Âm Nhạc & Nghệ Thuật • Music & Arts


GS. Lê Đình Thông - Thuyền Trăng Kính mừng sinh nhật bách niên của GS Vũ Quốc Thúc

posted Oct 21, 2019, 7:40 AM by Le Phan   [ updated Oct 21, 2019, 7:44 AM ]

GS. Lê Đình Thông – Thuyền Trăng
Kính mừng sinh nhật bách niên của GS Vũ Quốc Thúc


Sinh nhật trăm tuổi (16/09/2019) của GS Vũ Quốc Thúc nhằm rằm tháng tám năm Kỷ Hợi (13/09/2019), tuy xê xích ba ngày nhưng vẫn là ánh trăng rằm. Thầy trò cùng nhấp chén trà quê hương, trong khi chúng tôi ngâm nga hai câu thơ trong bài Mạn Hứng (漫興) của Nguyễn Trãi để chúc thọ thầy :

Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng

故山昨夜纏清夢

Nguyệt mãn Bình Than tửu mãn thuyền

月滿平灘酒滿船

Trăm năm chỉ là một con thuyền ‘‘trải qua các thời biến’’, như tựa cuốn hồi ký của thầy xuất bản cách nay đúng 10 năm (2009). Thuyền bách niên chuyên chở bao nhiêu nỗi u hoài thời thế, đến năm thứ 100 còn ngập ánh hào quang :

Thuyền trôi vẫn quyến sao đêm

Hào quang vẫn ngủ êm đềm trong mơ.

Vũ Hoàng Chương 

Trên bình diện nhân sinh, hào quang của bậc thầy đào tạo các môn sinh lúc nào cũng sáng tỏ. Trên bình diện quốc gia, hào quang bừng sáng, mai này sẽ đem lại tự do no ấm cho dân tộc. Thầy luôn vững tin vào tương lai đất nước :

Càn khôn ký bĩ nhi phục thái

乾 坤 既 否 而 復 泰,

Nhật nguyệt ký hối nhi phục minh.

日月 既 晦 而 復 明 。

(Càn khôn bỉ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh.)

Nguyễn Trãi

Tôi kính biếu Thầy ba tặng vật tinh thần đầy ý nghĩa của ba nhà báo CTKD :

Trăn Trở Cuối Đời của Hoàng Ngọc Nguyên. Tác giả xuất thân khóa I CTKD là nhà báo kỳ cựu, viết đều đặn bằng Việt ngữ và tiếng Anh-Mỹ, nhận lãnh trách nhiệm đệ tứ quyền với những nhận định sắc bén, luôn tôn trọng nhiệm vụ luận báo chí (déontologie du journalisme) từng được giảng dạy tại trường CTKD Đà Lạt. Tác giả đã dành một chương sách kể lại những kỷ niệm với GS Vũ Quốc Thúc, nói lên lòng tri ân và chúc thọ.

– Trang blog Thụ Nhân Bắc Một Nhịp Cầu do nhà báo Thạch Lai Kim, khóa I CTKD chủ biên, giới thiệu các Bản Tin của Thụ Nhân Paris, bài vở thơ văn thể hiện tinh thần tôn sư trọng đạo, theo truyền thống đại học nước nhà. Số lượt truy cập ngày 14/09/2019 :  274459.

– Trang website Diễn Đàn Thụ Nhân do nhà báo Võ Thành Xuân, khóa I CTKD, chủ trương, tập hợp các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà biên khảo CTKD trong nước và hải ngoại. Số lượt truy cập ngày 14/09/2019 : 393875.

Các công trình văn học trên đây minh chứng lời giảng dạy của thầy ở quê nhà luôn là khuôn vàng thước ngọc cho các môn sinh, theo đúng tôn chỉ Bách Niên Chi Kế Mạc Như Thụ Nhân (百年之計莫如樹人).

Hai ý nghĩa Thuyền Trăng (để chỉ thời gian) và Thụ Nhân (không gian) gom lại thành bài thơ chúc thọ GS Vũ Quốc Thúc như sau :

Thuyền trăng chở mãi đến trăm năm

Nợ nước lo tròn chẳng bận tâm

Chính Trị Kinh Doanh trường đại học

Kinh Bang Tế Thế quyết cùng làm

Trồng Người bách niên mà không mệt *

Tuổi hạc da mồi trí vẫn chăm

Tấm thân mòn mỏi, hồn minh mẫn

Thanh bình thịnh trị chẳng bao lăm !


Paris, 16/09/2019


* hối nhân bất quyện (誨 人 不 倦).

GS. Lê Đình Thông -Trăng Thu


Trăng rằm tháng Tám mãi trên non

Ánh Nguyệt rơi hoài dạ sắt son

Múa khúc Nghê Thường trăng mỏi mệt

Hằng Nga nghỉ đỡ vướng ngàn thông

Trăng vàng hải ngoại buồn da diết

Rớt  xuống dòng sông nước cuốn tuôn

Ánh Nguyệt bồng bềnh theo sóng vỗ

Mưa thu đẫm lệ lúc trăng tròn.


Thu 2019
Nguồn: http://lediemchihue.com/

Hai Vì Sao Băng Trong Chòm Sao Bắc Đẩu Bị Cộng Sản Bất Tử: Vũ Hoàng Chương và Hồ Hữu Tường

posted Oct 21, 2019, 7:33 AM by Le Phan

Hai Vì Sao Băng Trong Chòm Sao Bắc Đẩu Bị Cộng Sản Bất Tử
GS. Lê Đình Thông 

Vũ Hoàng Chương
Hồ Hữu Tường

30/04/1975 mở đầu tiến trình bức tử các nhà văn hóa miền nam : từ Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường đến Trần Văn Tuyên, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Mạnh Côn v.v.

Trong số năm cây bút, Vũ Hoàng Chương và Hồ Hữu Tường bị đầy ải trong ngục tù cộng sản, lúc sắp chết mới được thả ta, từ trần khi về nhà. Ba vị khác là Trần Văn Tuyên, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Mạnh Công đều chết trong các trại cải tạo đèo heo hút gió. Cái gọi là cải tạo chỉ có nghĩa là cộng sản cải tạo từ cuộc sống tự do ở miền nam, biến thành cái chết oan khiên trong ngục tù cộng sản. Vì khuôn khổ hạn hẹp, bài báo này chỉ viết về :

– Thi bá Vũ Hoàng Chương (1915-1976), thọ 61 tuổi : ngôi sao bắc đẩu của thi ca Việt Nam ;

– và Nhà văn Hồ Hữu Tường (1910-1980), thọ 70 tuổi : cây đại thụ của văn học miền Nam.

Các vị khác :

– Luật sư Trần Văn Tuyên (1913-1976), thọ 63 tuổi.

– Sử gia Phạm Văn Sơn (1915-1978), thọ 63 tuổi.

– Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn (1920-1979), thọ 59 tuổi.

Người viết xin thắp nén hương lòng tưởng niệm.

Cái chết trong ngục tù cộng sản nói lên sự dũng cảm của các bậc thức giả miền nam : uy vũ bất năng khuất (威武不能屈), đối nghịch với văn nô bồi bút (文奴陪筆) cộng sản, bán rẻ ngòi bút để hưởng chút cơm thừa canh cặn.

Các vị là ngôi sao Tham Lang (天枢), Cự Môn (天璇), Văn Khúc (天权), Liêm Trinh (玉衡), Vũ Khúc (开阳) trong trong chòm sao Bắc Đẩu (北斗),sáng chói trên nền trời văn học nước nhà.

Xin bắt đầu với nhà thơ họ Vũ, 
được văn giới tôn vinh là ngôi sao bắc đẩu của thi đàn nước ta.

1) Vũ Hoàng Chương (1915-1976): Ông sinh năm Ất Mão (1915), nhưng nhiều tài liệu ghi là 1916. Quê ông ở phủ Thượng Hồng, tỉnh Nam Định. Ông học chữ hán năm lên 5 với thân phụ là cụ tri huyện Vũ Thiện Thuật. Năm 12 tuổi học tiểu học ở Nam Định, năm 13 tuổi bắt đầu làm thơ. Năm 22 tuổi, ông vào học lycée Albert Sarraut ở Hà Nội. Sáu năm sau, thi đậu tú tài I : cổ ngữ la tinh – hy lạp ; phần II : toán. Năm 1938, ông học luật nhưng bỏ dở. Năm 1941, ghi tên cử nhân toán nhưng cũng bỏ học, dạy học ở Hải Phòng. Năm 1942 : về Hà Nội lập một kịch đoàn cùng với nhà thơ Nguyễn Bính và Chu Ngọc, công diễn vở kịch thơ Vân Muội do ông sáng tác. Năm 1944, ông thành hôn với bà Định Thị Thục Oanh, giáo sư trung học, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng (có tài liệu ghi nhầm là ‘‘em gái’’). 

1948 : xuất bản tập Thơ Lửa, cùng với Đoàn Văn Cừ.

1951 : công diễn : Tâm sự Kẻ sang Tần.

1959 : xuất bản : Hoa Đăng (Văn Hữu Á Châu)

1960 : tái bản  Thơ Say và Mây, Vân Muội, Trương Chi, Hồng Điệp.

1970 : Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm.

1971 : Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai.

1974 : Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau. Ta Làm Chi Đời Ta.

Bút tự của Vũ Hoàng Chương (tài liệu : Đặng Tiến)

Ngoài việc làm thơ, Vũ Hoàng Chương dạy học ở trường Chu Văn An và Văn Lang (Saigon). Trang web của Hội Ái Hữu Học Sinh Chu Văn An Bắc California có bài ‘‘Tại sao Vũ Hoàng Chương bị bắt’’ của Phạm Nguyên Khôi, xin trích như sau :

‘‘…Cùng thời với Vũ-hoàng-Chương còn có rất nhiều văn nhân thi sĩ khác cùng nổi tiếng trên văn thi đàn, trong đó có Huy-Cận (tên thật là Cù-huy-Cận) sinh năm 1919. Huy-Cận cũng là một nhà thơ nổi tiếng, điển hình là bài “Ngậm ngùi” đã được phổ nhạc mà chúng ta thường nghe. Huy-Cận kém Vũ-hoàng-Chương ba tuổi và xuất bản tập thơ đầu “Lửa Thiêng” sau khi Vũ-hoàng-Chương đã có thi tập “Thơ say” và “Mây” đang sắp phát hành. Vì thế Huy-Cận coi thi sĩ Vũ như anh.

Một hôm Huy-Cận bất ngờ gặp Vũ-hoàng-Chương và  rủ Ông đi ăn phở. Vì mới ra tập thơ đầu lại cũng có ý thân mật so sánh nên Huy-Cận nửa đùa nửa thật vỗ vai Vũ-hoàng-Chương nói rằng:

“Đã lâu lại gặp ‘chàng Say’

‘‘Lửa Thiêng’’ xin đốt chờ ‘‘Mây’’ xuống trần

 Vũ-Hoàng-Chương cũng hơi khựng một chút, nhưng vui vẻ đáp ngay:

‘‘Mây’’ kia chẳng chịu xuống  trần

Lửa ơi theo khói lên gần với ‘‘Mây’’.

Hai người đối đáp với nhau như thế, vừa có ý kiêu ngạo, vừa có ý thân thiện, thật xứng đôi. Rồi thời gian trôi qua, năm 1946 Huy-Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ bác và đảng, được sủng ái nên đã có thời leo lên đến chức thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ-hoàng-Chương thì chạy tản cư, cũng có làm một số bài thơ ái quốc, nhưng sau đó hồi cư về lại Hanoi rồi di cư vào Saigon theo hiệp định Genève năm 1954, vẫn tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.

Vật đổi sao dời, năm 1975 miền nam bị bỏ rơi và cộng sản thắng đại cái “đại thắng mùa xuân”. Và hai thi nhân lại có dịp gặp nhau trong hoàn cảnh éo le quốc cộng. Huy-Cận được cử vào Saigon cùng với một phái đoàn với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.

Dĩ nhiên người mà Huy-Cận muốn gặp đầu tiên là Vũ-hoàng-Chương, cũng vì tình bạn cũ và cũng nghĩ rằng nếu chiêu dụ được Vũ theo cách mạng thì mình lập được công lớn. Vì vậy Huy-Cận đã sửa soạn cuộc thăm viếng rất trọng thể. Lễ vật đến thăm Vũ-hoàng-Chương gồm một chai rượu quí, một lọ đầy thuốc phiện và cũng không quên mang theo một bức hình Hồ chí Minh. Rượu và thuốc thì để biếu bạn, còn bức hình thì Huy-Cận ước mong sẽ được Vũ-hoàng-Chương đề tặng cho mấy vần ca ngợi để có bằng chứng báo cáo lấy công đầu.

Cuộc gặp gỡ diễn ra tốt đẹp sau bao năm xa cách. Vũ-hoàng-Chương đón Huy-Cận như một bạn cố tri nồng nàn vui vẻ. Sau khi Huy-Cận ngỏ ý muốn Vũ đề thơ thì Ông trầm mặc không nói gì. Huy-Cận khi ra về có hẹn ba ngày sau sẽ cho người đến xin lại bức hình, Vũ-hoàng-Chương cũng chỉ ậm ừ tiễn bạn.

Đúng ba ngày sau khi nhân viên của Huy-Cận tới thì thấy trên bàn vẫn còn y nguyên hai món lễ vật và bức hình, Vũ-hoàng-Chương không hề đụng tới mặc dù rượu với thuốc phiện đối với Ông là rất quí hiếm. Còn bức hình thì vẫn chỉ là bức hình như khi đem tới, không một nét chữ đề. Được báo cáo lại, dĩ nhiên là Huy-Cận tím mặt. Nhưng Ông biết tính họ Vũ là ngưòi không dễ lung lạc nên cũng đành thôi.

Vũ-hoàng-Chương, ông quả là một người có khí phách. Ông có một cơ hội an thân nhưng Ông đã không làm, chỉ vì tấm lòng Ông “một tấc thành” nên Ông phải giữ tiết tháo không a dua theo thời cuộc. Thế là lại có thêm một cái ‘họa’. Nhưng như thế vẫn chưa hết.

Chê thơ Tố-Hữu và dạy cộng sản cách làm thơ.

