the coining industry worldwide benefited from those improvements as well because the Royal Canadian Mint cooperated with all the minting equipment manufacturers in the world to build better minting equipment and to integrate advanced state-of-the-art technologies used in the other industries to the minting industry.

Among those advanced technologies, Dr. Truong is credited to introduce Physical Vapour Deposition (PVD) coating to harden die surfaces for longer die life, Laser technology to produce frosting on proof coin dies, the burnishing and water stain free drying of blanks, Direct Reduction Digital Engraving, Computerized Precious Metals rolling mills with precision strip thickness control with laser measuring instrumentation and using feedforward and feedbackward feedback to adjust precisely the roll positioning instantaneously and continuously (it was the first computerized precious metal rolling mill in the world for platinum, gold and silver rolling), the unique and only technique in the world for bulk platinum casting with zirconium lined silicon carbide crucible and  argon reducing atmosphere, the advanced continuous dynamic waste water treatment system to meet stringent environmental controls, the pioneering  cyanide-free bronze and brass plating technology, the development of the holographic imaging technology in minting, the Atomic Layer Deposition of a clear, very thin, protective coating enveloping the whole coin to prevent tarnishing…

 

OFFICIAL AWARDS, HONOURS AND THE CREATION OF THE DR. HIEU C. TRUONG CENTER OF EXCELLENCE AT THE ROYAL CANADIAN MINT IN WINNIPEG.

Dr. Truong was granted seven patents and had two more patents under application in Canada, and was granted about two dozens patents worldwide.

The Royal Canadian Mint built a 30 million dollar plating plant in Winnipeg in the year 2000 using the multi-ply plating technology developed by Dr. Truong.

Dr. Truong was awarded the President’s (of the Mint) Award in 2004 and received many citations over the course of his career at the Mint.

Over the years, the Royal Canadian Mint received many citations and won many “Best Coin” in the World awards in international competitions organized by the Krauss Publications of the Numismatic Coins Journal in the US for coins incorporating new developments made by Dr. Truong such as the Gold Cameo coin. The Mint was also awarded prizes and accolades by peer mints at International Meetings for coins incorporating technologies developed by Dr. Truong, for example, for “Best Technology“ coin for the circulation coin in color at the Mint Directors’ Conference in Paris.

Dr. Truong was recognized for his pioneering work and contribution in the introduction of the two-dollar coin in Canada, in the book, Royal Canadian Mint 100 Years History, published by the Royal Canadian Mint, in 2008.

Dr. Truong of the Royal Canadian Mint, was named in the book, 40 Years of the World Money Fair, by Dr. Albert M. Beck in his book published in 2011, as one of the well known international personalities in the world of coins.

In order to continue the pioneering work of Dr. Truong, in order to lead the world and to expand its successful path to create new technologies to serve the global minting industry, the Royal Canadian Mint had decided to establish a world class Research Centre where the latest development in engineering, science and computerized automation, the latest applications in cloud computing, in software development, in cash management, in phone and media communications and consumer changing habits,… are going to be developed in order serve future generations of consumers. The Royal Canadian Mint built this Research and Development Centre of Excellence in Winnipeg in 2013 and named it in honour of Dr. Hieu C. Truong in recognition of his distinguished service to the advancement of innovation and technology at the Royal Canadian Mint. At the same time, at the same location, the Royal Canadian built a second plating plant at a cost of 60 million dollars where several technologies invented by Dr. Truong are put into application.

The Royal Canadian Mint struck a medallion in Dr.Truong’s honor to mark the opening of the Centre of Excellence named after him, in 2013.



Dr. Truong was invited as a Guest Speaker at the Royal Canadian Mounted Police Headquarters in Ottawa, during the Week celebrating DIVERSITY and INCLUSION in January 2016, as an example of Canadians contributing to the success and the building of Canada through diversity and inclusion. 

PROFESSIONAL ORGANIZATIONS

Dr. Truong was a Member of the Ordre des Ingénieurs du Quebec from 1974 to 1980.

Dr. Truong has been a Member of Professional Engineers of Ontario.

COMMUNITY ORGANIZATIONS

Dr. Truong as a member of the Ottawa Vietnamese Canadian Community Association was active in assisting the Indochinese Refugees to settle in the Ottawa area between 1978 to 1991.

Dr. Truong was elected President of the Vietnamese Canadian Buddhist Association for two 2-year terms in 1990 and in 1992. During his terms in office he raised funds needed to build the first Buddhist temple with an Oriental architecture in Ottawa.

Dr. Truong was invited to be on the Board of Directors of Van Lang Centre for two years, and was elected Chairman in 1995, then Secretary General of the Board (Chief Operating Officer) in 1996. Van Lang Centre is a 80 unit housing complex, for low income families, in Ottawa, built with funds of the Province of Ontario. It is run as a non-profit Housing Corporation fully funded by the Province of Ontario and is managed by a Volunteer Board of Directors.

Dr. Truong was part of a group of Volunteers who built a Monument at the corner of Somerset St. and Prestone Ave. in Ottawa, in 1995, on land donated by the City of Ottawa, in honour of the Boat People who braved the high seas to flee the Communist Regime who invaded and took over Vietnam in 1975.

As a Canadian, Dr. Hieu C. Truong has contributed to make Canada a better place to live and to work. His sense of citizenship responsibility, his service to the community and to the country, his lifetime devotion to innovate and to change for the better while in the service of his employers, his pride in Canada, his personal motivation, his patriotic duty and his passion to make Canada the best among other world powers in the world of minting, the paramount achievements he has accomplished for the Royal Canadian Mint and the legacy in minting and gold refining he has left for Canada deserve to make Dr. Hieu C. Truong an excellent nominee for the Order of Canada.


Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 8:13 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 8:01 PM ]

PHẠM VĂN MÙI

Nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi (1907-1992)
Ông sinh ngày 1 tháng 6 năm 1907 tại Nam Định, quê quán làng Đông Ngạc, tỉnh Hà Đông . Ông là một trong những nhà nhiếp ảnh sớm nhất của Việt Nam, bắt đầu khởi nghiệp cầm máy từ năm 1923 và từ năm 1932 đã khai trương phòng triển lãm riêng tại Nam Định và gửi ảnh dự thi trong các cuộc triển lãm ảnh tại Hà Nội và nhiều lần đoạt giải. Trong thời gian này, ông cũng chơi thân với nhiếp ảnh gia Võ An Ninh và dạy nhiều học trò.

Di cư vào Nam năm 1954, ông là hội trưởng Hội Nhiếp ảnh Việt Nam từ năm 1958 đến 1971 . Trong thới gian này, ông gửi ảnh tham dự các cuộc Thi Ảnh tổ chức tại các nước Pháp, Hồng Kông, Singapore, Anh, Ý, Tây Ban Nha... và giảng dạy các lớp nhiếp ảnh như tại Hội Việt Mỹ Sài Gòn, Viện Đại học Vạn Hạnh cũng như làm giám khảo những cuộc thi ảnh như bộ môn Nhiếp ảnh giải Văn học Nghệ Thuật của Phủ Tổng Thống Việt Nam Cộng hòa từ năm 1969 đến 1975 .

Ông từ trần vào ngày 25 tháng 11 năm 1992 tại Garden Grove, California, Hoa Kỳ .
Những tác phẩm ảnh của ông như bộ ảnh Suối tóc, Duyên dáng, Tâm tư, Theo chiều gió, Đôi dòng thác đã góp phần làm ông nổi tiếng. Riêng tác phẩm Duyên dáng đã được chọn trưng bày vĩnh viễn tại Bảo tàng Mỹ thuật Brazil từ năm 1963 và cũng mang lại cho ông nhiều huy chương quốc tế danh giá .

