Âm Nhạc & Nghệ Thuật • Music & Arts


Nghe Từ Công Phụng Tỏ Tình... Luân Hoán

posted May 7, 2020, 6:22 AM by Le Phan   [ updated May 7, 2020, 6:24 AM ]

Nghe Từ Công Phụng Tỏ Tình...


Luân Hoán

Thích nhạc, mê nhạc, ghiền nhạc không hề đứng gần khả năng am hiểu âm nhạc, lại càng không thể phát sinh chuyện điều khiển, sắp xếp những nốt nhạc, nói ngắn gọn là sáng tác. Đa số chúng ta nghe nhạc bởi sự cảm nhận tự nhiên. Sự cảm nhận này rất ít đến với chúng ta bằng sự lẻ loi của các nhạc cụ, dù chúng có cùng nhau cất tiếng. Âm nhạc vốn là cõi cao xa, thường vượt tầm hiểu biết của nhiều người.

Nhạc sĩ Từ Công Phụng

Lược đọc

Trình chơi Âm thanh

Nghe Từ Công Phụng Tỏ Tình                                 Nghe thêm các bài về Từ Công Phụng

Cứu được nhược điểm này, lời ca đã đóng một chức năng chủ yếu. Riêng với người Việt Nam, ca từ đúng là một nhu yếu phẩm cho tâm hồn, cho tinh thần. Ngày còn nằm nôi, ca dao, tục ngữ theo giọng hát ru con, ru em đến với chúng ta. Ấu thơ bây giờ có thể thiếu hẳn nguồn bổ dưỡng này, nhưng bù lại có những máy phát êm dịu đưa giấc ngủ. Nói chung lời ca chính là chìa khóa, là cây cầu đưa chúng ta đến gần âm nhạc hơn. Dĩ nhiên phần nhiều chúng ta vẫn mang đôi tai điếc đặc ngồi trong thính đường một buổi trình tấu nhạc cổ điển tây phương. Nhưng ít ra chúng ta cũng đã dễ dàng đến với những Chiều Về Trên Sông của Phạm Duy, Thu Vàng của Cung Tiến, Biệt Ly của Dzoãn Mẫn, Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn, Tóc Mây của Phạm Thế Mỹ, Cô Đơn của Nguyễn Ánh 9, Hòn Vọng Phu của Lê Thương, Dư Âm của Nguyễn Văn Tý, Ngọc Lan của Hoàng Trọng, Quê Mẹ của Thu Hồ, Khúc Ca Ngày Mùa của Lam Phương, Ghé Bến Sài Gòn của Văn Phụng, Xóm Đêm của Phạm Đình Chương, Trăng Mờ Bên Suối của Lê Mộng Nguyên, Nụ Cười Sơn Cước của Tô Hải, hay Sơn Nữ Ca của Trần Hoàn… Dĩ nhiên còn rất nhiều, rất nhiều ca khúc vẫn sống tiềm ẩn trong lòng chúng ta. Có thể nói những ca khúc này, tám phần mười vượt thời gian nhờ ở ca từ. Đây quả thật là trình độ thưởng ngoạn âm nhạc của đại chúng người Việt chúng ta. Và từ những lời nỉ non, véo von không cần mất nhiều sự suy nghĩ này, một số trong chúng ta lần theo trình độ học vấn yêu thích những ca khúc trau chuốt, giàu hoa mỹ đượm chút ít triết lý về cuộc đời. Vẫn giữ căn bản giản dị, trong sáng, nhưng rõ ràng từ bàn tay của Từ công Phụng, Lê Uyên Phương, Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Cung Tiến… ca khúc của họ có cái vẻ sang cả, trí thức hẳn lên.

Tôi cũng là người yêu nhạc bình dân, không có khả năng am hiểu những trường canh, tiết tấu, hợp âm…gì gì đó. Tôi chỉ vịn lời ca mà đi cho cuộc đời mình thêm chút ít nhẹ nhàng, thanh thản. Hôm nay ngồi buồn, chẳng phải vì trời mưa, chẳng phải vì thất tình hay nhớ cố hương, mà bỗng thấy buồn khan thế mới lạ. Có lẽ có sự trống vắng nho nhỏ trong tâm hồn. Để nỗi bâng khuâng vô cớ không trở thành cô đơn, tôi mở nhạc. Và rất tình cờ, tôi nghe ông Từ Công Phụng tỏ tình.