Theo một bài đăng  trên “net”  của tác giả Sông-Lô viết về Vũ-hoàng-Chương nhận xét thơ Tố-Hữu, được biết phái đoàn từ bắc vô nam cùng với Huy-Cận như đã nói ở đoạn trên còn có nhiều nhân vật sáng giá khác như Tố-Hữu,  Hoài-Thanh, Xuân-Diệu, Vũ-đình-Liên…. Phái đoàn được ký giả nằm vùng Thanh-Nghị tiếp đón và tổ chức một đêm”họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ-hoàng-Chương đã được mời và có tham dự. Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố-Hữu đã làm để khóc Stalin khi ông trùm đỏ Nga-sô  này chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp cùng đầy đủ tiếng khen chê đối với  tên trùm văn nghệ cộng sản này là câu:

“Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương ông thương mười “

Thanh-Nghị với tư cách nằm vùng theo cộng sản từ lâu, coi như đại diện miền nam, dĩ nhiên ca ngợi thơ Tố-Hữu hết mình. Rồi lần lượt đến Xuân-Diệu, Huy-Cận, Vũ-đình-Liên từ ngoài bắc vào lên diễn đàn thì khỏi nói. Cũng cần có một tiếng nói miền nam cho xôm tụ, cho nên Hoài-Thanh khẩn khoản mời Vũ-hoàng-Chương lên phát biểu với dụng ý là họ Vũ, một thi bá đương thời, nhưng vốn người trầm mặc hiền hoà chắc cũng chỉ vuốt theo mà không nói điều gì nghịch ý. Xin trích nguyên văn sau đây một đoạn của Sông-Lô:

“Ai đã biết Vũ-hoàng-Chương ắt phải biết cái đanh thép bên trong tấm thân nhỏ bé ọp ẹp của ông. Đôi ba lần tạ từ không được, đành nhảy vào ưỡn ngực “ hò kéo pháo”, nhưng trước khi vào cuộc họ Vũ đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái  ‘sáng giá’  của đêm họp  ‘văn nghệ đặc biệt’ này, bởi vì ‘tất tần tật’ đã thẩm định rồi.”

Sau đây là lời của Vũ-hoàng-Chương :

“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.

Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được ‘đóng khung’ tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố-Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao. Lời thẩm định của Thanh-Nghị thật xác đáng, tôi chịu. Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép. Vấn đề của thơ, nói cho đến nơi, là ở đây, có nghĩa là thơ phải thực.

 Tố-Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việt Nam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việt Nam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca; nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việt Nam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?

Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài ‘Đời đời nhớ Ông’ Tố-Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:

“Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin.’’

Chắc chắn là không có một bà mẹ Việt Nam nào, kể cả Bà Tố-Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ. Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm; đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố-Hữu nếu tự khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việt Nam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm’’.

Vẫn theo lời kể của Sông-Lô thì  lời thẩm định này đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ-hoàng-Chương, có người đã yêu cầu Ông nói về thơ để hòng bắt bẻ này nọ, nhưng Ông vẫn ôn tồn phát biểu:

“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo; nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.

“Tôi xin nhắc ; sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca; vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống.”

Sau đêm hôm ấy, hình như có một buổi họp khẩn cấp của các “nhân vật then chốt” cộng sản, và Vũ-hoàng-Chương đã bị bắt. Như vậy cái tội phản động của thi sĩ họ Vũ không phải là một mà có đến ba : bắt đầu từ bài thơ thời sự , kế đến không nể nang tình bạn và sau cùng là đã dạy khôn cho kẻ đang thắng thế. Theo Sông-Lô thì Vũ-hoàng-Chương không phải là người dại, cũng không phải người can đảm mà Ông chính là người của tự do không phải quị lụy trước bất cứ một áp lực nào.’’

Trích đoạn trên đây nói lên khí phách của nhà thơ miền Nam trước sự thấp hèn của những kẻ dối lòng, tự biến thành ông cai văn nghệ, ra oai tác quái với những cây bút chân chính. Nhưng không chỉ có thế. Di ngôn của thi bá họ Vũ còn là bản tuyên ngôn của các nhà văn, nhà thơ chân chính, không bẻ cong ngòi bút, chỉ nói lên những điều mắt thấy tai nghe, cho dù vì nói thật, nói thẳng mà phải mất mạng.

Vũ Hoàng Chương thẳng thắn phê bình bài thơ của Tố Hữu nịnh bợ Staline vốn là đồ tể trời tây. Theo sử gia Norman M. Naimark chuyên về thời kỳ xô viết của Đại Học Stanford, trong thập niên 30, Staline ra lệnh cho cục Goulag bắt giam rồi hạ sát từ 15 đến 20 triệu người vô tội trong các trại tập trung ở miền băng giá Sibérie. Con gái Staline là Svetlana cảm thấy nhục nhã, từ bỏ họ cha, lấy họ mẹ Allilouïeva, tỵ nạn chính trị ở Hoa Kỳ. Vậy mắc mớ gì mà Tố Hữu bẻ cong ngòi bút, thương vay khóc mướn đao phủ thủ giết người không gớm tay :

Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin.

Ta hãy so sánh giữa vần thơ giả tạo của Tố Hữu và bài thơ nói lên thực trạng miền nam vào ngày tết âm lịch đầu tiên vắng bóng cờ vàng.

Mỗi độ xuân về, Vũ Hoàng Chương lại làm một bài thơ khai bút. Vào Tết Bính Thìn (1976), nhà thơ họ Vũ ‘‘Vịnh Tranh Gà Lợn’’. Chỉ với 8 câu thơ, mỗi câu 7 chữ  (8 x 7 = 56 chữ), thi bá tuyên chiến với cả chế độ qua bài ‘‘Vịnh Tranh Gà Lợn’’. Bản chép sau đây của bà Vũ Hoàng Chương cất giữ và trao cho nhà văn Đặng Tiến :    

Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành

Gà lợn, om sòm rối bức tranh

Rằng vách có tai, thơ có họa

Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh

Mắt gà huynh đệ bao lần quáng

Lòng lợn âm dương một tấc thành

Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn

Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

Ta hãy nghe bà Vũ Hoàng Chương chú giải bài thơ, do nhà văn Đặng Tiến công bố : ‘‘Thơ có họa có ba nghĩa: thơ có xướng thì phải có họa, gọi là thơ xướng họa; thơ phản nghịch là tai họa; và thơ họa (vẽ) ra tranh. Vũ Hoàng Chương nổi tiếng là uyên bác: thơ ông thường sử dụng nhiều điển cố. Đặc biệt bài này ông sử dụng tục ngữ, theo truyền thống Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Bà Vũ Hoàng Chương lưu ý đến những tục ngữ : ‘‘rừng có mạch,  vách có tai’’ ; ‘‘xanh vỏ đỏ lòng’’. Nhưng còn nhiều thành ngữ, tục ngữ khác như : ‘‘tranh  tối tranh sáng’’, ‘‘mắt xanh’’, ‘‘mắt quáng gà’’, ‘‘gà cùng một mẹ’’, ‘‘lợn âm dương’’, ‘‘con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi’’. ‘‘Khúc tân thanh’’ ngụ ý ‘‘đoạn trường’’.

Bố cục thất ngôn bát cú 七言八句 của bài ‘‘Vịnh Tranh Gà Lợn’’ như sau :

– Đề 題 (phá đề và thừa đề) : bối cảnh nhiễu nhương miền Nam vào năm 1976, gà và lợn ‘‘ám chỉ’’ : Lê Duẩn, Văn Tiến Dũng. Họ ‘‘om xòm’’, huênh hoang với cái ‘‘đại thắng mùa xuân’’, cả miền Nam vật đổi sao dời.

– Thực 實 : ‘‘thơ có họa’’ : nghĩa đen là trong thơ có họa ; nghĩa bóng nói lên tình trạng công an đêm ngày rình rập, quấy nhiễu dân lành, sau cùng nhà thơ cũng phải mang họa vào thân. Lòng đỏ là việt hóa chữ đan tâm là 丹心, tác giả dùng phép ẩn dụ (métaphore) để nói lên bạn bè thân quen, đối lại với mắt xanh là dịch chữ ‘‘thanh nhãn’’ 青眼, tác giả mượn điển tích Nguyễn Tịch đời Tấn, ám chỉ những cán bộ hống hách, đáng khinh chê.

– Luận 論 : câu 5 nói mắt quáng gà vì nghe luận điệu dối gạt. Câu 6 nói đến ‘‘tấc thành’’ của người miền Nam.

– Kết 結 : Thi bá nhắn nhủ lũ gà lợn thôi ủn ỉn thùng rỗng ‘‘đại thắng’’ mà nghe rồng Bính Thìn miền Nam ngân nga khúc Tân Thanh réo rắt, đứt ruột (Đoạn Trường Tân Thanh).

Bài thơ này đưa đến cái chết của thi bá họ Vũ. Ngày 13/04/1976, cộng sản bắt Vũ Hoàng Chương, giam cùng xà lim với bác sĩ Phan Huy Quát. Vì biết nhà thơ họ Vũ sắp chết, cộng sản mới phóng thích. Lúc 23 giờ ngày 06/09/1976, nhẳm ngày 13 tháng 8 năm Bính Thìn,  nhà thơ qua đời tại Khánh Hội tại nhà em vợ là phu nhân thi sĩ Đinh Hùng. Lao tù cộng sản đã bức tử thi bá Vũ Hoàng Chương.

Theo tài liệu của nhà văn Đặng Tiến, vào năm Kỷ Mão (1999), bà Vũ Hoàng Chương tức nữ sĩ  Đinh Thục Oanh làm bài thơ ‘‘Mai Thúy Vũ’’ khóc chồng như sau ;

Cao sâu từng nhập bóng cây già,

Cây vẫn thân xưa bóng chẳng nhòa.

Vườn trải băng sương trăm thức cỏ,

Xuân còn Thúy Vũ một cành hoa.

Lòng nghe nắng ấm say đôi chút

Cánh để men hồng nhuốm phớt qua

Vang tiếng chim xanh về hót đấy,

Bồng lai hẳn nhớ kẻ đi xa.

Nếu thi bá họ Vũ là ngôi sao bắc đẩu sáng chói trong văn học miền Bắc, 
văn hào họ Hồ là cây đại thụ rợp bóng văn học miền Nam.

2) Hồ Hữu Tường (1926-1980) : Họ Hồ quê quán quận Cái Răng, tỉnh Cần Thơ. Theo nhà phê bình văn học Thụy Khê, ‘‘Hồ Hữu Tường sinh ngày mùng 8 tháng 5 năm 1910 tại làng Thường Thạnh, huyện Cái Răng, tỉnh Cần Thơ. Cha là Hồ Văn Sây, mẹ là Võ Thị Nữ và ông nội là Hồ Văn Điểu. Dòng họ Hồ này khi xưa ở đất Nghệ An. Sau khi Hồ Quý Ly thất thế, đầu thế kỷ XV đã bị xua vào đất Qui Nhơn sinh sống. Đến thế kỷ XVIII, trong họ xuất hiện ba anh em Nhạc, Huệ, Lữ, nổi lên cầm đầu phong trào Tây Sơn. Khi nhà Tây Sơn bại liệt, tất cả những người họ Hồ, bà con xa gần với Tây Sơn đều phải lánh nạn. Tỉnh Qui Nhơn bị Nguyễn Ánh đổi tên thành Bình Định. Sự đổi tên này, đối với họ Hồ, có nghĩa là một sự trả thù, một sự đàn áp. Để tránh sự trả thù của nhà Nguyễn, một thanh niên tên là Hồ Văn Phi trốn vào Nam, lưu lạc đến rạch Cái Răng ở miệt Cần Thơ, lập nghiệp. Vợ chồng Hồ Văn Phi chưa có con trai, nuôi một đứa nhỏ tên là Điểu mà mẹ nó dường như là một người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn lánh nạn. Khi trao con lại cho Hồ Văn Phi, bà dặn dò rằng: Cha nó cũng họ Hồ, tôi cho nó cho ông là để nó giữ họ. Khi nó lớn lên, ông bà dặn nó nên nêu lên hai chữ Kế Thế mà thờ giữa hai chữ Hồ phủ, và truyền lại mãi mãi với con cháu nó nên làm như vậy. Chữ Kế Thế rút từ những chữ “Kế thế vi đức, dĩ hữu thiên hạ“, hàm súc cái mộng làm đế vương. Người con nuôi của Hồ Văn Phi có dòng dõi bí mật, đế vương ấy (dòng Quang Thiệu), chính là Hồ Văn Điểu và là ông nội của Hồ Hữu Tường. Đó là những điều mà Hồ Hữu Tường thuật lại về dòng dõi của mình trong cuốn tự truyện Thằng Thuộc, con nhà nông và tiểu thuyết dã sử Kế thế.’’

Cũng như Vũ Hoàng Chương học cử nhân Toán tại Đại Học Hà Nội,  Hồ Hữu Tường học cao học Toán tại Đại Học Lyon. Họ Vũ có thơ đăng trên các tờ báo. Họ Hồ xuất thân là nhà báo rồi nhà văn.

– Báo chí :

1930 : chủ nhiệm tờ Tiền Quân.

1932 : chủ nhiệm tờ Tháng Mười.

1936 : chủ nhiệm Thường Trực Cách Mạng, Le Militant, Thầy Thợ.

1967 : biên tập viên các báo : Ánh sáng, Tiếng Nói Dân Tộc, Quyết Tiến, Đuốc Nhà Nam, Tin Sáng, Saigon Mới, Điện Tín.

– Biên khảo :

Xã hội học nhập môn (Minh Đức, 1945).

Kinh tế học và kinh tế chánh trị nhập môn (Tân Việt, 1945).

Tương lai kinh tế Việt-nam (Hàn Thuyên, 1945).

Tương lai văn hóa Việt-nam (Minh Đức,1946, Huệ Minh, 1965).

Phong kiến là gì? (Minh Đức,1946).

Vấn đề dân tộc (Minh Đức,1946).

Muốn tìm hiểu chánh trị (Minh Đức,1946).

Lịch sử văn chương Việt-nam (quyển 1) (Lê Lợi, 1950).

Phép nói và viết hỏi ngã (1950).

Em học tiếng mẹ (1950).

Những kỹ thuật căn bản của nghề làm báo (in tại Paris, 1951, Hòa Đồng, 1965).

Em tập đọc (1951).

Tương lai văn hóa Việt Nam (Minh Đức,1946, Huệ Minh, 1965).

Trầm tư của một tên tội tử hình (Lá Bối, 1965),

Luận lâm I (Huệ Minh, 1965),

Nói tại Phú Xuân (những bài tham luận đọc tại Đại học Huế) (Huệ Minh, 1965).

– Văn học :

Một thuở ngàn năm (truyện trào phúng chính trị) gồm có: Phi Lạc sang Tàu (Sống Chung, 1949), Phi Lạc náo Hoa Kỳ (Vannay, Paris, 1955), Tiểu Phi Lạc náo Sàigòn (Nam Cường, 1966), Diễm Hồng xuất giá (Nam Cường, 1966).