Gần đây nhất, 54 bức ảnh và 9 bức tranh vẽ của ông đã được triển lãm dưới chủ đề "Ảnh đen trắng và tranh vẽ chân dung" tại Hội Nhiếp ảnh TP.HCM từ ngày 9 đến 19 tháng 12 năm 2007 . Kênh HTV7 cũng đã thực hiện một chương trình phát hình về ông: "Nhớ nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi", phát sóng ngày 16 tháng 3 năm 2008 

Tác phẩm của Phạm Văn Mùi







Duyên dáng – ảnh đen–trắng






Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 7:48 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 2:24 PM ]

NGUYỄN NGỌC HẠNH
Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh

Phóng viên chiến trường,
Trung Tá Nguyễn Ngọc Hạnh.

Sinh năm 1927 tại Hà Đông, gia nhập Không quân Việt Nam năm 1950. Ông Hạnh tốt nghiệp trường Nhiếp Ảnh Pháp ở Toulouse năm 1956 và trở thành một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp.

Năm 1957, ông sáng lập Hội Nhiếp Ảnh Quân Đội Việt Nam . Năm 1961, ông trở thành Sĩ quan nhiếp ảnh chiến trường của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, binh chủng Nhảy Dù. Ông được chọn làm Hội viên danh dự Hội nhiếp ảnh quốc tế năm 1971. Trong thời gian làm phóng viên chiến trường, ông được lãnh nhiều giải thưởng cao quý về nhiếp ảnh tại nhiều quốc gia khác nhau.

Sau khi miền Nam thất thủ năm 1975, ông Nguyễn Ngọc Hạnh bị đi tù Cộng sản như bao nhiêu đồng đội khác . Đến năm 1983, hội The Royal Photographic Society of Great Britain can thiệp cho ông được trả tự do với 63 chử ký của nhiều quốc gia khác nhau. Ông vượt biên nhiều lần và đến Hoa Kỳ năm 1989.

Ông Hạnh thành lập Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam tại San Jose năm 1990. Sau đó hội trở thành Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California vào năm 2000. Sau gần 20 năm định cư tại Hoa Kỳ, ông Hạnh đã đào tạo hàng trăm nhiếp ảnh viên chuyên nghiêp. Nhiều học trò của ông được nhận làm Hội viên danh dự Hội Nhiếp Ảnh Hoàng Gia Anh và các Hội Nhiếp Ảnh Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ.

Ông được nhận là hội viên của nhiều Hội Nhiếp Ảnh trên nhiều quốc gia khác nhau. Trong cuộc đời nhiếp ảnh, ông Hạnh đã nhận được 92 huy chương Vàng, 110 huy chương Bạc và rất nhiều giải thưởng khác nhau cho sự nghiệp nhiếp ảnh của ông. Ông Hạnh hiện nay vẫn còn dạy nhiếp ảnh, tiếp tục đào tạo những Nhiếp ảnh viên chuyên nghiệp cho cuộc đời thêm tươi đẹp. Ông Nguyễn Ngọc Hạnh có thể liên lạc qua email của Vietlist : vietlist09@yahoo.com

Ông là hội viên của:

Hon. FPCKBC
Hon. FVNPS
Hon. EFIAP, FRPS, ****PSA
One of the top ten, Who's Who, PSA, 1968
FIAP Gold Medal for Exceptional Photographic Achievement, 2003
FPCKBC, FPSEA, FPSHK, FAPA, SE 35mm PS
Hon. FAPA, Hon. FTVPA, Hon. FBSC, Hon. F.HKPC
Hon. FNPAS, Hon. FPST, Hon. FPSC, Hon. FPSNY
Hon. ETVPA, Hon. EYMCAPC, Hon. PSMP, Hon. Border
Hon. NPAS, Hon. 35mm PS, Hon. PPGL, Hon. OGPh
Hon. FEP, Hon. PSEA, Hon. IKFP, Hon. Omni-Candid
Hon. KKL, Hon. FPCVH, Hon. FHCPS
****************************

NGUYỄN NGỌC HẠNH.

Hon. FPCKBC
Hon. FVNPS
Hon. EFIAP, FRPS, ****PSA
One of the top ten, Who's Who, PSA, 1968
FIAP Gold Medal for Exceptional Photographic Achievement, 2003
FPCKBC, FPSEA, FPSHK, FAPA, SE 35mm PS
Hon. FAPA, Hon. FTVPA, Hon. FBSC, Hon. F.HKPC
Hon. FNPAS, Hon. FPST, Hon. FPSC, Hon. FPSNY
Hon. ETVPA, Hon. EYMCAPC, Hon. PSMP, Hon. Border
Hon. NPAS, Hon. 35mm PS, Hon. PPGL, Hon. OGPh
Hon. FEP, Hon. PSEA, Hon. IKFP, Hon. Omni-Candid
Hon. KKL, Hon. FPCVH, Hon. FHCPS
Born in Ha Dong, North Vietnam in 1927, Nguyen Ngoc Hanh first served in the French Army, he then transferred to the Airborne Corps of the Vietnamese Army in 1950. He graduated from the french Photography Scholl in Toulouse in 1956 to become a professional photographer.

In 1957, Nguyen Ngoc Hanh founded the KBC Photography club in Vietnam. Soon afterwards, in 1961 he was designated an official war photographer of the South Vietnamese Armed Forces. he was also elected as Honorary representative to the Fédération Internationale de l'art photographique in 1971.

After the fall of South Vietnam in 1975, Hanh, like so many of his fellow officers, was detained in communist re-education camps until 1983. He was finally released due to the efforts of the Royal Photographic Society of Great Britain. It was not until his forth attempt that he was able to escape his country as one of the many boat people. He landed in Thailand and was then granted political asylum in the United States of America by the UNHCR in 1989.

In 1990, Hanh founded the Vietnam Photographic Association in San Jose, California. That was followed by the Vietnam Photographic Society of Northern California in 2000. Over the years, Hanh has trained several hundred photographers. Many of his students have received awards and certificates of High Honor from the Royal Photographic Society of Great Britain.

Hanh's most prestigious achievement was in April 2000 when he was granted " The National Day Literature and Arts Award " in Atlanta, Georgia. This award was given by the National United Front for Liberation of Vietnam. Hanh has been selected as a member in several international photography clubs and associations. Over the years, he has accumulated over 92 Gold prizes, 110 Silver prizes and many other various awards for his works.


Vá cờ - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Làm đường dân đi - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Cứu bạn - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Quyết tâm bảo vệ quê hương - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Lá vàng - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh 

Suối mơ - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh 

Trở về - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh 

Trở về 2 - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Học bài - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Dựng cờ - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Bình minh trên vịnh - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Bửa cơm ngày mùa - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Khát nước - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Mẹ Việt Nam trong khói lửa - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Anh đồ - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Huế đổ nát vì lệnh "Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân" - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Phản công

Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh




Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 7:43 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 8:19 AM ]

TRẦN CAO LĨNH
 
Nhiếp ảnh gia Trần Cao lĩnh
Trần cao Lĩnh sinh nam 1925 tai NAM ĐỊNH ông là một trong những người đầu tiên sáng lập hoặc đỡ đầu nhiều hội nhóm nhiếp ảnh tại miền Nam Việt Nam như hội nhiếp ảnh Việt Nam(1954). Giáo sư Nhiếp ảnh tại Đại học Vạn hạnh Sài gòn trước 1975.