Hình như Thiếu nữ và mùa Thu thường có những nét tương đồng. Từ sự lộng lẫy, thanh tú của nhan sắc, đến cái dịu dàng, man mác lạnh của tính chất, đã hàng nghìn năm qua, hai đối tượng này vốn là đầu nguồn của nhiều dòng sáng tác. Nhiều nhạc sĩ, thi sĩ, thậm chí đến cả văn sĩ, họa sĩ đã từng vịn vào mùa thu, hoặc vịn vào một bóng hồng để đẩy những suy tưởng lẫn nhớ nhung của mình thoát xác thành những hình ảnh mới. Nhạc sĩ Từ công Phụng cũng không đi lệch con đường có sẵn này. Nhưng với ông, trong ca khúc Bài Cho Em, ranh giới giữa mỹ nhân và mùa thu chợt được xóa nhòa. Để nhường chỗ cho tình yêu và nỗi nhớ quấn quít bên chân những nốt nhạc tha thiết, trôi nổi, vang xa mong tìm lại một thời hoa bướm có đủ vui buồn. Tất cả dành cho em, gởi về em mênh mang như một dòng sông, chúng ta hãy cùng Từ Công Phụng dựa tình lên dòng sông, và để lòng trôi cùng âm nhạc :

Chiều nay ngồi viết riêng cho em
Cho em bài hát êm đềm, trôi theo từng tiếng tơ mềm
Nhờ mây gửi đến riêng cho em
Cho em ngàn lời yêu thương, trôi trên nụ cười phong kín

Mùa Thu chợt đến trong cô đơn
Buồn bay lên mờ lấp khung trời chiều lạnh lùng
Trời còn gọi tiếng mưa đêm nay
Mưa ơi! Đừng làm buồn mắt em thơ ngây

Ô hay! Mùa Thu đến bao giờ
Mưa bay buồn giăng mắc khung trời
Người về từ trên đó để nhìn làn môi thắm
Cớ sao em còn buồn để mùa Thu đến rồi đi

Giòng sông nào vắng xa chưa em
Ru lên hồn tuổi thơ này, thêm một lần chuốc u buồn
Hồn lên ngàn phím tơ vương êm Ru em bằng lời ca đêm, ru lên tuổi buồn em mang

Giòng sông rồi vắng xa thôi em
Đời trôi theo ngày tháng, mang nhiều kỷ niệm buồn
Tuổi thơ còn có mơ không em
Hay trôi miệt mài ngày tháng trong cô liêu

Khi yêu chúng ta thường mất đi ý niệm về thời gian, hoặc ngược lại, từng giờ từng khắc có thể gói gọn được rất nhiều kỷ niệm. Ở ca khúc Bây Giờ Là Tháng Mấy, nhạc sĩ Từ Công Phụng, có lẽ có cả hai trạng thái khác nhau này. Trong ca khúc, ông có ít nhất 3 lần lên tiếng hỏi người yêu mình về một cái móc thời gian, không cần phân định là đang yêu nhau, gần nhau hay sắp sửa một cuộc chia xa. Hỏi cho có hỏi vậy thôi. Cái vẩn vơ thật thi sĩ của Từ công Phụng chỉ là cái bàn đạp để ông vẽ lại nỗi nhớ thương, cùng những nét đẹp độc đáo, tiêu biểu của người yêu mình. Em hờn dỗi đủ để cho anh phải đi tìm một loài hoa. Mắt em đẹp đủ cho anh thấy cả mùa xuân. Và ngay trong cái lạnh lẽo của mùa đông, tâm hồn những người yêu nhau cũng không lẻ loi. Cái thời gian Từ Công Phụng muốn hỏi, hay đúng hơn là muốn nhắc tới, chính là cái ổ tình, một thời ông đã cùng ấm áp bên một người, để có cơ hội mở ra một dòng tình ca rất gần với sự thưởng ngoạn của đại chúng :

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm
Chiều nay nếu em đừng hờn dỗi,
trách nhau một lời thôi
Tâm hồn mình đâu lẻ đôi.

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm màu hoa em cài
Chiều nay nhớ em rồi và nhớ
áo em đẹp màu thơ,
môi tràn đầy ước mơ
Mai đây anh đưa em đi về,
mưa giăng chiều nắng tàn
cho buốt lạnh chúng mình.
Em ơi, thôi đừng hờn anh nữa,
nhìn nhau buồn vời vợi,
để mùa đông buốt giá bờ vai mềm.
Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm mùa xuân trên đời
Mùa đông chết đi rồi mùa xuân
mắt em đẹp trời sao
cho mình thương nhớ nhau.