Hồn bướm mơ hoa (tiểu thuyết lịch sử xã hội, miền Hậu Giang) gồm 4 tập: Mai Thoại Dung, Tam nhơn đồng hành, Ông thầy Quảng, Bủa lưới người (Nam Cường, 1966).

Gái nước Nam làm gì? (tiểu thuyết tranh đấu chống Pháp) gồm Thu Hương và Chị Tập (Sống Chung, 1949).

Nỗi lòng thằng Hiệp (Lê Lợi, 1949).

Quả trứng thần (1952).

Kể chuyện (Huệ Minh, 1965),

Kế thế (tiểu thuyết dã sử) (Huệ Minh, 1964).

Thuốc trường sanh gồm 3 tập: Xây mộng, Phúc đức và Vẹn nguyền (Huệ Minh, 1964). Hoa dinh cẩm trận (tiếp theo Thuốc trường sanh).

Nợ tinh thần (Huệ Minh, 1965).

Thằng Thuộc con nhà nông (An Tiêm, 1966).

Người Mỹ ưu tư (tác giả xuất bản, Paris, 1968).

Un fétu de paille dans la tourmente (Paris, 1969, chưa in)

41 năm làm báo (Trí Đăng, Đông Nam Á tái bản tại Paris, 1984).

Họ Hổ, nhập thế thì làm báo, viết văn ; xuất thế thì ở tù. Giai thoại sau đây trên Wikipedia kể lại chuỗi ngày vào tù ra khám của một người lương thiện. ‘‘Khi bị giam ở phòng giam tập thể (trong nhà tù cộng sản), một người tù hỏi Hồ Hữu Tường: ‘‘Bác Tường ơi! Thời Tây, thời Ngô Đình Diệm và cả thời này nữa, thời nào bác cũng đi tù. Bác có hiểu tại sao bác cứ ở tù hoài vậy không ? Hồ Hữu Tường nhìn anh ta, vừa cười, vừa hỏi: ‘‘Mày trả lời giùm tao đi, tại sao ?’’ Anh ta nhanh nhẩu trả lời: ‘‘Dễ quá mà! Tên bác là ” Hữu Tường” nên bác phải “hưởng tù” dài dài!’’. Hồ Hữu Tường cười buồn: ‘‘Có thể thằng nầy nói đúng!’’.

Ta đã nghe thơ họ Vũ thì nay sẽ xem văn họ Hồ, để biết nhân sinh quan của ông.

– Nhận định của Hồ Hữu Tường về chủ nghĩa cộng sản :

“Tôi bước vào mê ly đồ của chủ nghĩa Mác-Lê đầu tháng 6 năm 1930. Tôi bước chân ra ngoài cái mê ly đồ ấy vào đầu tháng 6 năm 1939. […] Trong 9 năm này, những bài luận của tôi viết thảy đều lập trên nền tảng của duy vật luận biện chứng pháp. Từ tháng 6 năm 1939 đến tháng 6 năm 1945, ngoài những bức thơ ngắn cho gia đình, tôi không có viết gì khác. Đến Hà Nội vào đầu tháng 6 năm 1945, tôi đã sắp dàn bài cho quyển Xã hội học nhập môn mà tôi viết xong khi khởi đầu tháng 11. Từ hai mươi năm nay, tôi chưa trước tác được tài liệu nào vững chắc và khoa học để đả kích chủ nghĩa của Marx, hơn tập sách nhỏ này. Cả phương pháp biện chứng và duy vật sử quan đều bị “lật vích”, nền tảng triết lý và cơ sở xã hội học của Marx đều bị lật ngược, thế mà kiểm duyệt Việt Minh đọc không hiểu nên chẳng bôi chữ nào. Từ ấy, phương pháp biện luận của tôi không còn là biện chứng pháp nữa. Trong năm năm nằm ở Côn Đảo, trong những ngày tàn của chế độ thực dân, tôi đã suy tư tìm thấy và thường nói với Nguyễn An Ninh rằng duy vật luận của Marx hóa ra siêu hình, chánh là do Marx đội cho nó cái lốt của biện chứng pháp […]. Năm năm tù dưới chế độ thực dân đã giúp cho tôi “cai” biện chứng pháp, cũng như người nghiện cai thuốc phiện. Và, rời bỏ tư duy siêu hình của biện chứng pháp, tôi trở về với tư thái khoa học […] Khoa học, bao giờ cũng cho phép ngoại suy để mở rộng phạm vi hữu hiệu của mình. Nhưng bao giờ những cuộc ngoại suy nầy phải phê phán cho chặt chẽ, kẻo bị lầm. Nói theo một danh từ mới xuất hiện, mà đã tràn lan khắp nơi, là cần phải “xét lại”. Thế mà, biện chứng pháp, tin tưởng như là một giáo điều, không cho tín đồ của chủ nghĩa Marx “xét lại”.” (Luận lâm I , Huệ Minh xuất bản năm 1965, tại Sài Gòn).

– Nhận thức luận của Hồ Hữu Tường :

– ‘‘Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thật to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép. Thực đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin,… để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu về cho dân tộc ta, dân tộc Việt’’ (Tương lai Văn hóa Việt Nam, in lần thứ ba, Huệ Minh, Sài Gòn, 1965).

– ‘‘Văn, trong nghĩa cầu nguyên của nó, là đẹp đẽ, là hiền lành, trái với võ, là hung bạo. Hóa, trong nghĩa cầu nguyên của nó là thay đổi. Hai chữ đó mà ghép lại, thì tôi cho rằng đó là cái gì làm cho người ngày càng cao quý hơn, đẹp đẽ hơn, làm cho người (hạ tiện, xấu xa) hóa ra Người (cao quý, đẹp đẽ)’’.

– ‘‘Tôi vẫn muốn rèn, luyện, uốn, nắn, hun đúc tôi, cho tôi ngày nay đẹp đẽ hơn ngày hôm qua, cho tôi ngày mai càng đẹp hơn tôi ngày nay, để rồi bây giờ tôi là “người” dần dần theo đuổi Người’’ (sđd, trang 18)

– ‘‘Sứ mạng của bạn là sứ mạng sáng tác.’’ (trang48)

– ‘‘Lương tri sẽ là sản phẩm của người. Nó có nguồn gốc ở người. Nó là một vật nhân bản.’’ (trang 56)

– Phương pháp kể chuyện của Hồ Hữu Tường :

‘‘Đọc tiểu thuyết hay của các nước, tôi rất hiểu tiểu thuyết xây dựng thế nào, nhưng tôi không chịu viết tiểu thuyết, mà chỉ bám vào lối văn “kể chuyện”.

– ‘‘Tôi chỉ muốn “kể chuyện” cho hoang đường, cho hóm hỉnh, cho trào phúng, cho quê mùa, như những giáo sư văn chương của tôi mà thôi. Con nhà trâm anh thế phiệt, ông, bác, cha, anh, thảy đều khoa hoạn, thì viết văn điêu luyện như Nguyễn Du, việc ấy hợp lý, hợp tình. Con nhà nông như tôi, mà viết văn nông dân, việc ấy cũng hợp lý, hợp tình nữa.
Con vua thì đặng làm vua

Con sãi ở chùa thì quét lá đa

có cái văn tâm như thế, nên trong chín năm theo chủ nghĩa Mác-Lê, giáo điều của chủ nghĩa nầy dạy phải viết theo đường lối ‘‘tả chân xã hội’’ (réalisme socialiste), thà tôi nhịn viết văn, chớ tôi không chịu phản lại giai cấp tôi. […] Cái văn tâm như thế đem những văn tứ ‘‘cổ điển’’ lại, chuyện ‘‘ma’’, chuyện thần tiên, chuyện hoang đường, chuyện tiếu lâm châm biếm … ‘‘cổ điển’’ là cổ điển của thứ văn chương nông dân ta vào thế hệ của tôi.” (trích bài Tựa cuốn Kể chuyện, nxb Huệ Minh, Sài Gòn, 1965)

– Ngục tù : Văn hào Hồ Hữu Tường thọ 70 thì đã có đến 15 năm tù đầy : từ 1940-1944 : tù thực dân Pháp, từ 1955 đến 1964 : tù quốc gia vì tham gia Mặt Trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia, từ 1978 đến 1980 : tù cộng sản là khắc nghiệt nhất. Ngày 26/06/1980, chiếc xe chở ông từ nhà tù về đến trước cửa nhà thì ông tắt thở.


Thủ bút của Hồ Hữu Tường

Trong số các tác phẩm của Hồ Hữu Tường, Phi Lạc Sang Tầu cảnh báo về đại họa cộng sản bắc phương, qua nhân vật thằng mỏ làng Phù Ninh. Họ Hồ viết như sau : ‘‘Ba đời liên tiếp, s­ư tổ của tôi là Bạch Hạc, sư phụ là Hoàng Hạc và tôi, đã dày công nghiên cứu sấm ký, nhất là sấm của Khổng Minh Gia Cát Lượng. Nhờ vậy mà chúng tôi biết rằng chúng ta sắp đến một thời loạn to tát, chưa từng thấy trong lịch sử  Trung Hoa. Mà muốn cứu vãn tình thế, phải cần có Thánh Nhân, người xuất tại phương Nam, nghĩa là ở Việt Nam.’’

Còn trong truyện ‘‘Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp’’, Hồ Hữu Tường đã dùng con chuột nói lên cái Bi Trí Dũng, theo ý ông là chủ tể của luân lý : ‘‘Từ ấy, hỏi đứa trẻ nào, nó cũng biết “tí là con chuột”. Nhưng từ ấy nhẫn nay, loạn lạc vẫn kéo dài hoài; bởi loài người chưa giác ngộ, cứ lầm tưởng chuột ấy là thứ “chuột tham, sân, si” kia. Chừng nào, đứng đầu cho cuộc vận hành của vũ trụ là con Long Thử, con chuột học được, và hành được theo Bi, Trí, Dũng thì may ra, nguồn Thanh Bình mới khai được.’’

Nếu thơ của Vũ Hoàng Chương có gà và lợn, văn Hồ Hữu Tường có chuột và mèo. Ông viết như sau: ‘‘Có Bi mà không Trí, là vô bổ. Có Bi và Trí mà thiếu Dũng, là vô hiệu. Bi, Trí, Dũng là ba cái chân vạc, thiếu một chân ấy là vạc nghiêng đổ đi.’’

Đoạn văn này dường như là để nhắn nhủ Văn Tiến Dũng, tác giả cuốn ‘‘Đại Thắng Mùa Xuân’’. Trong sách Luận Ngữ (論語) viết rằng: ‘‘Trí giả bất hoặc, nhân giả bất ưu, dũng giả bất cụ’’ (知者不惑, 仁者不憂, 勇者不懼 (Tử Hãn 子罕) : Người trí không mê hoặc, người nhân không lo, người dũng không sợ.

‘‘Người có dũng không sợ’’. Vậy cớ sao tên là Dũng mà ông lại sợ Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường vốn không có một tấc sắt trong tay, đầy ải họ đến chết ?

Lê Đình Thông
Nguồn:  http://lediemchihue.com/

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà

posted Apr 24, 2019, 4:41 AM by Le Phan

Trích từ tập Văn Hóa Tuổi Trẻ Online

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà

23/04/2019 14:49 GMT+7

TTO - 'Tôi cần một không gian với chiều kích thật để đưa nghệ thuật của mình về đặt giữa quê nhà'. Ước mơ của danh họa Lê Bá Đảng (1939-2015) đã thành hiện thực, khi 'Không gian ký ức Lê Bá Đảng' vừa được khánh thành tại một khu đồi núi ngoại ô Huế.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 1.

Không gian ký ức Lê Bá Đảng nhìn từ trên cao - Ảnh: HỒ VIẾT VINH

Không gian ký ức Lê Bá Đảng (Lebadang memory space) đã được khai trương vào chiều tối 21-4 với sự có mặt của giới hoạt động văn hóa nghệ thuật Việt Nam và quốc tế.

Một bức tranh phong cảnh hoành tráng

Một không gian rộng dài, có núi đồi nhấp nhô, có suối nước róc rách, một bên là rừng cây xanh thẳm, một bên là đồng lúa chín vàng. Ngôi làng Kim Sơn (xã Thủy Bằng, Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế) với những mái nhà hiền hòa lẫn trong rừng cây, gợi nhớ đến làng Bích La Đông của ông ở huyện Triệu Phong - Quảng Trị.

Người thiết kế không gian này là KTS Hồ Viết Vinh, một người Huế đang nghiên cứu và giảng dạy kiến trúc ở TPHCM. Ông Vinh cho biết toàn bộ không gian với núi đồi, rừng cây, suối, nước, đất đá... này là một tác phẩm mang tên "Không gian ký ức Lê Bá Đảng".

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 2.

Một góc Không gian ký ức Lê Bá Đảng - Ảnh: MINH TỰ

Không gian đó lấy dòng suối làm yếu tố minh đường, lấy núi Kim Sơn làm tiền án, lấy đồi Thiên An làm hậu chẩm.

Trong không gian rộng lớn đó có sáu không gian nhỏ như là sáu khu chức năng. Không gian chính là khu nhà tôn vinh nghệ thuật Lê Bá Đảng, nơi trưng bày các tác phẩm nghệ thuật hội họa, đồ họa, điêu khắc, với đủ loại chất liệu, phương pháp tạo hình, đã làm nên tên tuổi Lê Bá Đảng - bậc thầy của hai thế giới Đông - Tây.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 3.

Không gian trưng bày tác phẩm nghệ thuật Lê Bá Đảng - Ảnh: MINH TỰ

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 4.

Bên trong khu trưng bày tác phẩm Lê Bá Đảng - Ảnh: MINH TỰ

Trên mái của ngôi nhà này là Vườn địa đàng, nơi sắp đặt những tác phẩm của ông tạo thành một tác phẩm, theo chiều ngắm từ trời cao nhìn xuống. Cũng từ đây nhìn xuống toàn bộ quang cảnh chung quanh sẽ thấy một bức tranh kết hợp giữa thiên nhiên sẵn bày và sự sắp đặt của bàn tay con người.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 5.

Một phần của bức tranh được nhìn từ trên cao xuống - Ảnh: HỒ VIẾT VINH

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 6.

Nơi đây còn là không gian cho những chương trình hòa nhạc lớn. Trong ảnh là chương trình hòa nhạc khai trương không gian. - Ảnh: MINH TỰ

Một đường hầm dài dài 50m đi dưới sườn đồi là nơi trưng bày nghệ thuật ánh sáng của Lê Bá Đảng. Phía trên đường hầm là không gian biểu diễn. Và các khu vực dành cho du khách nghỉ ngơi, ẩm thực, hàng lưu niệm...

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 7.

Đường hầm đi dưới sườn đồi là nơi trưng bày nghệ thuật ánh sáng của Lê Bá Đảng. Ảnh: PHAN THÀNH

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 8.