Trần cao Lĩnh thục hiện 4 tuyển tập ảnh, nhiều lần thuyết trình và viết bài về kỹ thuật nhiếp ảnh. Ông di cư sang Mỹ năm 1980.

Trần cao Lĩnh đã triển lãm và nhiều lần đoạt giải thưởng tai London, Paris, Toronto, Montréal, Wasshinhton,...

Trần Cao Lĩnh là nhà nhiếp ảnh tiền phong của miền Nam, chuyện về ảnh nghệ thuật đen trắng và kỹ thuật phòng tối. Ông từ trần ngày 29 tháng 8 năm 1989 tại Hoa Kỳ



Tác phẩm của Trần Cao Lĩnh













Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 7:13 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 7:32 AM ]

NGUYỄN CAO ĐÀM
 
Nguyễn Cao Đàm (1916-2001) là một nhà nhiếp ảnh nổi tiếng của Việt Nam, chuyên về ảnh đen trắng.

Ông sinh năm 12 tháng 5 năm 1916 tại Vĩnh Trung, Hà Đông. Ông bắt đầu chụp ảnh nghệ thuật từ năm 1949 và là một trong những sáng lập viên Hội Nhiếp ảnh Việt Nam tại Hà Nội năm 1952.
Cụ đã để lại cho nghệ thuật nhiếp ảnh Việt Nam cũng như thế giới những tuyệt phẩm không những có giá trị nghệ thuật cao mà còn có giá trị nhân sinh thấm nhuần tư tưởng Đạo Lão, Đạo Phật, Đạo Khổng, Đạo Thiên Chúa.

Công trình nghệ thuật của cụ đã được sự ái mộ của đông đảo các hội nhiếp ảnh gia có uy tín trên thế giới và cụ đã lãnh nhận hàng chục huy chương vàng bạc, bằng cấp tưởng lệ các loại trong suốt thời gian nửa thế kỷ qua.

Cụ thể, cụ đã tham dự nhiều cuộc thi nhiếp ảnh quốc tế ở Hong Kong (1956), Pháp (1956), Bỉ (1958); Huy chương Đồng ở cuộc triển lãm ở Munich, Đức (1958), Huy chương Bạc ở Ahmedabad, Ấn Độ (1958); Huy chương Đồng ở Trento, Ý (1958); Huy chương Bạc ở Moenchenlabad, Đức (1959)... cùng nhiều giải thưởng khác tại các cuộc thi ở Singapore, Tây Ban Nha...
Cụ Nguyễn Cao Đàm cũng từng là giám khảo của các cuộc triển lãm nhiếp ảnh quốc tế tại Sài Gòn từ năm 1957 đến 1975. Đặc biệt, cụ đã hai lần liên tiếp được Hội Nhiếp Ảnh Bỉ trao tặng huy chương vàng và trở thành hội viên danh dự của Hội Nhiếp Ảnh Bỉ (Hon F.Kortrijk). Ngoài ra, cụ Nguyễn Cao Đàm còn là hội viên chính thức của Hội Nhiếp Ảnh Hoàng Gia Anh (A.R.P.S.) và là hội viên danh dự của Hiệp Hội Nhiếp Ảnh Gia Đông Nam Á (Hon S.E.A.P.S.).

Từ tháng 5 năm 1990, ông qua sinh sống tại Úc và từ trần tại đó ngày 4 tháng 6 năm 2001.

Tác phẩm của Cụ Nguyễn Cao Đàm






Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 7:03 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 8:16 AM ]

VÕ AN NINH
 
Võ An Ninh (1907 –  2009) 
là một nghệ sĩ nhiếp ảnh nổi tiếng của Việt Nam.
Ông sở hữu nhiều bộ ảnh có giá trị của lịch sử Việt Nam.

Ông từng làm phóng viên nhiếp ảnh Sở Kiểm lâm Hà Nội thời Pháp thuộc
Năm 1938, tác phẩm Đẩy thuyền ra khơi được giải thưởng ngoại hạng triển lãm ảnh Paris-Pháp

Cuối năm 1938, ông được Bằng khen của triển lãm ảnh nghệ thuật quốc tế Bồ Đào Nha cho tác phẩm Chợ bán nồi đất và Huy chương vàng trong cuộc triển lãm ảnh nghệ thuật cá nhân tại Huế.

Bộ ảnh ghi lại nạn đói năm 1945 là một thành công trong sưu tập ảnh: bức ảnh hai em bé ngồi bên cây số hai Thái Bình chờ chết.





Tác phẩm của  Cụ Võ An Ninh




                   








LỊCH SỬ NHIẾP ẢNH VIỆT NAM

posted Aug 6, 2013, 7:25 PM by Le Phan   [ updated Aug 6, 2013, 7:29 PM ]

LỊCH SỬ NHIẾP ẢNH VIỆT NAM
Ở đây xin được tuyệt đối miễn bàn về quan điểm chính trị.
Bài trích đăng sau đây của tác giả Lê Ngọc Minh chỉ mang tính cách 
tham khảo để học hỏi trên  phương diện Lịch sử về Nhiếp ảnh
Nghệ thuật là Nghệ thuật
 
Tác giả : LÊ NGỌC MINH

Sơ Lược Về Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật Việt Nam

Trong số các bộ môn Văn học Nghệ thuật của Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, Nhiếp Ảnh là bộ môn mà sinh hoạt ít được biết đến nhất; trong khi đó, Nhiếp Ảnh lại là bộ môn đem về cho Việt Nam nhiều huy chương Vàng, Bạc, Ðồng và bằng Tưởng lệ Danh dự nhiều hơn bất cứ bộ môn Văn học Nghệ thuật nào khác.

Tài-liệu ngắn sau đây xin trình bày vắn tắt cùng độc-giả về sinh hoạt Nhiếp ảnh Nghệ-thuật Việt Nam từ ngày nhiếp ảnh được đưa vào Việt-Nam, 1869 tới nay.


Triển lãm năm 1952
Triển lãm năm 1952

NHỮNG NGÀY ÐẦU

Năm 1865, ông Ðặng-Huy-Trứ, nguyên là một vị quan dưới triều vua Tự-Ðức, khi đi công-tác sang Trung-Hoa theo chỉ thị của vua Tự-Ðức, đã mua trọn một bộ máy chụp và rửa ảnh từ Trung-Hoa và thuê một người Hoa là Dương-Khải-Trí, về Hà-Nội và mở hiệu ảnh Cảm-Hiếu-Ðường, ngày 2 tháng 2 năm Kỷ-Tỵ, (14-3-1869). Ðây là hiệu ảnh đầu tiên của một người Việt-Nam mở tại Việt-Nam. Việc này được chính ông Ðặng-Huy-Trứ ghi lại trong bộ sách "Ðặng Hoàng Trung Văn" quyển III tờ 6, 7 và 8, viết bằng Hoa ngữ, hiện lưu-trữ tại thư-viện Trung-ương, Hà-Nội.

Từ 1869 tới đâu thập-niên 1930, nhiếp-ảnh phát-triển mạnh và lan ra toàn cõi Việt-Nam, nhưng gần như hầu hết chỉ là nhiếp-ảnh dịch-vụ, mà trong đó, công phát-triển, một phần nhờ một người Việt-Nam khác là ông Nguyễn-Ðình-Khánh, tức Khánh-Ký, quê tại thôn Lai-Xá, xã Kim-Chung, huyện Hoài-Ðức, tỉnh Hà-Tây (trước là tỉnh Hà-Ðông).