Trong một đồng tình gần như tuyệt đối với nhà thơ Du Tử Lê, khi xác nhận, minh định vị trí của người phụ nữ bên cuộc đời mình, nhạc sĩ Từ Công Phụng đã biến những lời thơ của ông Lê Cự Phách thành những dòng nhạc chân thành, tha thiết. Cảm tạ ơn em không phải là một thỏa thuận riêng rẻ giữa nhạc sĩ và thi sĩ, mà còn là sự đồng thuận của đám đông, của chúng ta khi lắng nghe. Giữ Đời Cho Nhau, như một lời dặn dò, nhắc nhở đơn giản, nhưng chân tình. Một hơi thở thoáng ấm chỗ nằm. Một vóc áo hờ hững bất ngờ, đã có thể là một sự ban ơn cho chúng ta, nếu tình cờ chúng ta được hạnh phúc biết rung cảm, biết nắm bắt, dù một thoáng. Hãy nghe Du Tử Lê và Từ Công Phụng nói hộ những gì đã lâu chúng ta muốn nói, mà chưa thành lời, chưa công khai:

Ơn em thơ dại từ trời
Theo ta xuống biển vớt đời ta trôi.
Ơn em dáng mỏng mưa vời
Theo ta lên núi về đồi yêu thương.
Tạ ơn em
Tạ ơn em.

Ơn em ngực ngải môi trầm
Cho ta cỏ mặn trăm lần lá ngoan.
Ơn em hơi thoảng chỗ nằm
Dấu quanh dấu quẩn nỗi buồn một nơi.
Tạ ơn em
Tạ ơn em.

Ơn em tình những mù lòa
Như con sâu nhỏ bò qua giấc vùi.
Ơn em hồn sớm ngậm ngùi
Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau.
Tạ ơn em
Tạ ơn em

Trong cuộc sống, gần như không có gì vĩnh cửu. Riêng tình yêu, sự đánh giá cũng chẳng bao giờ giống nhau. Nhạc sĩ Từ Công Phụng, với một cảm hứng ông tìm thấy, ghi lại, đã phơi bày chút nào sự bi quan của ông. Những không vui này được lồng trong những nhận định không xa lạ và phảng phất những nét triết lý vốn đã có. Đã sống tất phải chết. Đã hợp ắt sẽ tan. Cuộc tình tuyệt vời đến đâu cũng sẽ kết thúc. Tất cả chỉ tùy thuộc vào sự phôi pha của tháng năm. Lặp lại và diễn đạt ý tưởng này bằng âm nhạc, không phải là việc dễ dàng. Nhưng Từ Công Phụng, không những chỉ làm được việc này. ông còn chứng tỏ được khả năng sử dụng ngôn ngữ rất thơ.“Rót cho đầy hồn nhau, đắp cho đầy đời nhau” Không bí hiểm, xa lạ, nhưng không phải ai cũng dùng được những động từ đắc ý, giàu hình ảnh như họ Từ. Như Một Que Diêm là một ca khúc đã có khoảng cách khá xa với những thể loại phổ thông :

Như Chiếc Que Diêm
Đời anh sớm muộn gì
Đời em sớm muộn gì
Tình ta sớm muộn gì …cũng hấp hối
Thôi cũng đành một kiếp trăm năm đời người sẽ qua
Cũng đành một thoáng chiêm bao tình người cũng xa
Cũng phôi pha những điêu ngoa, theo vết môi cười tàn tạ
Thôi cũng đành một kiếp phong ba lệ tình cũng xa
Xuống đời ta những nguôi ngoai rồi người cũng xa
Cũng xa ta, cũng xa ta theo dòng nghiệt ngã mù lòa
Vì lời em sớm muộn gì cũng một lần gian dối
Tình anh sớm muộn gì cũng đưa vào tăm tối
Đời anh sớm muộn gì, đời em sớm muộn gì
Tình ta sớm muộn gì cũng hấp hối
Rót cho đầy hồn nhau, đắp cho đầy đời nhau
Những men nồng tình sâu rã rời

Thôi cũng đành như chiếc que diêm một lần lóe lên
Thắp đời em sáng lung linh, buồn một cõi riêng
Những đêm sâu, những canh thâu
Nghe nước mắt nặng giọt sầu
Thôi cũng đành như kiếp rong rêu một lần hóa thân
Cuốn về phong kín tim ta một đời chói chang
Những đam mê, những ngô nghê
Với tình người nhỡ lời thề
Thôi cũng đành như tấm gương tan mờ phai vết xưa
Xót dùm cho tấm thân ta ngựa bầy đã xa
Những đêm mơ thấy tan hoang
Hương tình vừa chớm muộn màng