Bên trong đường hầm - Ảnh: MINH TỰ

"Phải nhìn từ trên cao xuống mới thấy được không gian Lê Bá Đảng - một cái nhìn rất độc đáo đã tạo nên một phong cách tạo hình riêng của ông ở nước Pháp và trên thế giới" - KTS Hồ Viết Vinh nói.

Giấc mơ thành hiện thực

"Từ rất lâu, Lê Bá Đảng đã từng mơ về tác phẩm Không gian với chiều kích thật. Và giấc mơ đó đã thành hiện thực. Một không gian rộng mở đến vô biên và khép kín đến sâu thẳm". Đó là lời chia sẻ của bà Lê Cẩm Tế, chủ đầu tư dự án nghệ thuật này và cũng là người đồng hành với họa sĩ đi tìm nơi để thực hiện giấc mơ đó ở quê nhà, từ hơn 20 năm trước.

Tôi chưa bao giờ rời bỏ quê hương. Dù cho trên thực tế tôi sống xa quê, nhưng tâm hồn tôi vẫn luôn gắn bó với quê nhà. Và trong lao động nghệ thuật, tất cả những gì tôi làm chỉ là phản ánh tình yêu vô cùng đa dạng đó.

Họa sĩ Lê Bá Đảng

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 10.

Bà Tế cho biết sau chừng đó năm đồng hành với cuộc trở về quê nhà của họa sĩ Lê Bá Đảng, bà tin chắc không gian này thật sự là nơi ông mong muốn, dù ông đã không thể sống cho đến ngày tác phẩm lớn này ra đời.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 11.

Không gian ký ức Lê Bá Đảng lung linh trong đêm - Ảnh: MINH TỰ

Bà Myshu Lebadang, phu nhân của họa sĩ, dù tuổi đã quá cao vẫn cố gắng bay từ Paris đến Huế để có mặt tại buổi lễ khai trương Không gian ký ức Lê Bá Đảng. "Đây là đỉnh cao của giấc mơ Lê Bá Đảng" - bà Myshu xúc động nói.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 12.

Phu nhân của họa sĩ (cụ bà ngồi giữa) cũng có mặt tại lễ khai trương. - Ảnh: MINH TỰ

Bà Lê Cẩm Tế cho biết sau khi xem xong toàn bộ không gian, bà Myshu đã quyết định đưa thêm tác phẩm của Lê Bá Dảng từ Pháp về đây.

Cùng có mặt tại buổi lễ này, những nhà sưu tập nghệ thuật Lê Bá Đảng từ London (Anh), Los Angeles (Mỹ) cũng quyết định tặng một số tác phẩm và hiện vật của họa sĩ cho không gian này.

Hoạ sĩ Lê Bá Đảng sinh tại Quảng Trị, sang Pháp năm 1939 theo đoàn "lính thợ", học tại Học viện Nghệ thuật Toulouse và trở thành một hoạ sĩ nổi tiếng ở châu Âu.

Trung tâm tiểu sử quốc tế của Đại học Cambridge (Anh) đưa vào danh mục những người có tên tuổi của thế giới, nhà nước Pháp tặng huân chương Văn hóa nghệ thuật Pháp. Được giới nghệ thuật đánh giá là bậc thầy của hai thế giới Đông - Tây. Ông qua đời năm 2015 tại Paris, thọ 94 tuổi.

NHỮNG NÉT VĂN HÓA BÁCH VIỆT TRONG MỘ NAM VIỆT VƯƠNG, QUẢNG CHÂU.

posted Nov 22, 2018, 6:32 AM by Le Phan

 NHỮNG NÉT VĂN HÓA BÁCH VIỆT

TRONG MỘ NAM VIỆT VƯƠNG, QUẢNG

CHÂU,TRUNG QUỐC.

Nguyễn Xuân Quang

Tàc giả đứng trước tượng Triệu Đà (Zhao Tou) trong Bảo Tàng Viện Quảng Châu, Nam Trung Hoa.

(ảnh Michelle Mai Nguyễn).

Vào năm 214 Trước Tây Lịch (BC), Tần Thủy Hoàng xua quân chiếm Lĩnh Nam và lập ra ba quận: Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Nam Hải là thành Phiên Ngung (Panyu), nay là tỉnh Quảng Châu. Khi nhà Tần suy tàn, Triệu Đà, vị tướng nhà Tần tại địa phương, thống nhất ba quận lại lập nên nước Nam Việt và xưng là Vũ Đế (137 BC-122 BC). Cung điện của Nam Việt là thành Phiên Ngung ở ngay trung tâm tỉnh Quảng Châu ngày nay.

Vương quốc Nam Việt Vương gồm có 5 triều vua kéo dài 93 năm (137 TTL-122 TTL).

Điểm cần lưu ý, vương phả cho thấy Triệu Đà truyền ngôi cho cháu là Triệu Mạc (Mo) chứ không phải cho con là Trọng Thủy. Điểm này cho thấy truyền thuyết nói rằng Trọng Thủy tự tử theo Mỵ Châu có thể là có thật.

Vương quốc Nam Việt còn để lại nhiều di chỉ khảo cổ học tại Lĩnh Nam, Quảng Châu như Cung Điện của Vương quốc Nam Việt, Lăng Mộ Nam Việt Vương và Thủy Môn Bằng Gỗ (Wooden Watergate) của Vương quốc Nam Việt. Thủy Môn này là hệ thồng thoát dẫn nước của thành phố Quảng Châu cách đây 2.000 năm để phòng ngừa lụt lội.

Lăng Mộ Của Triệu Mo

Bài viết này có chủ đích chính là viết về những dấu tích văn hóa Bách Việt còn tìm thấy trong mộ của Triệu Mo qua các chứng tích cổ vật trưng bầy trong Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương.

Người nước Nam Việt vốn gốc Bách Việt trong đó có Lạc Việt Tráng dù bị người Hoa cai trị nhưng dĩ nhiên vẫn còn giữ lại cội gốc văn hóa Bách Việt, Người Mặt Trời Thái Dương, có cốt lõi văn hóa lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng. Văn hóa Bách Việt dĩ nhiên còn thấy ở Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương ở Quảng Châu.

Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương mở cửa năm 1988, xây ngay tại khu lăng mộ Triệu Mô, cháu của Triệu Đà, đời vua thứ nhì của Vương Triều Nam Việt. Bảo Tàng Viện có chứa 11.465 cổ vật khai quật được. Trong mộ còn tìm thấy xương của 15 người hiến sinh chôn theo vua.

Khu lăng mộ của Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 Ngay cổng chính Bảo Tàng Viện, trên cao nhất có hình mặt trời. Đây là biểu tượng của Bách Việt, Người Mặt Trời. Hiển nhiên Nam Việt là một thành phần của Bách Việt. Không một viện bảo tàng nào khác của Trung Quốc có để mặt trời tại ngay cổng chính.

 Hình mặt trời đứng trên cao nhất của mặt tiền Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương, Quảng Châu.

Lưu ý mặt trời ở đây có nọc tia sáng là mặt trời nọc Việt thái dương. Có hai loại nọc tia sáng cho thấy mặt trời nọc tia sáng này có khuôn mặt lưỡng hợp nòng nọc, âm dương của nhánh mặt trời nọc thái dương. Cả hai loại nọc tia sáng đều có đầu bằng (không nhọn) cho biết thuộc ngành nọc âm thái dương mặt trời êm dịu.

Nọc tia sáng dài biểu tượng cho phía dương còn nọc tia sáng ngắn hình tam giác ngược biểu tượng cho phía âm.

Mặt trời này cho biết Nam Việt có con dân hay bị ảnh hưởng của văn hóa ngành nọc âm Thần Nông thái dương của Bách Việt. Nói một cách khác là thuộc phía Tầy Thái ngành Lạc Việt  Lạc Long Quân Chấn thái dương.

Trên một bức tường mặt ngoài Bảo Tàng Viện cũng có một kiến trúc mô phỏng lại hình con thuyền trên một thạp đồng tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương Triệu Mo tức Văn Đế cháu của Triệu Đà.

 Một kiến trúc trên một bức tường mặt ngoài Bảo Tàng Viện mô phỏng lại hình con thuyền trên một thạp đồng tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương Triệu Mo tức Văn Đế cháu của Triệu Đà.

 

Hình vẽ chi tiết một chiêc thuyền trên một chiếc thạp đồng loại Đông Sơn tìm thấy trong lăng mộ Nam Việt Vương (Treasures From the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

Những thuyền này là những thuyền phán xét linh hồn giống như các thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Tuy nhiên cách diễn đạt đã thể điệu hóa nhiều và có nhiều điểm bình dân học vụ hơn như ở thân thuyền bên trái có khắc hình bốn chiếc trống đồng loại trống tượng Nước hình nồi úp Nguyễn Xuân Quang IV hay Heger IV là trống biểu của tộc mặt trời Nước Chấn thái dương ứng với Lạc Long Quân cho biết thuyền này thuộc tộc mặt trời Nước Chấn (sẽ có một bài viết về những con thuyền trên thạp này).

 

 

Chiếc thạp loại Đông Sơn tìm thấy trong lăng mộ Triệu Mô, Văn Đế (137-122 BC) (ảnh của tác giả).

Chiếc thạp loại Đông Sơn này cùng loại với các thạp đồng Đông Sơn tìm thấy ở Việt Nam như thạp Đào Thịnh, Hợp Minh… Các thạp đồng thường dùng làm vật cải táng chôn các phần quan trọng của con người như đầu hay tro than sau khi hỏa táng hay dùng làm vật tùy táng, hộ mệnh cho các linh hồn về cõi hằng cửu hay được tái sinh, vì thế trên mặt thạp thường diễn tả cảnh liên hệ với Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Chiếc thạp này có các hoa văn loại của đại tộc Đông Sơn và các hình thuyền phán xét linh hồn mang nét đặc thù của văn hóa lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Chim-Rắn, Tiên Rồng, nguyên lý căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Việt Dịch nòng nọc, cốt lõi của văn hóa Bách Việt. Điểm này cho thấy văn hóa Hoa Hán của Nam Việt đã bị Việt hóa. Văn hóa Hoa Hạ, Tần, Hán của dân du mục, võ biền không có văn hóa thuyền phán xét linh hồn.

Vương biểu chính của Triệu Mo là một mặt ngọc thạch hình Rồng-Phượng tìm thấy đặt ở mắt phải của ông ta.

 Mặt ngọc thạch hình Rồng-Phượng, Vương biểu chính của Triệu Mo (ảnh của tác giả).

 Mặt ngọc này được các nhà khảo cổ học Trung Quốc chọn làm biểu hiệu (logo) cho Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương này.

Mặt ngọc gồm có hai vòng tròn đồng tâm tức hai nòng, thái âm nước. Vòng trong có hình gọi là rồng. Vành ngoài có hình chim gọi là phượng đứng trên một chân rồng. Phần còn lại là hình thái sóng cuộn to, tròn đầu nước và hình sóng cuộn lửa nhỏ, nhọn đầu. Ta thấy rõ chim-rắn (rồng) là lưỡng hợp nước lửa Tiên Rồng đi đôi với các hình sóng cuộn mây nước- lửa chớp cũng là dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.

Ở đuôi rồng có hình đĩa tròn trong có hình móc nước. Theo duy dương đĩa tròn này là mặt trời nước, còn theo duy âm là mặt trăng hay không gian âm nước.

Đĩa tròn này cũng cho thấy Triệu Việt Vương nghiêng về nhánh mặt trời Nước ngành Thần Nông-Lạc Long Quân.

Lưu ý con rồng ở đây rất lớn là chủ thể ở tâm điểm của vương biểu trong khi chim phượng nằm vòng ngoài nhỏ con hơn. Điểm này cho thấy văn hóa Nam Việt nghiêng về nước Rồng mang tính chủ tức bị ảnh hưởng của Lạc Việt. Điểm này cũng thấy rõ là vành ngoài của vương hiệu có những hình mây cuộn lớn, cường điệu cho thấy ngành nước thái dương mang tính chủ.  Mây nước là chủ thể trang trí của Nam Việt thấy khắp nới như:

  

Hìh mây nước trên vách lăng mộ Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 

Hình mây nước trên chiếc áo quan bọc ngoài bằng sơn mài của Triệu Mo (ảnh của tác giả).

Hình mây nước  trên tấm bình phong sơn mài (Treasures From the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

 Con rồng ở đây cũng có sừng hình móc nước sóng cuộn là con rồng nước thuộc loại rồng Lạc Long Quân. Ta cũng thấy con rồng còn mang hình bóng của con giao long có cốt cá sấu Việt như không có hai sửng mang gạc hai mấu nhọn, lưỡi không lè ra (lưỡi cá sấu dính sát vào hàm dưới). Rồng giao Việt cá sấu Việt thấy rõ hơn qua cái ấn vàng của Triệu Mô.

 Ấn vàng hình rồng giao long của Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 Chi tiết rồng giao long trên ấn vàng (Treasures from the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

Ta thấy rất rõ con rồng này mang hình dạng cá sấu mõm to, hai tai to như hai sừng mang âm tính, có vẩy cá sấu, chân ba móng. Đuôi cuộn hình móc nước’. Đây là rồng nước giao long của Giao Việt khác hẳn với rồng long Trung Hoa.

Chiếc ấn vàng mang tên Triệu Mô, Văn Đế tìm thấy trong lăng mộ là một bằng chứng xác thực lăng mộ này là của Nam Việt Vương.

Con chim gọi là chim phượng ở đây cũng mang hình bóng chim tổ của Đại Tộc Việt là con chim Rìu, chim Việt mỏ cắt.

Chim phượng còn mang hình ảnh con chim Rìu, chim Việt mỏ Cắt.

 Chim phượng trong vương biểu Rồng-Phượng của Triệu Mo có mỏ rất lớn như mỏ rìu và có mũ sừng, đây chính là con chim mỏ Rìu, chim Việt mỏ Cắt vật tổ của ngành mặt trời thái dương Viêm Đế.

Xác của Triệu Mo được cho mặc một chiếc áo liệm bằng ngọc thạch gồm 2.291 thẻ ngọc ráp lại, cột bằng sợi tơ lụa.

 Xác Triệu Mo được liệm bằng chiếc áo bằng ngọc thạch ráp lại (ảnh của tác giả).

Theo quan niệm xưa các vua chúa được liệm trong áo ngọc thạch vì tin là ngọc thạch giữ cho xác không bị luỗng thối.

Trong mười bộ áo liệm bằng ngọc thạch tìm thấy ở Trung Quốc, bộ áo này là bộ áo lâu đời nhất được kết bằng sợi tơ lụa. Điều này cho thấy tơ tằm có rất sớm trong văn hóa Bách Việt.