Phải chờ đến đầu thập-niên 30 mới bắt đầu có phong-trào chơi ảnh nghệ-thuật, với sự xuất hiện không thường xuyên, của các nhiếp-ảnh-gia Võ-An-Ninh, Phạm-Ngọc-Chất, Phạm-Văn-Mùi, Nguyễn-Văn-Khải...

Trong thập-niên 30 và 40, nhiếp-ảnh nghệ-thuật Việt-Nam tuy có phát-triển, nhưng rất chậm. Nhiếp ảnh thỉnh thoảng được triển lãm như một "nghệ thuật khéo tay" trong một góc chợ phiên hay đấu xảo, gần những cửa hàng dệt, đan, đồ gốm, thậm-chí đến gần cả một cửa hàng nước mắm... Những bất ổn chính trị trong thập-niên 40 làm chậm lại những sinh-hoạt nhiếp-ảnh đó.

Năm 1952, lần đầu tiên, 21 nhà nhiếp ảnh Việt Nam (gồm có : Trịnh Văn Bách, Phạm Ngọc Chất, Nguyễn Văn Chiêm, Ðỗ Văn Cương, Nguyễn Cao Ðàm, Nguyễn Lê Giang, Nguyễn Ðạo Hoan, Nguyễn Ðức Hồng, Ðỗ Huân, Tchen Fong Ku, Bàng Bá Lân, Lê Văn Lễ, Tchan Fou Li, Phạm Văn Mùi, Võ An Ninh, Trịnh Ðình Phượng, Dương Quỳ, Trần Lê Sinh, Nguyễn Trọng Sơn, Lỗ Vinh và Bùi Quý Vụ...) triển lãm hơn 100 tác phẩm nhiếp ảnh nghệ thuật tại Nhà Hát Lớn Hà Nội với tựa đề "Triển- lãm Ảnh Mỹ-thuật 1952". Cuộc triển lãm này là một mốc khởi đầu quan trọng của Nhiếp ảnh Nghệ-thuật Việt Nam.
 
Năm 1953, "Triển lãm Nghệ thuật Nhiếp ảnh Việt Nam kỳ 2" cũng được triển lãm tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, quy tụ 56 nghệ sĩ nhiếp ảnh và 165 tác phẩm nhiếp ảnh.

Năm 1954, "Triển lãm Nghệ thuật Nhiếp ảnh, lần thứ 3" cũng được triển lãm tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, quy tụ 36 nghệ sĩ nhiếp ảnh và 96 tác phẩm nhiếp ảnh.

Trong thời gian này, nhiếp ảnh gia Lê Ðình Chữ xuất bản sách ảnh "Ðể Chụp và Rửa Ảnh Mau Chóng" (sau đặt tên lại là Chụp và Rửa Ảnh) tại Hà Nội, 1951.

                           Cụ Đặng Huy Trứ                                                                                Cụ Nguyễn Đình Khánh
Ảnh xưa




Đây là bộ ảnh do nhà giáo lịch sử đã nghỉ hưu Đoàn Thịnh và người con trai là kiến trúc sư Đoàn Bắc sưu tầm.
       
NHIẾP-ẢNH VIỆT-NAM CỘNG-HOÀ (1955-1975)

Hiệp định Genève về Việt Nam năm 1954 tạm thời chia Việt Nam thành hai nước. Một số nhiếp ảnh gia miền Bắc di cư vào Nam (gồm : Nghiêm Vĩnh Cần, Phạm Ngọc Chất, Nguyễn Văn Chiêm, Ðỗ Văn Cương, Nguyễn Cao Ðàm, Nguyễn Mạnh Ðan, Nguyễn Lê Giang, Nguyễn Ðức Hồng, Bùi Quý Lân, Phạm Văn Mùi, Trịnh Ðình Phượng, Trần Lê Sinh, Nguyễn Văn Thông và Lỗ Vinh) và những vị này là cột trụ của sinh hoạt Nhiếp ảnh miền Nam cho đến năm 1975, mà ảnh hưởng của những vị này còn tồn tại nhiều năm sau đó.

Tại miền Nam, những cuộc Triển lãm Ảnh, Thi Ảnh được liên tục tổ chức hàng năm (có năm hai hoặc ba lần triển lãm hoặc thi ảnh) từ 1955 tới 1975; trong đó có một giải quan trọng là Cuộc Thi Văn học Nghệ thuật của tổng thống VNCH. Từ 1958, Việt Nam đứng ra tổ chức các cuộc Thi Ảnh Quốc tế và ảnh nghệ thuật Việt Nam cũng được gửi đi triển lãm và dự thi ở nhiều nước trên thế giới.

Các nhiếp ảnh gia miền Nam đoạt nhiều tước hiệu và giải thưởng cao trên ảnh trường quốc tế như Khưu Từ Chấn, Nguyễn Cao Ðàm, Nguyễn Mạnh Ðan, Nguyễn Ngọc Hạnh, Trần-Linh, Nguyễn Bá Mậu, Phạm Văn Mùi, Ðơn-Hồng-Oai, Trần Ðại Quang, Lý-Lan-Siêu, Lê Anh Tài...

Các Hội Ảnh ở Việt Nam trong thời-gian này :

* Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam.
* Hội Ảnh KBC.
* Hội ảnh Việt Mỹ.
* Hội Ảnh Nghệ thuật Việt Nam.
* Hội ảnh Tinh Võ, Nghĩa An và Vân Trang của người Việt gốc Hoa.

Hội Bách khoa Bình dân mở những lớp nhiếp ảnh (1956-1966) và Hội Ảnh Việt Mỹ mở lớp nhiếp-ảnh (1961-1975) và hội này, từ 1963, cứ hai năm tổ chức một cuộc thi ảnh.

Nhiếp ảnh Thông tin và tuyên truyền của VNCH do Bộ (khi thì Nha) Thông tin phụ trách. Nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Ðàm là chủ sự phòng Nhiếp ảnh, thuộc Bộ Thông tin, chức vụ mà ông giữ cho đến năm 1973.

Công tác Nhiếp ảnh của Cục Tâm lý chiến QLVNCH, do CTTL và Cục Truyền Tin VNCH đảm trách. Nha CTTL đào tạo lớp Phóng viên Tiền tuyến và Trường Truyền tin Vũng Tàu đào tạo nhiều phóng viên Nhiếp ảnh và Ðiện ảnh cho QÐVNCH. Một số lớn giảng viên và học viên của trường được cử đi du học về nhiếp ảnh và điện ảnh tại Mỹ. Phóng-viên nhiếp-ảnh và điện ảnh được phân-phối đến các Vùng Chiến-thuật và xuống đến cấp Trung-đoàn.

Trong thời gian này, một số sách nhiếp ảnh được xuất bản như :

* "Bước Ðầu Chụp Ảnh" của Nguyễn Cao Ðàm, 1965.
* "Bước Ðầu Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật" của Nguyễn Cao Ðàm và Trần Cao Lĩnh, 1967.
* "Việt Nam Quê Hương Yêu Dấu" của Nguyễn Cao Ðàm và Trần Cao Lĩnh, 1967.
* "Vietnam Our Beloved Land" của Nguyễn Cao Ðàm và Trần Cao Lĩnh, 1968.
* "Việt Nam Khói Lửa" của Nguyễn Mạnh Ðan và Nguyễn Ngọc Hạnh, 1968.
* "Cao Nguyên" của Nguyễn Cao Ðàm và Trần Cao Lĩnh, 1969.
* "Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật Bước Hai" của Nguyễn Cao Ðàm và Trần Cao Lĩnh, 1972.
* "Những Kiệt Tác Nhiếp Ảnh 1974" do Nguyễn Ngọc Hạnh xuất bản, 1975.

Các tiệm ảnh được mở ra tại tất cả các tỉnh, các quận và một số xã trên toàn quốc. Riêng tại Sài Gòn có phòng ảnh màu quy mô như Perfect Photo Lab của Lý Lan Siêu và Pacific Color Lab của Trần Linh, phòng ảnh màu của ông Lê Huy Kha và của ông Bùi Quý Lân.

Trên đỉnh cao nhiếp ảnh đó, cuộc chính biến 1975 đã cáo chung nhành Nhiếp ảnh VNCH.

NHIẾP ẢNH VIỆT NAM DÂN-CHỦ CỘNG-HÒA (1955-1975)

Khi đất nước chia hai năm 1955, lực lượng nhiếp ảnh miền Bắc gồm có : các nhiếp ảnh gia trước kia ở Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Ðịnh... nay ở lại; thêm các phóng viên nhiếp ảnh đi kháng chiến nay trở về thêm các phóng viên ở miền Nam ra tập kết (thời-gian đầu, tất cả gồm có : Vũ Năng An, Nguyễn Ðăng Bẩy, Lê Ðình Chữ, Triệu Ðại, Ðinh Ðăng Ðịnh, Nguyễn Giao, Ðỗ Huân, Nguyễn Bá Khoản, Trần Ðăng Lân, Mai Lộc, Nguyễn Tiến Lợi, Trần Lợi, Khương Mễ, Nguyễn Hồng Nghi, Võ An Ninh, Nguyễn Văn Phú, Ðặng Trần Phượng, Hoàng Thái, Lê Văn Thi, Phạm Ðình Túy, Nguyễn Hồng Tranh...).

Tất cả những nhà nhiếp ảnh này được tập hợp, học tập, rồi đưa vào biên chế (nghĩa là đưa vào làm việc tại các cơ quan, tòa báo, VNTTX...); các nhà nhiếp ảnh mở tiệm được đưa vào Hợp tác xã Nhiếp ảnh , tóm lại là tất cả đều được đưa vào cơ quan, đoàn thể. Mặt khác, chính phủ cũng gửi nhiều người đi học về báo chí, nhiếp ảnh, điện ảnh tại Liên Sô, Ðông Ðức, Tiệp Khắc và Ba Lan. Những nhà lãnh đạo Nhiếp ảnh tại Việt Nam ngày nay, đa số là những người đã du học về nhiếp ảnh tại Liên Sô và Ðông Ðức vào thời điểm này.

Năm 1965, "Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh Việt Nam" được thành lập tại Hà Nội và Hội đã nhiều lần gửi ảnh của hội viên đi dự thi tại nước ngoài, hầu hết là tại các nước trong khối XHCN.

Khi cuộc chiến Giải phóng Miền Nam được phát động, một số phóng viên nhiếp ảnh được đưa vào chiến trường B hoặc trải dài theo đường mòn HCM, một số được phân phối chụp ảnh công tác phòng không chống máy bay Mỹ oanh tạc VNDCCH và hơn 80 người đã bỏ mình trong khi thi hành nhiệm vụ. Chúng tôi nhận xét là giàn phóng viên nhiếp ảnh của miền Bắc rất vững, mặc dù dụng cụ yếu kém và tất cả đều là phóng-viên ảnh. Trong thời-gian này, hoàn toàn không có người sinh-hoạt nhiếp-ảnh nghệ-thuật thuần-túy.

Một số sách báo nhiếp ảnh xuất bản trong thời gian này :

* Sách ảnh "Nghệ Thuật Nhiếp Ảnh Việt Nam" gồm 63 ảnh của nhiều tác giả, 1962.
* "Bước Ðầu Chụp Ảnh" của Nguyễn Ðức Chính và Nguyễn Văn Khiêm, 1967(?).
* "Sách Ảnh Nghệ Thuật Việt Nam" gồm 92 ảnh của 51 tác giả, 1971.
* Năm 1958, "Báo Ảnh Việt Nam" được xuất bản số đầu tiên, bằng năm ngôn ngữ, để tuyên truyền quốc ngoại và vẫn còn được tiếp tục.
* Năm 1962, TTXVN xuất bản nội san "Nhiếp Ảnh Tân Văn", (không tồn tại lâu).
* Năm 1967, HNSNA VN xuất bản tạp chí "Nghệ Thuật Nhiếp Ảnh", in ronéo.

Ðường lối sáng tác trong thời gian này là ảnh phải có xây dựng tính, chiến đấu tính, tập thể tính, tóm lại là phải có lập trường. Phương cách sáng tác này được gọi là Phương pháp sáng tác XHCN. Nhiếp ảnh Nghệ thuật thuần-tuý hoàn toàn không có và hoàn toàn không được chấp nhận. Tuy nhiên, nhiếp ảnh gia Ðỗ Huân (một trong 21 nghệ sĩ nhiếp ảnh triển lãm tại Nhà Hát Lớn Hà Nội năm 1952) vẫn lặng lẽ thỉnh thoảng chụp ảnh nghệ thuật và ông đã từng bị phê bình là mơ mộng viển vông. Những hình ảnh này của ông, đến tận năm 1986 mới được đem ra triển lãm lần đầu tiên trước công chúng.

Bộ Thông tin Văn hóa đã cho tổ chức một số cuộc thi ảnh trong nước và hình ảnh thông tin, tuyên truyền được trưng bày sâu rộng trong quần chúng.

Khi không lực Mỹ oanh tạc miền Bắc, nhiều phóng viên đã được bố trí gần những dàn súng phòng không để chụp cảnh bắt được giặc lái Mỹ để làm hình ảnh phóng-sự và tuyên truyền. Những ảnh bắt giặc lái Mỹ của các phóng-viên Văn-Bảo, Phan-Thoan... là những ảnh phóng-sự tuyệt hảo. Các phóng viên khác nổi tiếng trong giai-đoạn này là Vũ-Ba, Lương-Nghĩa-Dũng, Ðinh-Ðăng-Ðịnh, Võ-An-Khánh, Trần-Bỉnh-Khuôl, Xuân-Liễu, Mai-Nam, Dương-Thanh-Phong, Hoàng-Văn-Sắc, Lâm-Tấn-Tài, Chu-Chí-Thành, Trọng-Thanh, Nguyễn-Hữu-Thống, Ðoàn-Công-Tính, Vũ-Tạo, Lê-Minh-Trường...

Vào giai đoạn chót của cuộc chiến 1975, nhiều phóng viên nhiếp ảnh đã được bố trí để di chuyển từ Bắc vào Nam, hoặc từ mật khu về Sài Gòn bằng xe gắn máy hầu có thể đi nhanh và dễ xoay trở... Những hình ảnh chụp khi xe tăng của MTDTGPMN húc đổ cánh cửa dinh Ðộc Lập được coi là hình ảnh kết thúc cuộc chiến Việt Nam, điển hình là ảnh của phóng-viên Vũ-Tạo.

NHIẾP ẢNH VIỆT NAM HẢI NGOẠI
 
Khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt năm 1975, một số nhiếp ảnh gia miền Nam di tản ra nước ngoài (như : Nghiêm Vĩnh Cần, Khưu Từ Chấn, Nguyễn Ðức Cung, Lại Hữu Ðức, Ðỗ Ðức Hiển, Lê Văn Khoa, Bùi Quí Lân, Nguyễn Văn Lân, Lê Ngọc Minh, Ðặng Văn Phước, Võ Văn Thạnh, Nguyễn Xuân Tính, Trần Chí Trung, Huỳnh Công Út...).