Hiển nhiên văn hóa Lạc Việt mặt trời nước còn thấy rõ trong văn hóa Nam Việt. Lịch sử của người Tráng Zhuang  cũng đã ghi lại là nước Nam Việt  được người Tráng Zhuang hỗ trợ cho tới khi Nam Việt suy tàn vào năm 111 Trước Tây Lịch ( Lạc Việt Tráng Zhuang).

Một Vài Cổ Vật Việt Khác

Ngoài ra trong mộ còn tìm thấy nhiều chứng vật liên hệ với văn hóa Bách Việt như:

.Người dũng sĩ Việt được dùng làm chân đỡ tấm bình phong:

Dũng sĩ Việt dùng làm chân đỡ bình phong (ảnh của tác giả).

Người dũng sĩ Việt tay cầm đầu rắn và miệng ngậm rắn. Các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng dùng rắn là mục đích để xua đuổi đi tà ma, điều xấu. Thật ra rắn là vật tổ của ngành nước Thần Nông-Lạc Long Quân-Lạc Việt có ý nghĩa bao gồm trọn vẹn tất cả ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo hiển nhiên trong đó có ý nghĩa duy tục là che chở, bảo mệnh.

.Nồi ba chân bằng sắt kiểu đặc thù Việt.

Ngoài nhiều dụng cụ bằng đồng, đặc biệt nhất là chiếc nồi ba chân bằng sắt kiểu đặc thù Việt.

Nồi sắt kiểu đặc thù Việt ba chân (Treasures from the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

 Chiếc nồi sắt kiểu đặc thù Việt là mẫu vật bằng sắt lớn nhất tìm thấy ở vùng Lĩnh Nam này cộng chung với 190 dụng cụ bằng sắt tìm thấy trong lăng mộ cho thấy Nam Việt đã có một kỹ thuật cao trong việc tôi luyện đúc đồ sắt.

Trong lăng mộ không tìm thấy trống đồng mà chỉ có thạp đồng Đông Sơn vì thạp đồng như đã nói ở trên liên hệ với mai táng trong Vũ Trụ giáo. Tuy nhiên ở những nơi khác ở Quảng Châu dĩ nhiên cũng tìm thấy trống đồng. Đặc biệt nhất là tìm thấy một chiếc trống bằng gốm làm theo kiểu trống đồng.

Trống gốm có niên đại đời Tây Hán làm theo kiểu trống đồng tìm thấy ở Nongliaxia, năm 1986 hiện để tại Bảo Tàng Viện Quảng Châu (ảnh của tác giả).

Trống đồng bằng gốm này cũng giống trống đồng bằng đất sét là chứng tích hùng hồn cho thấy trống đồng không phải làm ra với chủ đích dùng làm bộ gõ trong âm nhạc mà là trống mang ý nghĩa biểu tượng tín ngưỡng.

Vân vân…

Tóm lại những chứng tích khảo cổ học tìm thấy ở lăng mộ Triệu Mo Văn Đế cháu của Triệu Đà Vũ Đế cho thấy Nam Việt vẫn còn giữ nguyên cốt lõi của Bách Việt và văn hóa Tần Hán đã bị Việt hóa. Triệu Mô nghiêng về ngành nòng âm thái dương Thần Nông Lạc Long Quân của Bách Việt, Người Mặt Trời.

Sự vắng bóng của con Triệu Đà qua sự kiện Triệu Đà truyền ngôi cho cháu Triệu Mo cho thấy con trai Triệu Đà là Trọng Thủy đã mất vì thế truyền thuyết cho rằng TrọngThủy tự tử chết theo Mỵ Châu có thể là có thật.

 

 

Lễ khánh thành nhà máy đúc tiền ở Canada. Ông Trương Công Hiếu một người Việt giỏi làm rạng danh đất nước.

posted May 8, 2018, 5:28 AM by Le Phan

Lễ khánh thành nhà máy đúc tiền ở Canada.
Ông Trương Công Hiếu, 
một người Việt giỏi làm rạng danh đất nước.

Tiến Sĩ TRƯƠNG CÔNG HIẾU
Tiến Sĩ Trương Công Hiếu nguyên là cựu học sinh trường Jean-Jacques Rousseau ở Saigon, sau khi đậu Tú Tài II Ban Toán năm1959, Ông được học bổng sang Hoa Kỳ để theo học ngành kỹ thuật tại trường Đại Học New York. Ông là sinh viên đậu Thủ Khoa khi lấy bằng kỹ sư và theo học lấy bằng Master về Kỹ Sư Hóa Học của trường Đại Học New York. Năm 1964 Ông trở về Việt Nam đi dạy ở trường Cao Đẳng Hóa Học và trường Cán Sự Hóa Học ở Phú Thọ và được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng của trường nầy. Sau 3 năm là giáo sư ở trường Hóa Học nói trên Ông trở lại Hoa Kỳ để lấy bằng Tiến Sỉ Kỹ Sư vào năm 1971.


Giáo Sư Trương Công Hiếu và các sinh viên Trường Cao Đẳng Hóa Học Phú Thọ 1-Feb-1966 

Sau 1971 Ông rời Mỹ sang định cư ở Canada đảm trách chức vụ kỹ sư tại nhiều công ty lớn:
1. Ông là Giám Đốc Kỹ Thuật của Công Ty Groupe Victoriaville, Québec, Công Ty sản xuất bàn ghế lớn nhất ở Québec, Canada.
2. Ông làm Giám Đốc Sản Xuất của Công Ty Bombardier. Công Ty Bombardier chuyên sản xuất xe chạy trên tuyết (Snowmobile), 
xe chạy dưới đường hầm (Subway), máy bay Canadair Regional Jet (loại máy bay jet bay đường ngắn).
3. Năm 1978 Ông vào làm việc cho Công Ty Đúc Tiền Kim Loại Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint). Nơi đây ông được giử 
nhiều trọng trách trông coi về phần kỹ thuật đúc tiền kim loại và đến năm 1980 Ông được bổ nhiệm làm Giám Đốc Kỹ Thuật của Công Ty Đúc Tiền Kim Loại Hoàng Gia Canada.
Năm 2006 Ông được đề cử làm Tổng Giám Đốc Kỹ Thuật Ban Khảo Cứu của Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint).

Royal Canadian Mint
Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại, là Tổng Công Ty thuộc sở hữu của chính phủ Canada, được thành lập vào năm 1908 tại Ottawa để sản xuất tiền kim loại cho Canada và tinh chế vàng ròng được vận chuyển từ rất nhiều mỏ vàng ở Quebec, Ontario, Manitoba, phía Bắc Alberta và British Columbia.

Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại chuyên sản xuất tiền xu lưu hành và đồng phôi với cao độ dập tự động cho hơn 80 quốc gia trên thế giới tại cơ sở đúc tiền ở Winnipeg.Những kỹ thuật chuyên sản xuất những loại tiền xu lưu niệm, những loại tiền kim loại quý như vàng, bạc, bạch kim, palladium để đầu tư trên thế giới đều được sản xuất tại cơ sở lịch sử Ottawa.

Năm 2008 Canada tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày thành lập Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại (Royal Canadian Mint) để đánh dấu sự thành công của Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada được nổi danh là một công ty hàng đầu của thế giới về những kỹ thuật và những phát minh hiện đại, những hiểu biết sâu rộng về khoa học và kỹ thuật đúc tiền.

Trong quyển sách: "Lịch Sử 100 Năm của Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại", "ROYAL CANADIAN MINT 100 YEARS OF HISTORY" Tiến Sĩ Trương Công Hiếu đã được ghi nhận là người đầu tiên trên thế giới đã thay đổi hệ thống đúc tiền bằng 
những kỹ thuật dùng kim loại và thép để làm cho đồng tiền mỏng hơn, nhẹ hơn và không bị rỉ sét.

Ngày nay những kỹ thuật hiện đại của Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại do Ông phát minh đã thay đổi tất cả tiền lưu hành hiện tại của nước Canada. Ông là người đầu tiên và duy nhất phát minh kỹ thuật in màu trên tiền kim loại lưu hành giống như in mầu trên giấy bạc bằng cách sử dụng tia laser để đổi màu trên tiền kim loại...


Những phát minh mới về kỹ thuật đúc tiền của Ông hiện nay đã tạo nhiều ảnh hưởng về hình thức và phương cách đúc tiền kim loại trên thế giới như: tinh chế vàng nguyên chất 4 số 9 (.9999) làm tiêu chuẩn quốc tế từ năm 1982, và kỹ thuật lọc vàng 5 số 9 (.99999), kỹ thuật mạ đa lớp trên thép (kỹ thuật nầy đang được xữ dụng trong tiền kim loại của hơn 35 nước trên thế giới).

Ngoài ra Ông cũng là người đã phát minh kỹ thuật sản xuất tiền xu với hình ảnh ba chiều (hologram), và dùng kiến thức DNA trong tiền lưu hành à vàng để bảo mật và định tính xác thực đồng tiền vàng ròng của Canada lưu hành ở bất cứ nơi nào trên thế giới qua hệ thống vệ tinh điện thoại di động (smartphone).

Tiến Sỉ Trương Công Hiếu là người có nhiều phát minh và sáng chế trong ngành kỹ thuật đúc tiền kim loại với hơn 10 bằng sáng chế đã được nhiều nước trên thế giới và Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại ghi nhận là quá xuất sắc.

Hiện nay tiền xu ở các nước như: Canada, Singapore, New Zealand, Barbados, Ghana, Ethiopia, Thailand, Philippines, Venezuela, Panama, Albania, United Arab Emirates… cũng đang dùng những kỹ thuật của Ông. Chính phủ Mỹ cũng đã bình chọn kỹ thuật của Ông để đưa vào áp dụng trong chương trinh tuyển lựa kim loại mới cho ngành tiền tệ của Mỹ, do Thượng và Hạ Nghị Viện Mỹ chấp thuận cho phép chánh phủ Obama thay đổi tiền tệ Mỹ trong tương lai.

Trong quyển sách: "Chuyện Kể Về Các Cuộc Triển Lãm Tiền Xu Quốc Tế", "STORY OF WORLD MONEY FAIR" được xuất
 bản vào năm 2012, tác giả Albert M Beck, Chủ Tịch và Sáng Lập Viên của Hội Chợ Quốc Tế Tiền Tệ Berlin tại Đức đã viết và 
bình luận về Tiến Sĩ Trương Công Hiếu như sau: 

"Trong 40 năm vừa qua người mà có công lao nhiều nhất trong sự tiến bộ về nghành đúc tiền trên thế giới, người đã đóng góp nhiều nhất về những kiến thức mới về nghành đúc tiền trên thế giới chính là Tiến Sỉ Hieu C. Truong của Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại".

Ông M. Beck cũng đưa thêm lời bình luận: "Tôi cho rằng ông Hieu C. Truong là người có công nhiều nhất đối với ngành kỹ thuật đúc tiền kim loại của thế giới. Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại cũng công nhận rằng Tiến Sỉ Trương Công Hiếu là người kỹ sư nổi tiếng nhất trên thế giới và là người hiểu biết nhiều nhất trong kỹ thuật đúc tiền. Theo tôi ai muốn biết kỹ thuật đúc tiền sẽ đi về hướng nào trong tương lai thì nên hỏi ông Hiếu".

Để tiếp tục lưu danh là một Công Ty dẫn đầu thế giới về kỹ thuật đúc tiền và để thành công trong những lảnh vực phát triển các công nghệ mới hầu phục vụ ngành công nghiệp đúc tiền của thế giới và cũng để tôn vinh và ghi nhớ những công trạng của Tiến Sỉ Trương Công Hiếu đối với Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại, Royal Canadian Mint đã cho xây dựng một Trung Tâm Khảo Cứu Xuất Sắc và Hiện Đại với ngân sách 10 triệu đô la tại Winnipeg và đặt tên cho cơ sở khảo cứu về kỹ thuật đúc tiền vừa mới xây dựng nầy là:

TRUNG TÂM KHẢO CỨU XUẤT SẮC Tiến Sĩ TRƯƠNG C. HIẾU 
(Dr. HIEU C. TRUONG CENTER OF EXCELLENCE)
Royal Canadian Mint, Winnipeg, Manitoba, Canada.

Cơ sở khảo cứu nầy đã được khánh thành vào ngày 13 tháng 6 năm 2013 cùng lúc với nhà máy mạ thứ hai được xây dựng với ngân sách 70 triệu đôla. Tất cả những cơ sở nầy là nơi mà những kỹ thuật mới nhất về đúc tiền trong lảnh vực khoa học, trong lảnh vực tự động hóa qua máy vi tính, trong kiến thức mới nhất với điện tín vệ tinh, phát triển phần mềm, khoa học vật liệu trong việc quản lý tiền tệ, trong lảnh vực thông tin liên lạc bằng điện thoại hoán chuyển thói quen của người tiêu dùng ... tất cả những phát minh mới về tiền tệ của Tiến Sỉ Trương Công Hiếu sẽ được đưa vào áp dụng và sẽ được phát triển tại nơi nầy để phục vụ cho các thế hệ trong tương lai.

Trung Tâm Khảo Cứu mới nầy cũng sẽ là nơi được dùng để đào tạo các kỹ sư, các nhà quản lý và các giám đốc của các Nhà Máy Đúc Tiền trên thế giới. Những người đi tu nghiệp sẽ được đưa đến Trung Tâm nầy để học các kỹ thuật căn bản cũng như các kỹ thuật hiện đại về đánh tiền, vì từ trước đến nay kỹ thuật nầy chưa từng được giảng dạy tại một trường đại học nào trên thế giới.
Trung Tâm Khảo Cứu nầy cũng sẽ là nơi hội tụ của các kỹ sư, các nhà khảo cứu trên thế giới tìm đến với nhau để cùng nhau hợp tác khảo cứu về môn đúc tiền.

Ngoài việc phục vụ cho đất nước Canada, Tiến Sĩ Trương Công Hiếu cũng tham gia và ủng hộ các chương trình họat động của Cộng Đồng Việtnam tại Canada. Ông làm có vấn cho các tổ chức: Thể Thao Người Việt Bắc Mỹ lần thứ IX được tổ chức tại Ottawa năm 1981, Ủy Ban Lập Đền Kỹ Niệm của Liên Đoàn Hội Người Việt, bao gồm 11 Hội Người Việt của các địa phương khắp nước Canada, Ủy Ban xây dựng Trung Tâm Văn Lang, ngân sách do chánh phủ Ontario, Canada tài trợ. Trung Tâm Văn Lang là một chung cư gồm 80 căn hộ được xây dựng lên để nâng đở, trợ giúp cho những bô lão người Việt và những hộ gia đình có nguồn lợi tức thấp có được nơi ổn định cho đời sống. Ông cũng cộng tác với Hội Phật Giáo Người Việt xây dựng lên Chùa Từ Ân với kiến trúc thuần túy của một ngôi chùa Việt Nam tại thủ đô Ottawa.