Sau đó không lâu, những nhiếp ảnh gia khác vượt biên hoặc xuất cảnh bán chính thức sang Mỹ (như : Nguyễn Xuân Dũng, Bùi Văn Giai, Nguyễn Ngọc Hạnh, Ðinh Công Khanh, Trần Cao Lĩnh, Tôn Lập, Tăng Khánh Lượng, Thái Ðắc Nhã, Ðơn Hồng Oai, Dương Xuân Phương, Trần Ðại Quang, Lý Lan Siêu, Lê Kim Thuận, Nguyễn Huy Trực...).

Và những nhiếp ảnh gia được đào tạo sau 1975 tại Mỹ, tại những lớp nhiếp ảnh của người Việt tổ chức hoặc tại các trường lớp ở Trung học và Ðại học Mỹ.

Những người này đã tạo nên Sinh hoạt Nhiếp ảnh Việt Nam hải ngoại.

Những Hội Ảnh của người Việt ở hải ngọai, hầu hết là ở Mỹ, gồm có :

* Hội Ảnh Nghệ thuật Việt Nam (Artistic Photography Association, APA), thành lập tại Orange County, California năm 1978.
* Hội Ảnh Nghệ thuật Bạn Ảnh (The Image Colleague Society, ICS), thành lập tại Orange County, California năm 1988.
* Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California (The Vietnam Photographic Society of Northern California, VNPS), thành lập tại San Jose, California năm 1990.
* Hội Ảnh Việt Nam Houston (Photo Club of Vietnam, Houston), thành lập tại Houston, Texas năm 1993.
* Hội Nhiếp-ảnh Nghệ-thuật vùng Hoa-Thịnh-Ðốn (Vietnamese Art Photographers Association of Washington D.C.), thành lập tại Washington D.C. năm 1993.
* Tổng-hội Nhiếp-ảnh Ða Văn-hóa (Federation Multi-Cultural Photographic Arts, FMPA), thành lập tại Orange County, California năm 1996.
* Hội Ảnh Nghệ thuật Thiên Nga (The Swan "Ladies" Photographic Society), thành lập tại Orange County, California năm 1998.
* Hội Ảnh South Bay (The Photographic Association of South Bay, PASB), thành lập tại Los Angeles, California năm 1999.
* Hội Ảnh Nghệ thuật The Venus of Los Angeles Photographic Society, thành lập tại Orange County, California năm 1999; năm 2003 đổi tên thành "Photographic Society of California for Vietnamese", viết tắt là PSCVN.
* Hội Ảnh Nghệ thuật Việt Nam Oregon (Vietnamese Photographic Society of Oregon, VPSO), thành lập tại Portland, Oregon năm 1999, hiện không còn hoạt-động.
* Hội Ảnh Nghệ thuật The Portland Photographic Society, thành lập tại Portland, Oregon năm 1999.
* Hội Ảnh United States Photographic Alliance (USPA), thành-lập tại Orange County, California năm 2000.
* Hội Ảnh Thông Xanh (The Portland Photographic Society, PPS), thành lập tại Portland, Oregon năm 2000.
* Hội Nghệ Thuật Việt-Mỹ(Vietnamese American Arts Association,VAAA), thành lập năm 2002 tại Washington DC. Sau đổi thành Hội ảnh Nghệ Thuật Việt-Mỹ( VN USA Photographic Association,VNUSPA), thành lập tại Washington D.C. năm 2005.
* Nhóm Việt-Ảnh, thành-lập tại Orange County, California năm 2002.
* Nhóm Ảnh Trúc-Viên, thành-lập tại San Jose, California năm 2003.
* Hội Ảnh Vietnam Photographic Art Society (VPAS), thành-lập tại Houston, Texas năm 2004.
* Hội Ảnh American Asian Photographic Exhibitor Association (AAPEA), thành-lập tại Los Angeles, California năm 2004.
* Nhóm ảnh Nhóm Phó Nhòm, thành lập tại California năm 2005.
* Hội Ảnh The Aperture Club, thành lập tại Houston, Texas năm 2006.
* Và một số Hội Ảnh của người Việt gốc Hoa tại Houston, Los Angeles, San Francisco và Calgary.

Hầu hết các Hội Ảnh kể trên đều sinh hoạt tại địa phương hoặc trong cộng đồng Việt Nam tại Mỹ. Sinh hoạt trong cộng đồng Việt Nam gồm có : tổ-chức lớp học nhiếp-ảnh, thỉnh thoảng tổ chức cuộc triển lãm ảnh, hàng năm phụ với một hội đoàn Việt Nam tổ chức cuộc thi ảnh hay triễn-lãm ảnh vào dịp Tết Âm-lịch v.v...

Hội Ảnh ICS (Image Colleague Society) được thành lập với mục đích huấn luyện và hướng dẫn người Việt hải ngoại đi vào sinh hoạt nhiếp ảnh với "người Mỹ" (main stream) và với quốc tế. ICS đã tiến-cử hai nhiếp-ảnh-gia lão-thành Phạm-Văn-Mùi và Lý-Lan-Siêu, để được PSA tuyên-dương The High Honor of Special Service Award tại thành phố Lake Tahoe, California, 1992.

Chủ-tịch của Hội ảnh USPA là ông Tony Lê-Kim-Thuận, được Tổng-hội Nhiếp-ảnh Nghệ-thuật Quốc-tế (FIAP) chọn làm đại-diện của FIAP tại Mỹ, từ 2000.

Hội ảnh PSC là hội ảnh đầu tiên đã mở những lớp hướng-dẫn ảnh Kỹ-thuật số.

Một số sách báo nhiếp-ảnh xuất-bản tại hải-ngoại :

* Sách ảnh "Việt-Nam Quê-hương Muôn Thuở" của Trần-Cao-Lĩnh, 1988.
* Những bài viết về "Nhiếp-ảnh" của Lê-Ngọc-Minh, Lê-Văn-Khoa, Ngô-Thanh-Tùng, Lại-Hữu-Ðức in trên tạp-chí Nắng Mới, Montréal, Canada, 1989-1992.
* Sách ảnh "Việt-Nam Quê-hương Tôi" của Lê-Quang-Xuân, 1994.
* Sách ảnh "Artistic Photo Album of Don-Hong-Oai" và "Don Hong Oai, Photographic Memories - Images from China and Vietnam", của Ðơn-Hồng-Oai, 1997 và 1999.
* Sách "Ðường Vào Nhiếp-ảnh Cho Người Tự học" và "Ðường Vào Nhiếp-ảnh 2" của Ngô-Thanh-Tùng, 1998-1999.
* Những bài viết về "Kỹ-thuật Chụp ảnh" của Văn-Vũ và Lê-Ngọc-Minh in trên tạp-chí Hương-Quê, Houston.
* Ðặc-san Việt-Ảnh, xuất-bản mỗi năm một số, hiện đã ra được ba số.
* Sách ảnh "2001 Tuyển tập ảnh" của HANTVN, gồm nhiều tác-giả, 2001.
* Sách ảnh "Pictorial Photography" của HANTVN, gồm nhiều tác-giả, 2004.
* Sách ảnh "Việt-Ảnh Club 2005", gồm nhiều tác-giả, 2005.
* Sách ảnh "Viễn du" của Vietnamese American Arts Association, 2005.
* Bộ sách ký-sự "Quê-hương qua ống kính" đã xuất-bản 7 cuốn, của Trần-Công-Nhung.
* Sách ảnh "American Asian Photographic Salon Exhibitor Association", gồm nhiều tác-giả, 2007.