Vidéo YouTube


Vidéo YouTube


Vidéo YouTube


Vidéo YouTube


https://www.cdncoin.com/kb_results.asp?ID=33

Nomination of Dr. Hieu C. TRUONG to the Order of Canada

posted May 8, 2018, 5:12 AM by Le Phan   [ updated May 8, 2018, 5:49 AM ]

A valuable and lasting contribution of Dr. Hieu C. Truong to Canada at the service of all Canadians

It is our honour and our privilege to nominate Dr. Hieu C. Truong as a candidate for consideration by the Governor General of Canada for an Order of Canada award.

REASONS FOR THE NOMINATION

Dr. Hieu C. Truong has made Canada known globally as the leader in the Minting industry because of his innovations, his dedication for excellence in his work, his aspiration, his desire and his zeal to make Canada the recognized leading country in minting technology excellence in the world. Dr. Truong was a Royal Canadian Mint inventor and innovator for more than 36 years, with a reputation at the Mint and in minting technology circles around the globe that has become legendary. His life career at the Royal Canadian Mint had served Canada and all Canadians in our daily life.

In fact, Dr. Truong worked at the Royal Canadian Mint in the last thirty-six years of his long distinguished career spanning over more than forty five years in Canada. He retired two years ago. All the coins that Canadians and other people in a great number of countries have been using and will be using, collecting or investing are the results of his work and his many inventions. To summarize his view and the motivation behind his

WORK AT THE ROYAL CANADIAN MINT: A PASSION FOR THE MINT TO BE THE BEST IN ITS CLASS WITH MANY INNOVATIONS AS “FIRSTS” IN THE WORLD. THIS DEDICATION HAS BEEN BRINGING PRESTIGE TO CANADA AND MAKES THE ROYAL CANADIAN MINT THE RENOWN WORLD LEADER IN MINTING TECHNOLOGY AND THE ENVY OF THE WORLD.

Today, the Royal Canadian Mint is recognized for its mastering knowledge of minting engineering, for the quality of its coins, for the continuous introduction of new concepts. The Royal Canadian Mint is also commended for putting science into  minting, with sharp edge technologies which modernize a secretive, conservative industry which used to be very traditional to a competitive industry open to changes and an industry in which Canada regularly shared its knowledge with the other mints by presenting informative papers at international minting conferences on subjects such as machinery design, new coining materials  for circulation coins, by presenting beautiful and captivating  numismatic coins and revealing how they are made, by promoting changes and knowledge sharing and by setting high quality standards for the coin industry worldwide.

Among the patented innovations, we can mention the brilliant idea of the multi-ply plating technology used to produce the new second generation of plated steel coinage materials. Using this technology invented by Dr. Truong, Canada changed from expensive pure nickel coins and cupro nickel coins to very competitive nickel plated steel coins. Many other countries followed suit by using this Canadian technology and converted their coins and coin blanks to Canadian made nickel plated steel.

Among the “firsts” claimed by Canada and the Royal Canadian Mint, we can mention the four nines and the five nines in gold refining (the world leading Gold Maple Leaf bullion coin), the multi-ply plating technology cited earlier for plated coins (this technology is being used for all circulating coins in Canada, in New Zealand, in Singapore, in Barbados, in Fiji …. ), the circulation coins in color, unique in the world (e.g. the red poppy coin), the DNA-Digital Nondestructive Activation - technology for gold coin authentication as a protective measure against gold coin counterfeiting, the diamond embedded gold coin issued by the Mint to celebrate Her Majesty the Queen Jubilee Year, the PVD die coating technology to replace the use of carcinogenic chromium in die surface hardening and brightening, the coin blank burnishing machine used in all mints in the world today and which was developed by the Royal Canadian Mint in cooperation with a German machinery manufacturer,…

BRIEF SUMMARY ON DR. HIEU C. TRUONG’S PERSONAL INFORMATION

Hieu C. Truong was born on September 23, 1941 in Saigon (Vietnam). He attended Lycée Jean-Jacques Rousseau in Saigon and finished his high school in the top 1 percent of his graduating class in the whole country in 1959. He went to the US for his university education and was the top student in Chemistry of his graduating class in Chemical Engineering at New York University in 1963. He received a Master of Chemical Engineering (1964) and a Ph.D. in Engineering (1971) from New York University.

Hieu C. Truong immigrated to Canada from the US in 1971.

His ideology, his aspiration has always been to see that Canada is recognized to be among the top countries on the world stage. Dr.Truong often quoted President John F. Kennedy who said in his inaugural Presidential speech : “Ask not what your country can do for you, ask what you can do for your country”. This quote has marked Dr. Truong for life and this was his compassion as a Canadian.

PROFESSIONAL ACTIVITIES/OCCUPATIONS

First, Dr. Hieu C. Truong worked for Victoriaville Furniture Group, Victoriaville, QC, one of the largest furniture conglomerate in Quebec which owned four furniture plants in Victoriaville, as a development engineer, then as Director of Engineering, from 1971 to 1975. His responsibilities included the development of processes and products in furniture manufacturing to make the Quebec furniture companies of this conglomeration more competitive in the Canadian and US markets, more efficient, more innovative with a solid reputation for quality, good pricing, and industry leading innovations such as the incorporation and the popularization of solid polyurethane foam moldings as decorative and structural elements. One of the important facets of his work was to introduce scientific foundations, rational engineering principles in furniture making in an industry where knowledge and know-how were passed traditionally from one generation to the next within a family ownership. For example, there was little scientific knowledge within the industry why certain types of glue performed and behaved the way they did. There was no rationale in choosing fasteners (screw and nail types and sizes, clips, types of glues, …) except by experience and common sense. New fasteners designs, new and better glues, and a combination thereof, new structural elements were engineered, developed, explained by Dr. Truong to technologists and engineers who were trained to test, record, review, learn, apply and innovate from what was learned.

Dr. Truong developed and expanded Polyurethane foam and cast polyester technologies. New finishing chemistry were introduced to enrich the look and the style of furniture which became available to the Canadian consumers. The techniques and products developed at Victoriaville Furniture Group filtered and cascaded down to the other furniture companies in Quebec, Ontario and New Brunswick.

Then, Dr. Hieu C. Truong worked at Flakeboard, in St. Stevens, New Brunswick in 1975-1976, as Manager of Engineering and Operations, responsible for the installation of a high speed manufacturing line of decorative particle boards used in residential and institutional wall finishings. There, he installed and started the first automated manufacturing line in Canada of polyester filled, UV cured thin wall flakeboards. These boards were then paper laminated or wood grain printed on the same high speed production line. In the late seventies and early eighties, it was a popular material used in the finishing of family recreation rooms in the basement of Canadian homes.

Dr. Hieu C. Truong joined Les Industries Ville Marie Ltd, a wholly owned subsidiary of Bombardier in the Snowmobile Division, as Director of Production, from 1976 to 1978. He concentrated on snowmobile safety. He worked on the incorporation of engineered padded foam components to absorb shock in the seating and in the directional steering bar in snowmobiles to improve seating comfort in the outdoors very cold environment and to minimize the impact of injuries in the use of those vehicles in sport, in outdoors winter transport activities. He also contributed to the safety of people in mass public transportation: Self extinguishing foam, in case of fire, was introduced as seating material in subway trains manufactured by Bombardier for the City of Montreal.

Then, Dr. Hieu C. Truong joined the Royal Canadian Mint in 1978 until he retired in 2014. This is where he contributed the most as a talented engineer, a prolific inventor, a pioneer in precious metals refining and processing, a resourceful, productive innovator in the field of minting. He has left quite a legacy to Canada because Canada and more than forty countries are enjoying now, and for many years to come, the fruits of his work and his many inventions.

He started at the Mint in 1978, first as Superintendent of Technical Services in charge of machine repairs, die and tooling production, then he became Manager of Engineering for the Ottawa and Hull Mints and the Gold Refinery in Ottawa in 1979, then Director of Engineering at the Royal Canadian Mint which includes all the plants in Ottawa and Winnipeg in 1984, then Director of Corporate Engineering which included the long term technical and engineering development strategy for the Mint. Then, finally, as Executive Director, Advanced Engineering in Research and Development, in 2001, he was responsible for new products and innovations, during which time, Canada introduced many “firsts in the world” in the global minting industry. This made Canada the recognized leader with many innovations which changed the technology of manufacturing coins.

When Dr. Truong joined the Royal Canadian Mint he realized that there will have a lot of work to be done because the Mint was a reclusive government institution which had not looked much outside to compare itself with the other industries for engineering improvements as the world was on its way to an incredibly fast industrial platform powered by modern electronics which were the precursors of today’s computers and laptops. Back then, computers were not used yet in the industry for machinery control. In 1978, most of the machinery and production equipment at the Royal Canadian Mint was purchased in the late nineteen forties and early nineteen fifties just after the War! Breakdown in production machinery was a daily occurrence and knowledge of the staff in minting metallurgy was limited.

Everything looked like a “black box” where employees just followed the work rules and procedures established by the foremen without the fundamental understanding of the reasons why the process procedures were written the way they were and if there was a tooling failure no one knew why and the problems were repeated. 

Work safety and the environment work conditions were potential work hazards which also needed much attention.

Dr. Truong spent years of dedicated work and long hours on the floor with the Production employees to correct the process and the machinery shortcomings, to explain to the technical staff the reasons for the failure of the process or the machine. He worked out the metallurgical solutions to the problems and the unanswered questions in the “black box”. He introduced engineering and science principles to the art of making coins. This art of making coins was very secretive because there were no systematic attempts to introduce modern science to the Mint operations. This was true not only for the Mint in Canada but also for the other Mints in the world. In addition, each national Mint was on its own and the Mints did not seem to open up to other Mints because of perceived national secrecies and national pride.

As the Royal Canadian Mint modernised itself with new equipment, as minting processes were systematically analysed and understood through underlying scientific and engineering principles by Dr. Truong, he trained the staff on the sciences of minting which are, in fact, made up of a combination of metallurgical, chemical, mechanical, material sciences engineering disciplines. Electrical and electronics engineering  knowledge were added to troubleshoot electrical controls in machinery and automation was introduced to take away the boredom of some necessary manufacturing tasks. Robots and robotic controls were introduced in coin manufacturing to improve safety, to increase productivity, to avoid back injuries caused by repetitive and heavy load lifting.

Ten years after he joined the Mint, persistent recurring production problems were under control and the staff was more confident and more capable in resolving machinery and process failure problems. Today, minting is no longer a black box for the staff, failures are no longer repeated and potential process and machinery shut-downs are foreseen and prevented by pre-emptive corrective actions.

 

MAJOR ACCOMPLISHMENTS WITH A FAR REACHING LEGACY

THE FIRST LASTING ACCOMPLISHMENT FOR THE ROYAL CANADIAN MINT: 

THE GOLD MAPLE LEAF COIN, the original development of Dr. Hieu C. Truong

The turnaround from a work culture of “black box” to a modern engineering and technical team confident in solving daily manufacturing challenges in the Mint allows Dr. Truong to spend more time and give more attention to the Gold Refinery operations, namely, refining processes, analytical instrumentation and procedures, work safety, working environment improvements, environmental study and pro-active environment protection.

The Refinery was first established, in 1911, to refine gold from the mines in Canada. Gold ores were processed in the mines, up to a purity of about .800 (80 percent), then shipped to the Royal Canadian Mint in Ottawa for final refining. In the early days, .995 and.999 (three nines) gold were considered as top grades for trading in the precious metals commodity markets.

In the late ninety sixties, South Africa was the giant in the global gold industry and the Krugerrand gold coins produced by the South Africa Mint was the standard and preferred gold coin for gold investment in the world. The Krugerrand coin was made of an alloy of gold and copper with a purity of 91.67 percent gold and 8.33 percent copper. It was not made of pure gold, it was only 22 Karat gold, but it was the undisputed gold coin of the world for investment purposes.

Since Canada was one of the major gold producing country in the world, the Royal Canadian Mint wanted to have a share of the world gold coin market. The Royal Canadian Mint produced, at that time, gold coins in .9995 (three nines five range) purity which was still considered impure in gold quality. Although richer in gold contents, this Canadian gold coin could not compete against the dominant Krugerrand gold coin. To change the situation, Dr. Truong thought of the .9999 (four nines) purity coin which is considered as pure gold (24 Karat) and proposed the idea to the Royal Canadian Mint. Dr Truong set to develop the technology to produce, efficiently and effectively, at low production cost, gold at a purity of .9999 (four nines) in large volume and this gave the Mint of Canada the ability to produce and to introduce .9999 gold coins to the world. The first .9999 Gold Maple Leaf of the Royal Canadian Mint was struck in 1982. Within a short time of two to three years following its introduction to the world market, the Gold Maple Leaf coin became the Number One gold coin seller. Effectively, Canada changed the world gold standard for gold coins to four nines gold.

With time, other countries such as Austria, Australia, UK, USA had to change their gold coins to the four nines gold standard in order to compete against Canada. The Canadian Gold Maple Leaf is sold worldwide today as the preferred coin against the American Gold Eagle coin, the Austrian Gold Philharmonic coin and the Australian Gold Kangaroo coin. The Krugerrand gold coin, which still remains a mainly copper gold alloy coin, is no longer the giant in the world gold investment coin market. Canada’s Gold Maple Leaf coin is the leading coin today.

FIVE NINES GOLD COIN

Many countries became capable of producing four nines purity (.9999, i.e. 100 parts of impurities per million) gold coins and were competing against Canada. It was a challenge to differentiate and to keep Canada ahead of the competition in the investment gold coin leadership positioning. Then, it was believed that if Canada had five nines purity gold coins this would certainly keep Canada ahead of the other countries. (.99999 means 10 parts of metallic inclusions per million parts of gold. At this level, the other 10 parts of  metals remaining in the gold are more precious and more expensive than gold itself).

Facing this highly technical endeavours and this big challenge with a targeted timetable date the Royal Canadian Mint concurrently worked on the challenge and independently consulted with outside gold specialists, with expertise in gold extractive metallurgy, while Dr. Truong and his team developed the Mint’s own technology to purify gold to five nines. At the end, the Mint’s own technology was chosen as the technology to be used by the Mint to reach its set objective because of its simplicity and its lower production costs. In 1998, the Royal Canadian Mint issued its first five nines gold coin. To this date, the Royal Canadian Mint remains the sole Mint in the world capable of producing five nines purity gold in large quantities and the Mint is selling five nines purity gold, on the world market as numismatic coins, investment coins and for special uses.