Từ giữa thập-niên 1980 về sau, một số nhiếp-ảnh-gia Việt-Nam tại hải-ngoại đã gửi ảnh tham-dự các cuộc thi ảnh quốc-tế và đã nhận được những giải cao, đồng-thời, một số nhiếp-ảnh-gia khác đã nhận được những tuyên-dương công-trạng về những đóng góp cho ngành nhiếp-ảnh, từ những hội ảnh có uy-tín trên thế-giới.

NHIẾP ẢNH CHXHCN VIỆT NAM (1975 TỚI NAY)

Khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt năm 1975, đất nước thu về một mối, Việt Nam theo đường lối XHCN. Các nhà nhiếp ảnh cũng được đoàn ngũ hóa và các tiệm ảnh đều được thu vào thành các Công ty Nhiếp ảnh.

Ðường lối chụp ảnh XHCN cũng được áp dụng ở miền Nam (ảnh phải có xây dựng tính, chiến đấu tính, tập thể tính, tóm lại là phải có lập trường). Một vài nhà nhiếp ảnh miền Nam có những hành động chống đối đường lối sinh hoạt nhiếp ảnh và chủ trương sinh hoạt nhiếp ảnh XHCN, dù là phản đối tiêu cực. Và cũng vì cuộc sống mới gặp nhiều khó khăn, sau mấy lần đánh tư sản mại bản, một số nhiếp ảnh gia miền Nam phải bán dụng cụ nhiếp ảnh để mua gạo.

Thành ủy và bộ Thông tin Văn hóa có tổ chức những cuộc thi ảnh; người dự thi phải nộp ảnh nhỏ, cỡ bưu thiếp để được chấm sơ thảo, nếu ảnh được chọn, thí sinh sẽ được cho mấy tờ giấy ảnh lớn để về phóng ảnh rồi đem nộp thi. Ảnh trúng tuyển thường là ảnh "có lập trường", điều này đa số vẫn còn xẩy ra trong các cuộc thi ảnh cho đến ngày nay.

Năm 1981, HNA t/p HCM được thành lập và nhiều nhiếp ảnh gia chọn đường lối gia nhập để có giấy phép hoạt động, hầu còn có thể đem máy ảnh đi đây đi đó; nếu không có giấy tờ phòng thân, có khi bị làm khó dễ, tịch thu máy, mà có khi còn bị nhốt nữa, kể cả một số cán bộ nhiếp ảnh trong biên chế ! Những người chụp ảnh dạo, thí dụ như ở Sở Thú, nhà thờ Ðức Bà...đều phải có giấy phép của công an... vì nghề ảnh là một trong số 7 nghề do công an quản lý.

Về công tác huấn luyện, HNA t/p HCM, Nhà Văn hóa Thanh niên, Nhà Văn hóa Phụ nữ... có mở những lớp nhiếp ảnh và hiện vẫn còn tiếp tục. Trong thời-gian đầu, bài học về chuyên-môn Nhiếp-ảnh do nhiếp-ảnh-gia miền Nam phụ-trách, còn những đề tài liên-quan đến chính-trị và đường-hướng sáng-tác và chỉ-đạo XHCN do cán-bộ từ Bắc vào hoặc cán-bộ từ bưng về hướng-dẫn.

Năm 1985, khi có phong trào đổi mới và cởi trói thì mọi sinh hoạt bừng lên, trong đó riêng bộ môn nhiếp ảnh, các công ty Nhật, Mỹ, Ðức tràn vào Việt Nam khai thác thị trường (như : Fuji, Mitsubishi, Canon, Nikon, Olympus, Ricoh, Kodak, Agfa...) do đó phim ảnh màu, máy ảnh tràn vào; các Mini Lab và tiệm ảnh mọc lên như nấm ở khắp mọi thành phố, quận... có nơi về đến xã... Từ 2000 trở đi, nhiếp-ảnh kỹ-thuật số đã dần dần thay thế nhiếp-ảnh truyền-thống đã có mặt tại Việt-Nam từ hơn 100 năm nay.

Năm 1994, Rick Smolan và 70 nhiếp-ảnh ngoại quốc đến Việt-Nam (trong đó có 17 nhiếp-ảnh-gia Việt-Nam) chụp ảnh "đời sống hàng ngày" tại Việt-Nam trong 7 ngày, về Mỹ in sách ảnh "Passage to VietNam"; đây là lần đầu tiên nhà nước Việt-Nam cho phép một số đông phóng-viên nhiếp-ảnh ngoại quốc đi khắp nước như vậy.

Về tổ chức, HNSNAVN phụ trách nhiếp ảnh toàn quốc; những thành phố lớn có Hội Nhiếp ảnh Thành phố, các thành phố nhỏ hơn, có Chi Hội HNSNAVN. Ngoài ra còn có rất nhiều Câu-lạc-bộ Nhiếp-ảnh và một số cá-nhân sinh-hoạt riêng rẽ. Về phương-diện tài chánh, HNSNAVN được chính phủ tài trợ để hoạt động, lại thêm một số công ty phim máy, giấy ảnh tài trợ nên Việt Nam mỗi năm tổ chức trên dưới 30 cuộc thi ảnh mà phần thưởng có khi trị giá tới cả ngàn đô la. Năm 1996, HNSNAVN tổ chức cuộc thi ảnh quốc tế VN-01 tại Hà-Nội, dưới sự bảo trợ của FIAP; năm 2002, tổ chức cuộc thi ảnh quốc tế VN-02; năm 2005, tổ chức cuộc thi ảnh quốc tế VN-05 và năm 2007, tổ chức cuộc thi ảnh quốc tế VN-07.

Năm 1992, Việt Nam sinh hoạt với nhiếp ảnh quốc tế : gửi ảnh dự thi quốc-tế và triển-lãm ảnh ở nhiều nước, gia nhập FIAP và FAPA và lần đầu tiên, nhiếp ảnh gia Việt Nam nhận được tước hiệu quốc tế, gần như hầu hết là với FIAP. Ngày nay, Việt-Nam là một quốc-gia đoạt được rất nhiều giải thưởng cao trong cac cuộc thi ảnh trên khắp thế giới. Nhiều cá-nhân nhiếp-ảnh-gia, nhiều Câu-lạc-bộ Nhiếp-ảnh đã đạt được nhiều thành-tích cao trong các cuộc thi ảnh quốc-tế, đặc-biệt là cuộc thi ảnh hàng năm tại Áo-Quốc.