In 2007, the Royal Canadian Mint produced and sold the world’s first 100 kg, one million dollar face value, pure, five-nines (.99999) gold coin according to the Guiness Book of World Records.

 

CONTROL OF AIR QUALITY AND WORK ENVIRONMENT

Back in 1983, the Mint was already working on environment assessment, clean air, controls for a clean environment for a manufacturing facility and waste water treatment with remedial actions, at a time when clean air, environmental impacts were barely mentioned by any government agencies or pro-active civic groups. Dr. Truong developed and replaced traditional outdated gold refining techniques used in the Mint for more than seventy years from the time the Mint Refinery opened back in 1911 with new gold refining techniques and modern equipment. He changed the work environment from a blinding smoke filled environment with high heat and a thundering noise of 90+ decibel level caused by high air velocity expansion oil furnaces to a clean air, quiet environment, low heat and efficient energy processing operations for the health benefits of hard working gold refiners by introducing induction current furnaces and by changing the refining procedures.

The quality of the air emitted from the Gold Refinery was a big irritant for people living around the Mint Gold Refinery within a radius of five kilometers. The stench of industrial gases used in the gold refining process and released in the air was intolerable and there were complaints coming from different neighbourhoods depending on the wind directiọn. Dr. Truong realized that changes must be made soon.

Dr. Truong led his team of engineers to challenge the old traditional practice of gold refining which was zealously protected by the gold refiners who were taught these techniques since the opening of the Refinery in 1911. His team developed successfully new technologies which were implemented with the benefit of reducing refining costs, protecting the staff’s health and well being by eliminating noxious gases, excessive heat, thundering noise and unpleasant smell. With many changes implemented by Dr. Truong and his team to meet or exceed governmental guidelines, with environmental controls constantly under review and monitoring, the Gold Refinery was transformed to a modern efficient refining facility meeting the requirements of the toughest pollution laws and the expectations of the Environmental authorities in Canada for a Crown Corporation.

INTRODUCTION OF THE DOLLAR COIN

When the Government of Canada decided to replace the one-dollar bill with a coin, as Director of Engineering at the Mint, it was the responsibility of Dr. Truong to ensure that the introduction of the coin was made seamlessly. Mint Management decided that the color of the dollar coin shall be yellow to help the public distinguish it from the existing white coins, and the rest was up to Mint Engineering to propose to Mint Management the correct coin configuration so that the major coin processors and the vending industry are happy with this major historical coinage change. It was also of critical importance that the new coin configuration will not upset the public who would prefer to continue to use banknotes.

Dr. Truong conducted consultations with the Canadian Blind Association, the Vending Machine Associations, the heavy coin users such as the transit authorities, the road toll authorities at the time,…in order to incorporate their needs into the configuration of the new dollar coin which must include security features to distinguish it from the American dollar coin and other coins in the world of almost the same size and color.

The dollar coin, as we know today, was an integration of all the wishes of all the interested parties with many security features on the coin surface and in the metal contents itself. The coin was engineered by Dr. Truong to be made with a secure metal, to be eleven-sided with rounded corners and slightly rounded sides; it was designed to be of a convenient size not to be confused with the 25 cent coin and to be accepted by the commercial coin acceptors. The dollar coin configuration was designed for the public, for the sight impaired people to recognize the coin by the touch and not by seeing the coin, for the Canadian vending machine industry which includes the telephone companies, the toll machines and the municipal parking meters across the country, and for other requirements in the retail business, for all Canadians. Unlike the Americans, Canadians accepted and came to love their dollar coin, and with a stroke of luck for the Canadian team at the Winter Olympics Games the coin is fondly known as the Lucky Loonie today.

THE TWO-DOLLAR COIN

 

This coin was championed by Dr. Truong since he designed and worked on the concept of a bi-color coin extensively and thoroughly with his engineering team before it was launched by the Chretien government. The idea of a bicolor coin was very new at the time when it was released and the secure locking mechanism of the two-component coin was instrumental for its acceptance by the public and for its longevity, its endurance and its survival. The simple but solid and secure locking mechanism formed upon striking the two components of the coin together was invented and patented in the name of Dr. Truong.

This important contribution to the manufacturing engineering of the two-dollar coin was noted in the book, Royal Canadian Mint 100 Years of History, published in 2008. The decision by the Government to launch the two-dollar coin was in such a short time that the first coins produced at the time of the launching of the coin was struck on machines redesigned, revamped and refurbished at the Winnipeg plant of the Royal Canadian Mint by Dr. Truong and his team. Because of the high value of the coin, the most recent version of the two-dollar coin has many security features which incorporate many novel and difficult to copy features protected by the patents of Dr. Truong.


THE MULTI-PLY PLATING TECHNOLOGY: The World Leading Technology in Plating Coinage Material

As living standards improved across the world and global industrial growth continued at an unprecedented pace in the history of mankind, base metals of limited supply such as copper, nickel and aluminum became more expensive and coinage materials made of these elements became too expensive for many coin denominations across the world. There was a need for a new coinage material which was more affordable, but as performing as the base metal alloys for the growing demand of coins in the world economy, particularly, for countries outside of North America and Europe.

The idea of steel plated coins was born because steel was and still is the lowest priced metal in the market today. But the first generation plated steel coinage material had many disadvantages and critical deficiencies; there was unsightly rust formation (e.g. the German Pfennig coin in the seventies); there was no security (steel slugs could be made by anybody, anywhere but the vending machines could not distinguish the first generation steel plated coins from  steel slugs); it was very hard and very difficult to produce the steel plated coins  because steel was and still is harder than copper alloys and coin die life was poor… Those first generation nickel plated steel coins were relatively expensive, of low quality and were inconvenient to produce.

First generation copper plated steel or copper plated zinc coins technologies used cyanides plating chemicals which presented a very high risk of poisoning and a real risk of environment contamination hazards which could be fatal to fish, birds, and human life if there were spills which could not be controlled. Against this background, Canada started to develop its own version of plating technology.

All these negative points were overcome with the second generation of nickel plated and copper plated steel coinage material using the multi-ply plated steel technology of the Royal Canadian Mint invented and patented by Dr. Truong. This novel technology is being used on all the circulation coins of Canada today. In fact, the Royal Canadian Mint changed coinage materials from nickel and cupronickel to nickel plated steel since the year 2000. The Royal Canadian Mint has also been supplying coins using this Canadian technology to about forty countries. Among those, seven countries have totally switched their circulation coins to multi-ply steel plated technology: Canada, New Zealand, Singapore, Barbados, Fiji, …

Today, the multi-ply plating technology of the Royal Canadian Mint is considered the world’s leading plating technology. This technology helps produce the world’s low cost, high quality coinage material in term of security, being safest for plant employees’ safety and health, durability, mintability, and best steel coinage material in term of  manufacturability compared to all other plated materials and alloys used in coining .

CANADA WITH THE FIRST CIRCULATION COIN IN COLOR IN THE WORLD

Many numismatic coins produced for collectors have colorful prints which enhance the beauty of the coins and which entice collectors to own the coins. Collectors do not handle and touch numismatic coins; collectors only look at their coins because a damaged coin surface makes the numismatic coin lose its numismatic value.

Banknotes were and have been very colorful but circulation coins were only silvery or bronze in color. Why is it so? It is because there is no viable technology to print color on circulation coins. If circulation coins were printed in colour with the same technology as used in printing numismatic coins, the colors of the circulation coins wore off fast due to intensive abrasive wear and tear during usage!

Dr. Hieu C. Truong took up the challenge, developed and patented for Canada the world’s so far unique technology to print colors on circulation coins which resist abrasive wear. Using fiber optics for light speed transmission of data information during the printing process, digital cameras for coin feature recognition and robot for precise coin positioning in printing, digital inkjet printers, chemistry, metallurgy, material sciences and minting experience the Royal Canadian Mint was the first mint in the world to manufacture circulation coins in color. To this date, the Royal Canadian Mint remains the only mint in the world capable of producing successfully circulation coins with color print enhancements. It is a prestigious achievement for Canada because other mints have tried but were not successful. The Government of Canada used color circulation coins to draw the attention of the public to celebrate an important event, a cause, a historical date which reflect Canadian values dear to the heart of all Canadians. We had, as circulation coins, the red poppy coin for Remembrance Day, the pink ribbon coin representing the hope to beat breast cancer, the Canadian Maple Leaf flag coin, the Commemoration of the 1812 War coin,...

  
CANADIAN FLAG COIN

  

ANOTHER “FIRST IN THE WORLD” FOR THE ROYAL CANADIAN MINT: THE DNA TECHNOLOGY TO AUTHENTICATE GOLD COINS.

Gold coins are obvious targets for counterfeiting and there are reports of such happening for almost all the major gold coin brands sold in the world. For gold investors it would be reassuring if there is a fast, easy, non-destructive and accurate method to authenticate gold and other precious metals coins before the coins are purchased.

Dr. Truong saw the need for an accurate, fast, almost instantaneous means, requiring no scientific instrument but totally reliable authentication method to protect the consumers against precious metals counterfeiting by inventing the DNA (Digital Non-Destructive Activation) Authentication Technology.

By generating a random pattern which cannot be duplicated, using high energy lamp lasering, Dr. Hieu C. Truong created an identification area in the form of a patterned design on the coin surface. This lasered area encompasses and incorporates the morphology of gold. A covert portion of the lasered design is then precisely defined and coded with proprietary computer algorithms developed with the cooperation of Signoptics and this lasered design which is digitally encoded and encrypted as a  signature or a digital fingerprint is recorded in a data base at the Mint.

At any moment, at any time of the day, anywhere in the world, for authentication purposes, a picture of the lasered design is taken with a smartphone and sent to a website of the Royal Canadian Mint. Upon receipt of the information in the form of a picture of the lasered design transmitted by the smartphone or by a PC over the Internet the picture is decoded by encryption, analysed by the computers at the Mint and the coin morphology signature is matched against the signatures in the database. If there is a match with a signature in the database a reply is sent back to confirm that the gold coin was made and registered at the Mint and if there is no match the gold coin is not an authentic coin issued by the Royal Canadian Mint. The authentication operation is completed within a very short time, from the time the picture is received at the Mint. In fact, the gold authentication can be done within a few seconds of a telephone call to the Mint.

The Canadian Gold Maple Leaf coin is the only gold coin in the world incorporating an electronic authentication signature; this is the first. and only quick authentication of gold for the consumer and it is done with a smartphone! For the Royal Canadian Mint and for Canada, it was an achievement at the fine edge of technology which leaves the international competition, years behind. The global precious metals investment institutions, with business revenues in the billions of dollars, welcome this innovation and are amazed by this Canadian fine edge advanced technology.

OTHER ADVANCED ENGINEERING TECHNOLOGIES FOR THE MINTING INDUSTRY.

Over the span of his career at the Mint, Dr. Truong has technically transformed and changed progressively and totally the  practices of minting at the Royal Canadian Mint. This has contributed to improve not only the Mint in Canada and placed the Royal Canadian Mint at the top in the world for the quality of its products and its innovations, but also the coining industry worldwide benefited from those improvements as well because the Royal Canadian Mint cooperated with all the minting equipment manufacturers in the world to build better minting equipment and to integrate advanced state-of-the-art technologies used in the other industries to the minting industry.

Among those advanced technologies, Dr. Truong is credited to introduce Physical Vapour Deposition (PVD) coating to harden die surfaces for longer die life, Laser technology to produce frosting on proof coin dies, the burnishing and water stain free drying of blanks, Direct Reduction Digital Engraving, Computerized Precious Metals rolling mills with precision strip thickness control with laser measuring instrumentation and using feedforward and feedbackward feedback to adjust precisely the roll positioning instantaneously and continuously (it was the first computerized precious metal rolling mill in the world for platinum, gold and silver rolling), the unique and only technique in the world for bulk platinum casting with zirconium lined silicon carbide crucible and  argon reducing atmosphere, the advanced continuous dynamic waste water treatment system to meet stringent environmental controls, the pioneering  cyanide-free bronze and brass plating technology, the development of the holographic imaging technology in minting, the Atomic Layer Deposition of a clear, very thin, protective coating enveloping the whole coin to prevent tarnishing…

 

OFFICIAL AWARDS, HONOURS AND THE CREATION OF THE DR. HIEU C. TRUONG CENTER OF EXCELLENCE AT THE ROYAL CANADIAN MINT IN WINNIPEG.

Dr. Truong was granted seven patents and had two more patents under application in Canada, and was granted about two dozens patents worldwide.

The Royal Canadian Mint built a 30 million dollar plating plant in Winnipeg in the year 2000 using the multi-ply plating technology developed by Dr. Truong.

Dr. Truong was awarded the President’s (of the Mint) Award in 2004 and received many citations over the course of his career at the Mint.

Over the years, the Royal Canadian Mint received many citations and won many “Best Coin” in the World awards in international competitions organized by the Krauss Publications of the Numismatic Coins Journal in the US for coins incorporating new developments made by Dr. Truong such as the Gold Cameo coin. The Mint was also awarded prizes and accolades by peer mints at International Meetings for coins incorporating technologies developed by Dr. Truong, for example, for “Best Technology“ coin for the circulation coin in color at the Mint Directors’ Conference in Paris.

Dr. Truong was recognized for his pioneering work and contribution in the introduction of the two-dollar coin in Canada, in the book, Royal Canadian Mint 100 Years History, published by the Royal Canadian Mint, in 2008.

Dr. Truong of the Royal Canadian Mint, was named in the book, 40 Years of the World Money Fair, by Dr. Albert M. Beck in his book published in 2011, as one of the well known international personalities in the world of coins.

In order to continue the pioneering work of Dr. Truong, in order to lead the world and to expand its successful path to create new technologies to serve the global minting industry, the Royal Canadian Mint had decided to establish a world class Research Centre where the latest development in engineering, science and computerized automation, the latest applications in cloud computing, in software development, in cash management, in phone and media communications and consumer changing habits,… are going to be developed in order serve future generations of consumers. The Royal Canadian Mint built this Research and Development Centre of Excellence in Winnipeg in 2013 and named it in honour of Dr. Hieu C. Truong in recognition of his distinguished service to the advancement of innovation and technology at the Royal Canadian Mint. At the same time, at the same location, the Royal Canadian built a second plating plant at a cost of 60 million dollars where several technologies invented by Dr. Truong are put into application.

The Royal Canadian Mint struck a medallion in Dr.Truong’s honor to mark the opening of the Centre of Excellence named after him, in 2013.



Dr. Truong was invited as a Guest Speaker at the Royal Canadian Mounted Police Headquarters in Ottawa, during the Week celebrating DIVERSITY and INCLUSION in January 2016, as an example of Canadians contributing to the success and the building of Canada through diversity and inclusion. 

PROFESSIONAL ORGANIZATIONS

Dr. Truong was a Member of the Ordre des Ingénieurs du Quebec from 1974 to 1980.

Dr. Truong has been a Member of Professional Engineers of Ontario.

COMMUNITY ORGANIZATIONS

Dr. Truong as a member of the Ottawa Vietnamese Canadian Community Association was active in assisting the Indochinese Refugees to settle in the Ottawa area between 1978 to 1991.

Dr. Truong was elected President of the Vietnamese Canadian Buddhist Association for two 2-year terms in 1990 and in 1992. During his terms in office he raised funds needed to build the first Buddhist temple with an Oriental architecture in Ottawa.

Dr. Truong was invited to be on the Board of Directors of Van Lang Centre for two years, and was elected Chairman in 1995, then Secretary General of the Board (Chief Operating Officer) in 1996. Van Lang Centre is a 80 unit housing complex, for low income families, in Ottawa, built with funds of the Province of Ontario. It is run as a non-profit Housing Corporation fully funded by the Province of Ontario and is managed by a Volunteer Board of Directors.

Dr. Truong was part of a group of Volunteers who built a Monument at the corner of Somerset St. and Prestone Ave. in Ottawa, in 1995, on land donated by the City of Ottawa, in honour of the Boat People who braved the high seas to flee the Communist Regime who invaded and took over Vietnam in 1975.

As a Canadian, Dr. Hieu C. Truong has contributed to make Canada a better place to live and to work. His sense of citizenship responsibility, his service to the community and to the country, his lifetime devotion to innovate and to change for the better while in the service of his employers, his pride in Canada, his personal motivation, his patriotic duty and his passion to make Canada the best among other world powers in the world of minting, the paramount achievements he has accomplished for the Royal Canadian Mint and the legacy in minting and gold refining he has left for Canada deserve to make Dr. Hieu C. Truong an excellent nominee for the Order of Canada.


Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 8:13 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 8:01 PM ]

PHẠM VĂN MÙI

Nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi (1907-1992)
Ông sinh ngày 1 tháng 6 năm 1907 tại Nam Định, quê quán làng Đông Ngạc, tỉnh Hà Đông . Ông là một trong những nhà nhiếp ảnh sớm nhất của Việt Nam, bắt đầu khởi nghiệp cầm máy từ năm 1923 và từ năm 1932 đã khai trương phòng triển lãm riêng tại Nam Định và gửi ảnh dự thi trong các cuộc triển lãm ảnh tại Hà Nội và nhiều lần đoạt giải. Trong thời gian này, ông cũng chơi thân với nhiếp ảnh gia Võ An Ninh và dạy nhiều học trò.

Di cư vào Nam năm 1954, ông là hội trưởng Hội Nhiếp ảnh Việt Nam từ năm 1958 đến 1971 . Trong thới gian này, ông gửi ảnh tham dự các cuộc Thi Ảnh tổ chức tại các nước Pháp, Hồng Kông, Singapore, Anh, Ý, Tây Ban Nha... và giảng dạy các lớp nhiếp ảnh như tại Hội Việt Mỹ Sài Gòn, Viện Đại học Vạn Hạnh cũng như làm giám khảo những cuộc thi ảnh như bộ môn Nhiếp ảnh giải Văn học Nghệ Thuật của Phủ Tổng Thống Việt Nam Cộng hòa từ năm 1969 đến 1975 .

Ông từ trần vào ngày 25 tháng 11 năm 1992 tại Garden Grove, California, Hoa Kỳ .
Những tác phẩm ảnh của ông như bộ ảnh Suối tóc, Duyên dáng, Tâm tư, Theo chiều gió, Đôi dòng thác đã góp phần làm ông nổi tiếng. Riêng tác phẩm Duyên dáng đã được chọn trưng bày vĩnh viễn tại Bảo tàng Mỹ thuật Brazil từ năm 1963 và cũng mang lại cho ông nhiều huy chương quốc tế danh giá .

Gần đây nhất, 54 bức ảnh và 9 bức tranh vẽ của ông đã được triển lãm dưới chủ đề "Ảnh đen trắng và tranh vẽ chân dung" tại Hội Nhiếp ảnh TP.HCM từ ngày 9 đến 19 tháng 12 năm 2007 . Kênh HTV7 cũng đã thực hiện một chương trình phát hình về ông: "Nhớ nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi", phát sóng ngày 16 tháng 3 năm 2008 

Tác phẩm của Phạm Văn Mùi







Duyên dáng – ảnh đen–trắng






Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 7:48 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 2:24 PM ]

NGUYỄN NGỌC HẠNH
Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh

Phóng viên chiến trường,
Trung Tá Nguyễn Ngọc Hạnh.

Sinh năm 1927 tại Hà Đông, gia nhập Không quân Việt Nam năm 1950. Ông Hạnh tốt nghiệp trường Nhiếp Ảnh Pháp ở Toulouse năm 1956 và trở thành một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp.

Năm 1957, ông sáng lập Hội Nhiếp Ảnh Quân Đội Việt Nam . Năm 1961, ông trở thành Sĩ quan nhiếp ảnh chiến trường của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, binh chủng Nhảy Dù. Ông được chọn làm Hội viên danh dự Hội nhiếp ảnh quốc tế năm 1971. Trong thời gian làm phóng viên chiến trường, ông được lãnh nhiều giải thưởng cao quý về nhiếp ảnh tại nhiều quốc gia khác nhau.

Sau khi miền Nam thất thủ năm 1975, ông Nguyễn Ngọc Hạnh bị đi tù Cộng sản như bao nhiêu đồng đội khác . Đến năm 1983, hội The Royal Photographic Society of Great Britain can thiệp cho ông được trả tự do với 63 chử ký của nhiều quốc gia khác nhau. Ông vượt biên nhiều lần và đến Hoa Kỳ năm 1989.

Ông Hạnh thành lập Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam tại San Jose năm 1990. Sau đó hội trở thành Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California vào năm 2000. Sau gần 20 năm định cư tại Hoa Kỳ, ông Hạnh đã đào tạo hàng trăm nhiếp ảnh viên chuyên nghiêp. Nhiều học trò của ông được nhận làm Hội viên danh dự Hội Nhiếp Ảnh Hoàng Gia Anh và các Hội Nhiếp Ảnh Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ.

Ông được nhận là hội viên của nhiều Hội Nhiếp Ảnh trên nhiều quốc gia khác nhau. Trong cuộc đời nhiếp ảnh, ông Hạnh đã nhận được 92 huy chương Vàng, 110 huy chương Bạc và rất nhiều giải thưởng khác nhau cho sự nghiệp nhiếp ảnh của ông. Ông Hạnh hiện nay vẫn còn dạy nhiếp ảnh, tiếp tục đào tạo những Nhiếp ảnh viên chuyên nghiệp cho cuộc đời thêm tươi đẹp. Ông Nguyễn Ngọc Hạnh có thể liên lạc qua email của Vietlist : vietlist09@yahoo.com

Ông là hội viên của:

Hon. FPCKBC
Hon. FVNPS
Hon. EFIAP, FRPS, ****PSA
One of the top ten, Who's Who, PSA, 1968
FIAP Gold Medal for Exceptional Photographic Achievement, 2003
FPCKBC, FPSEA, FPSHK, FAPA, SE 35mm PS
Hon. FAPA, Hon. FTVPA, Hon. FBSC, Hon. F.HKPC
Hon. FNPAS, Hon. FPST, Hon. FPSC, Hon. FPSNY
Hon. ETVPA, Hon. EYMCAPC, Hon. PSMP, Hon. Border
Hon. NPAS, Hon. 35mm PS, Hon. PPGL, Hon. OGPh
Hon. FEP, Hon. PSEA, Hon. IKFP, Hon. Omni-Candid
Hon. KKL, Hon. FPCVH, Hon. FHCPS
****************************

NGUYỄN NGỌC HẠNH.

Hon. FPCKBC
Hon. FVNPS
Hon. EFIAP, FRPS, ****PSA
One of the top ten, Who's Who, PSA, 1968
FIAP Gold Medal for Exceptional Photographic Achievement, 2003
FPCKBC, FPSEA, FPSHK, FAPA, SE 35mm PS
Hon. FAPA, Hon. FTVPA, Hon. FBSC, Hon. F.HKPC
Hon. FNPAS, Hon. FPST, Hon. FPSC, Hon. FPSNY
Hon. ETVPA, Hon. EYMCAPC, Hon. PSMP, Hon. Border
Hon. NPAS, Hon. 35mm PS, Hon. PPGL, Hon. OGPh
Hon. FEP, Hon. PSEA, Hon. IKFP, Hon. Omni-Candid
Hon. KKL, Hon. FPCVH, Hon. FHCPS
Born in Ha Dong, North Vietnam in 1927, Nguyen Ngoc Hanh first served in the French Army, he then transferred to the Airborne Corps of the Vietnamese Army in 1950. He graduated from the french Photography Scholl in Toulouse in 1956 to become a professional photographer.

In 1957, Nguyen Ngoc Hanh founded the KBC Photography club in Vietnam. Soon afterwards, in 1961 he was designated an official war photographer of the South Vietnamese Armed Forces. he was also elected as Honorary representative to the Fédération Internationale de l'art photographique in 1971.

After the fall of South Vietnam in 1975, Hanh, like so many of his fellow officers, was detained in communist re-education camps until 1983. He was finally released due to the efforts of the Royal Photographic Society of Great Britain. It was not until his forth attempt that he was able to escape his country as one of the many boat people. He landed in Thailand and was then granted political asylum in the United States of America by the UNHCR in 1989.

In 1990, Hanh founded the Vietnam Photographic Association in San Jose, California. That was followed by the Vietnam Photographic Society of Northern California in 2000. Over the years, Hanh has trained several hundred photographers. Many of his students have received awards and certificates of High Honor from the Royal Photographic Society of Great Britain.

Hanh's most prestigious achievement was in April 2000 when he was granted " The National Day Literature and Arts Award " in Atlanta, Georgia. This award was given by the National United Front for Liberation of Vietnam. Hanh has been selected as a member in several international photography clubs and associations. Over the years, he has accumulated over 92 Gold prizes, 110 Silver prizes and many other various awards for his works.


Vá cờ - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Làm đường dân đi - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Cứu bạn - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Quyết tâm bảo vệ quê hương - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Lá vàng - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh 

Suối mơ - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh 

Trở về - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh 

Trở về 2 - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Học bài - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Dựng cờ - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Bình minh trên vịnh - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Bửa cơm ngày mùa - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Khát nước - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Mẹ Việt Nam trong khói lửa - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Anh đồ - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Huế đổ nát vì lệnh "Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân" - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Phản công

Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh




Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 7:43 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 8:19 AM ]

TRẦN CAO LĨNH
 
Nhiếp ảnh gia Trần Cao lĩnh
Trần cao Lĩnh sinh nam 1925 tai NAM ĐỊNH ông là một trong những người đầu tiên sáng lập hoặc đỡ đầu nhiều hội nhóm nhiếp ảnh tại miền Nam Việt Nam như hội nhiếp ảnh Việt Nam(1954). Giáo sư Nhiếp ảnh tại Đại học Vạn hạnh Sài gòn trước 1975.

Trần cao Lĩnh thục hiện 4 tuyển tập ảnh, nhiều lần thuyết trình và viết bài về kỹ thuật nhiếp ảnh. Ông di cư sang Mỹ năm 1980.

Trần cao Lĩnh đã triển lãm và nhiều lần đoạt giải thưởng tai London, Paris, Toronto, Montréal, Wasshinhton,...

Trần Cao Lĩnh là nhà nhiếp ảnh tiền phong của miền Nam, chuyện về ảnh nghệ thuật đen trắng và kỹ thuật phòng tối. Ông từ trần ngày 29 tháng 8 năm 1989 tại Hoa Kỳ



Tác phẩm của Trần Cao Lĩnh













Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 7:13 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 7:32 AM ]

NGUYỄN CAO ĐÀM
 
Nguyễn Cao Đàm (1916-2001) là một nhà nhiếp ảnh nổi tiếng của Việt Nam, chuyên về ảnh đen trắng.

Ông sinh năm 12 tháng 5 năm 1916 tại Vĩnh Trung, Hà Đông. Ông bắt đầu chụp ảnh nghệ thuật từ năm 1949 và là một trong những sáng lập viên Hội Nhiếp ảnh Việt Nam tại Hà Nội năm 1952.
Cụ đã để lại cho nghệ thuật nhiếp ảnh Việt Nam cũng như thế giới những tuyệt phẩm không những có giá trị nghệ thuật cao mà còn có giá trị nhân sinh thấm nhuần tư tưởng Đạo Lão, Đạo Phật, Đạo Khổng, Đạo Thiên Chúa.

Công trình nghệ thuật của cụ đã được sự ái mộ của đông đảo các hội nhiếp ảnh gia có uy tín trên thế giới và cụ đã lãnh nhận hàng chục huy chương vàng bạc, bằng cấp tưởng lệ các loại trong suốt thời gian nửa thế kỷ qua.

Cụ thể, cụ đã tham dự nhiều cuộc thi nhiếp ảnh quốc tế ở Hong Kong (1956), Pháp (1956), Bỉ (1958); Huy chương Đồng ở cuộc triển lãm ở Munich, Đức (1958), Huy chương Bạc ở Ahmedabad, Ấn Độ (1958); Huy chương Đồng ở Trento, Ý (1958); Huy chương Bạc ở Moenchenlabad, Đức (1959)... cùng nhiều giải thưởng khác tại các cuộc thi ở Singapore, Tây Ban Nha...
Cụ Nguyễn Cao Đàm cũng từng là giám khảo của các cuộc triển lãm nhiếp ảnh quốc tế tại Sài Gòn từ năm 1957 đến 1975. Đặc biệt, cụ đã hai lần liên tiếp được Hội Nhiếp Ảnh Bỉ trao tặng huy chương vàng và trở thành hội viên danh dự của Hội Nhiếp Ảnh Bỉ (Hon F.Kortrijk). Ngoài ra, cụ Nguyễn Cao Đàm còn là hội viên chính thức của Hội Nhiếp Ảnh Hoàng Gia Anh (A.R.P.S.) và là hội viên danh dự của Hiệp Hội Nhiếp Ảnh Gia Đông Nam Á (Hon S.E.A.P.S.).

Từ tháng 5 năm 1990, ông qua sinh sống tại Úc và từ trần tại đó ngày 4 tháng 6 năm 2001.

Tác phẩm của Cụ Nguyễn Cao Đàm






1-10 of 14