Một số sách ảnh :

* Sách ảnh "Ảnh Võ-An-Ninh" của Võ-An-Ninh, 1991.
* Sách ảnh "Việt-Nam Quê-hương Tôi" của Ðào-Hoa-Nữ, 1993.
* Sách ảnh "Ảnh Nghệ-thuật Việt-Nam", của nhiều tác-giả, 1995.
* Sách ảnh "Quê-hương Việt-Nam" và "Hình ảnh Việt-Nam" của Nguyễn-Mạnh-Ðan, 1996 và 2004.
* Sách ảnh "Việt-Nam Xưa và Nay" của Ðỗ-Huân, 1996.
* Sách ảnh "Ảnh Nghệ-thuật Phạm-Văn-Mùi" của Phạm-Văn-Mùi, 1997.
* Sách ảnh "Huế, Ðất Mẹ Của Tôi" của Ðào-Hoa-Nữ, 2000.
* Sách ảnh "Ảnh Việt-Nam thế-kỷ XX", gồm khoảng 50% ảnh phóng-sự, tuyên-truyền và 50% ảnh nghệ-thuật, 2002.
* Sách ảnh "Sống cùng năm tháng", gồm những ảnh đoạt giải thưởng quốc-tế của nhiều tác-giả, 2003.
* Sách ảnh "Ðất và Người" của Lê Phức, 2004.
* Sách ảnh "Những tác-phẩm đoạt Giải thưởng Quốc-tế 1 và 2", 2003 và 2004.
* Sách ảnh "Ảnh xuất sắc", ảnh nghệ thuật của nhiều tác giả, 2006.
* Sách ảnh "25 năm Ảnh nghệ thuật t/p HCM", ảnh nghệ thuật của nhiều tác giả, 2007.
* Sách ảnh "Ký ức miền quê" của Tam-Thái, 2007.
* Sách ảnh "Xuân thì" của Thái-Phiên, 2007.

Tất cả những sách ảnh trên gần như hầu hết đều là ảnh nghệ-thuật, chỉ có một số rất nhỏ ảnh mang chút dấu-ấn chính-trị.

Tạp-chí liên-quan đến Nhiếp-ảnh, có :

* Tạp-chí "Nhiếp-Ảnh" của HNSNAVN.
* Tạp-chí "Ánh Sáng Ðẹp" của HNA t/p HCM.


Ðó là sơ-thảo về Nhiếp-ảnh Nghệ-thuật Việt-Nam hơn một trăm năm qua.

70 Năm Tình Ca Việt Nam

posted Aug 6, 2013, 6:44 PM by Le Phan

70 Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam (1930 - 2000)
Trích từ SBS Radio (Úc Châu) do Hoài Nam biên soạn.

(This page is for streamming audio. If you need to download MP3 audio, please go HERE)

Phần 01: 1930 Nguyễn Văn Tuyên, Đặng Thế Phong
Phần 02: 1940 Lê Thương
Phần 03: Văn Cao phần 1
Phần 04: Văn Cao phần 2
Phần 05: Dương Thiệu Tước
Phần 06: 1945-1946
Phần 07: Thẩm Oánh , Canh Thân, Tô Vũ, Nguyễn Thiện Tơ
Phần 08: Thế nào là nhạc tiền chiến
Phần 09: Phạm Duy Nhượng, Lê Hoàng Long, Tu Mi, Võ Đức Phấn
Phần 10: Lưu Hữu Phước, Trần Hoàn, Tô Hoài, Tô Vũ
Phần 11: Hoàng Giác, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Tý
Phần 12: Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Văn Quỳ, Hoàng Dương
Phần 13: Đoàn Chuẩn - Từ Linh
Phần 14: Phạm Duy, Hoàng Trọng, Ngọc Bích
Phần 15: Văn Giảng, Châu Kỳ
Phần 16: Anh Việt, Lâm Tuyền
Phần 17: Tổng kết giai đoạn 1938-1954
Phần 18: Hoàng Trọng
Phần 19: Ngọc Bích, Xuân Tiên
Phần 20: Vũ Thành, Đan Thọ
Phần 21: Phạm Duy
Phần 22: Lê Trọng Nguyễn
Phần 23: Hoàng Nguyên
Phần 24: Lê Mộng Nguyên, Nguyễn Hiền, Nhật Bằng
Phần 25: Phạm Đình Chương 1
Phần 26: Phạm Đình Chương 2
Phần 27: Văn Phụng
Phần 28: Hoàng Thi Thơ
Phần 29: Nguyễn Văn Đông
Phần 30: Tuấn Khanh
Phần 31: Y Vân
Phần 32: Anh Bằng
Phần 33: Minh Kỳ
Phần 34: Lê Dinh
Phần 35: Phạm Mạnh Cương, Phạm Trọng Cầu
Phần 36: Lam Phương
Phần 37: Trúc Phương
Phần 38: Huỳnh Anh
Phần 39: Khánh Băng
Phần 40: Duy Khánh
Phần 41: Mạnh Phát
Phần 42: Nhật Trường
Phần 43: Hoài Linh
Phần 44: Song Ngọc
Phần 45: Nhật Ngân, Thanh Sơn
Phần 46: Nguyễn Ánh 9
Phần 47: Đỗ Lễ, Bảo Thu
Phần 48: Hoài An, Nguyễn Vũ
Phần 49: Trường Hải, Dzũng Chinh, Hàn Châu 
Phần 50: Cung Tiến phần 1
Phần 51: Cung Tiến phần 2
Phần 52: Thanh Trang, Anh Việt Thu
Phần 53: Phạm Thế Mỹ
Phần 54: Trầm Tử Thiêng Phần 1
Phần 55: Trầm Tử Thiêng Phần 2
Phần 56: Trường Sa
Phần 57: Từ Công Phụng
Phần 58: Trịnh Công Sơn Phần 1
Phần 59: Trịnh Công Sơn Phần 2
Phần 60: Lê Uyên Phương Phần 1
Phần 61: Lê Uyên Phương Phần 2
Phần 62: Vũ Thành An
Phần 63: Ngô Thụy Miên Phần 1
Phần 64: Ngô Thụy Miên Phần 2
Phần 65: Ban Nhạc Trẻ Phượng Hoàng_Phần 1
Xuân Kỷ Sửu: Xuân Trong Tân Nhạc Việt Nam
Phần 66: Ban Nhạc Trẻ Phượng Hoàng_Phần 2
Phần 67: Đức Huy, Nam Lộc, Quốc Dũng, Tùng Giang
Phần 68: Phạm Duy Phần 1
Phần 69: Phạm Duy Phần 2
Phần 70: Phạm Duy Phần 3
Phần 71: Phạm Duy Phần 4
Phần 72: Tổng Kết Thời Kỳ Thứ 2 Trong 70 Năm Tình Ca


Giai Đoạn Sau 1975
Phần 73: Thời Kỳ Sau 1975 Phần 1
Phần 74: Thời Kỳ Sau 1975 Phần 2
Phần 75: Trầm Tử Thiêng
Phần 76: Hoàng Thi Thơ, Phạm Duy, Song Ngọc, Anh Bằng, Đăng Khánh
Phần 77: Tùng Giang, Duy Quang
Phần 78: Đức Huy
Phần 79: Trần Quảng Nam, Vũ Tuấn Đức, Hoàng Quốc Bảo, Margurerite Phạm
Phần 80: Nguyệt Ánh, Việt Dũng, Duy Trác, Trần Ngọc Sơn
Phần 81: Đăng Khánh
Phần 82: Trúc Hồ
Phần 83: Lê Tín Hương, Trịnh Nam Sơn, Hoàng Thanh Tâm, Đỗ Cung La, Anh Tài, Đặng Hiền
Phần 84: Ngô Thụy Miên
Phần 85: Lam Phương
Phần 86: Anh Bằng, Từ Công Phụng
Phần 87: Nguyễn Đình Toàn
Phần 88: Nguyễn Ánh 9
Phần 89: Trần Quang Lộc
Phần 90: Nguyễn Trung Cang - Lê Hựu Hà - Quốc Dũng
Phần 91: Bảo Chấn - Bảo Phúc
Phần 92: Thanh Tùng - Phú Quang - Quốc Bảo
Phần 93: Ngọc Lễ - Trần Tiến
Phần 94: Sơ lược về âm nhạc VN trong 34 năm 1975-2009
Phần 95: Lời Cảm Tạ

1-10 of 11