Nhạc sĩ Văn Cao từng thú thật ông đã yêu mùa thu rất đậm đà, vượt trên ba mùa còn lại của đất trời. Một nhạc sĩ khác, ông Đoàn Chuẩn cũng rất hết lòng với mùa thu. Từ Công Phụng chẳng thua gì những người viết nhạc có tuổi đời cao hơn.Ông đã dành cho mùa thu nhiều ca khúc. Chúng ta thử nghe Mùa Thu Mây Ngàn của tác giả. Buồn vương trên mây, trên tóc mỹ nhân. Mưa bay vừa ướt áo, vừa đủ cho một con phố chợt giàu những đôi vai, những gót chân. Tất cả những hình ảnh đó không có gì mới. Nhưng qua từng ký âm của Từ Công Phụng, chúng ta hẳn sẽ thấy được ông cho những cảnh sắc, hình vóc ước lệ muôn đời thở sống như thế nào:

Chiều nay có mùa thu đi về
Buồn vương mây ngàn giăng khắp lối
Mùa thu bơ vơ đến bên trời
Ru tóc em suối nguồn
Gọi hồn hong gió thu buồn

Ngày mai chúng mình xa nhau rồi
Cầm tay em nhìn sao không nói
Chiều nay mưa bay khắp phố nhỏ
Mưa ướt đôi vai mềm
Bùn lầy lấm gót chân em

đk:

Thu nay mây ngàn còn giăng mãi bên trời
Mùa thu lưu luyến bóng dáng anh đi
Đêm nay bên thềm cầm tay em khẽ nói
Ngày mai anh đi rồi
Anh có buồn gì không

Buồn không hỡi người đã đi rồi
Tìm đâu những ngày vui êm ấm
Người đi theo năm tháng không cùng
Thương mắt em hay buồn
Nhìn mùa thu chết bên sông

Hình ảnh là một trong những yếu tố quan trọng trong chức năng làm trưởng thành một sáng tác. Dựa vào mùa thu để làm giàu thêm gia tài âm nhạc của mình, Từ Công Phụng đã rất thành công trong việc dùng hình ảnh để nói lên tâm cảm của mình. Nội dung ca khúc vẫn không ngoài tình yêu. Nhưng tình yêu sẽ có thể được mới ra, thi vị hơn với một người thơm tay và có trình độ diễn đạt, đã được đánh giá cao như Từ Công Phụng. Hãy lắng nghe Như Ngọn Buồn rơi thánh thót qua dòng nhạc Từ Công Phụng.

Như mùa thu trút lá vàng
ngậm ngùi em khóc cho tuổi thơ qua mau
hồn nhiên cũng rơi khỏi tầm tay với xa
trên từng thung lũng buồn
em lệ nhòa trên tóc

Trên từng thung lũng buồn
từng thung lũng buồn
mùa thu đã trở mình trên gót nhỏ
dìu em đến người
bằng vòng tay nâng niu hạnh phúc

Trên từng cơn lốc mềm
hồn em đã ngủ vùi trong tiếng thở
tình tôi cũng mù theo cơn lũ nào
là lần em đã khóc cho tình yêu

Em như ngọn buồn rơi
tuổi thơ ngây đã xếp chân môi hồng
em rơi vào đời tôi
tình yêu em khôn lớn trong dịu dàng
ôi nỗi dịu dàng nào đã ngời sáng
trên môi người

trên từng cơn lốc xoay đời
thuyền tình đã đắm trong vòng tay u mê
dù ta có đi trên nghìn thu đắng cay
trên từng nỗi khốn cùng
nhưng tình đôi ta biết bao giờ nguôi…

Mắt Lệ Cho Người Tình là một ca khúc góp phần tạo một chỗ ngồi khá riêng biệt cho Từ Công Phụng, trong gia đình âm nhạc Việt Nam. Vẫn long lanh những giọt bi quan về nhân sinh, về tình yêu. Nhưng cái buồn của tác giả, của những người đồng điệu với ông vẫn đứng cách xa với vực thẳm bi thảm. Chúng ta có cảm tưởng như tác giả biết buồn để làm tăng thêm sự đậm đà của tình yêu. Cuộc đời vô vọng và em đã đi qua đời tôi, nhưng những dấu vết cuộc tình để lại luôn luôn cần thiết cho một cuộc sống đầy đủ thi vị, nó sẽ bất tử như đôi mắt em, đôi mắt chúng ta cùng biết nhớ nhung.:

Mưa soi dấu chân em qua cầu
Theo những cánh rong trôi mang niềm đau.
Đời em đã khép .. đi vội vàng
Tình ta cũng lấp lối thiên đàng
Như cánh chim khuất ngàn, như cánh chim khuất ngàn
Còn mong còn ngóng chi ngày yêu dấu.
Mưa soi dấu chân em qua cầu
Theo những cánh rong trôi mang niềm đau
Thời nào yêu hết trái tim buồn, lời nào yêu hết trái tim buồn
Xin giữ trong mắt lệ, xin giữ trong mắt lệ
Nhòa theo từng gót chân người xa vời.
Mưa âm thầm buổi chiều thổn thức
Sẽ nhạt nhòa từ ngàn năm nữa như em khóc hồn nhiên
Nỗi muộn phiền ngày tàn hơi thở
Em thấy không cõi đời vô vọng.
Xin em hãy cho tôi tạ tình, khi em đã đi qua khoảng đời tôi.
Dù một khoảng khắc sớm phai tàn
Và lệ em rớt trên môi nhạt
Đôi mắt em rất buồn, đôi chúng ta rất buồn
Vạn câu tình cũ, xin gửi cho đời.

Chẳng phải Ngồi Lại Bên Cầu Thương Dĩ Vãng như nhà thơ Hoài Khanh, Từ Công Phụng ngồi xuống và khẩn khoản mời người yêu ngồi bên cạnh mình để nghe mùa xuân tình tự. Mùa Xuân, mùa của hy vọng, của đổi mới, chẳng ở đâu xa. Nó nằm giữa đất trời và ở ngay trong lòng những người biết yêu nhau, đang yêu nhau. Hoa lá cỏ cây là tiếng nói của mùa xuân đang tình tự. Âm nhạc là tiếng thở giải bày tâm sự của người nhạc sĩ biết yêu. Chúng ta hãy thử nghe trong thời khắc tuyệt vời của đất trời, người nhạc sĩ nói những gì với người yêu của mình. Biết đâu chính mỗi chúng ta là một người yêu của nhạc sĩ.

Em, lại đây với anh
ngồi đây với anh
trong cuộc đời này
nghe thời gian lướt qua
mùa xuân khẽ sang
chừng như không gian đang sưởi ấm những giọt tình nồng

tay này tay nắm tay
nhìn nhau đắm say
như chưa bao giờ
nghe chừng trong mắt nâu
hồn anh đã tan thành mùa xuân ngọt ngào phủ ấm thiên đường đôi ta …

Đã qua đi ngày tháng uá môi sầu nhớ tình người buồn tênh …
Em chút giọt lệ ấm, khóc mừng một ngày hạnh phúc miên man …

qua … ngày buồn đã qua
vì đã có em trong cuộc đời này
em, ngồi đây với anh
cùng nhau lắng nghe
giòng sông đang thầm thì trong đất những khúc nhạc tình …

em, lại đây với anh
ngồi đây với anh
trong cuộc đời này
bên đàn chim hót ca
này em có hay
mùa xuân đang mờ toang trong mắt người tình… mênh mang

Tuổi Xa Người là một ca khúc mang nhiều tính chất bi quan của Từ Công Phụng. Sự hoài nghi làm cho ông cảm thấy lạc loài. Tình yêu là điểm tựa tối cần cho đời người. Xa vắng nó, sự cô đơn tức khắc vây bủa khắp nơi. Lòng người sẽ tê lạnh, dù đâu đấy vẫn như nghe còn có người gọi tên. Nỗi buồn đi từ rộng lớn đến góc độ hẹp nhất, như từng chân tóc mà vẫn có thể nhận ra sự hiện hữu vô cùng của nó. Nỗi buồn không những phá phách vô tư trên dung nhan của tuổi thơ mong manh, mà còn để dấu chân hằn sâu qua từng chặng đời. Mỗi ngày chúng ta thầm trừ đi một khoảnh khắc cuộc sống của mình. Khoảnh khắc quí giá nhất vẫn là thanh xuân. Khi tuổi trẻ bỏ xa người mỗi ngày một nhiều, chúng ta chắc sẽ không giữ nguyên vẹn mọi ước muốn, ngoài một nỗi buồn. Hiểu như vậy chúng ta hẳn thông cảm được với tác giả, và sự bi quan của ông cũng không có gì đáng ngạc nhiên:

Một chiều êm tay đan tay dìu nhau trên lối
Đưa em đi nhè nhẹ vào đời
Bằng vòng tay tôi nâng niu mùa thu thức giấc
Đưa em vào ngày tháng vỗ về
Kể từ em đem cô đơn mọc lên phố vắng
Khi em mang nụ cười khỏi đời
Từng chiều rơi nghe như cõi lòng mình tê tái
Ngỡ như đời còn gọi tên nhau

Ngày đó khi một lần, một lần tiếng hát
Đồng lõa đưa em vào vùng trời lấp lánh
Bằng những cánh sao trời đầy đôi mắt ngước trìu mến.
Em, em xa dần ngàn đời hoang vắng
tôi đi về buồn chưng kẽ tóc
bước chân này còn trọn kiếp hoang vu

Một mình đi lang thang trong mùa đông rét mướt
nghe bơ vơ hồn mình lạc loài
Buồn dậy lên trên dung nhan gầy xanh cuả tuổi
trên tháng ngày hằn vết đời mình
Trời mùa Đông hong khô đi niềm tin sỏi đá
trên đôi tay này mình còn gì
Và giòng sông trôi đi vô tình mang tất cả
cuộc đời này của người hay tôi

Con Sóng Tình Vỗ mãi một âm quen hay con sóng tình vỗ mãi một âm quên. Cả hai chữ cuối cùng “quen” hay “quên” đều có cái hay riêng của nó. Vượt qua tất cả những biến động bên mình để vỗ lại, hát lại một âm điệu quen thuộc, xưa cũ đầy dấu yêu quả thật chân tình. Cũng gạt bỏ mọi chuyện để nhắc nhở lại một âm điệu đã quên từ lầu, nay bất ngờ có cơ hội nhắc lại, lặp lại, vỗ lại, như một thức tỉnh không phải thiếu thi vị. Chúng ta hãy lắng nghe Trên Ngọn Tình Sầu, và tự chọn cho mình một chữ thích hợp, trong ca khúc mà có nhiều bản viết không thống nhất hai từ Quen hay Quên.

Hạnh phúc tôi hạnh phúc tôi
Từ những ngày con nước về
Ngoài trời mưa mau ngoài trời mưa mau
Tay vuốt mặt không cùng
Bầy sẻ cũ hom hem
Chiều mái xám rêu xanh
Trời êm cao chân nhỏ
Cũng không về trên dòng sông tội lỗi
Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh
Môi thâm khô từ thuở định hôn người
Ngày tháng hạ khi không mà trở rét
Giọt nắng vàng lung linh màu lạnh ngắt
Sao khi không người ngoảnh mặt kiêu sa

đk:

Chiều qua đó chân ai còn ríu rít âm thưa
Lời ai ru như mơ cho trời xuống thật gần

Người trông ngóng hương đưa mùi mái tóc đêm mưa
Nhẹ theo lá oan khiên lả tả mái hiên người

Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh
Còn dế buồn tự tử giữa đêm sương
Bầy sẻ cũ cũng qua đời lặng lẽ
Em ở đó bờ sông còn ẩm cát
Con sóng tình vỗ mãi một âm quen

Trên Ngày Tháng Đã Qua, như một hoan hỷ ca. Để chuẩn bị cho sự lạc quan, Từ Công Phụng đưa ra những giọt lệ của những cuộc tình không trọn. Đây chính là phó bản thường có của cuộc đời thường. Niềm tin lẫn âm nhạc sẽ là những cứu cánh, người nhạc sĩ đã cổ võ một cách tích cực, rút từ vốn sống của ông.

Rung một cánh nhạc buồn
Phím có hay người khóc trên cung đàn lẻ loi
Rơi một ngấn lệ sầu
Có ai hay người khóc cho duyên tình bẽ bàng
Rung một cánh nhạc buồn
Rơi một ngấn lệ sầu
Có ai hay người khóc trong tinh cầu lẻ loi
Ngoài kia mưa là những giòng lệ rơi
Theo cuộc tình khi cơn bão đi qua đời mình
Người ơi, người ơi tìm đâu thấy nửa đời xuân thắm
Với tình yêu chúng ta như giọt sương sớm mai
như giọt sương sớm mai long lanh trên cánh hoa vàng
Gom môt chút nắng vàng
Hát lên soi hạnh phúc trên tháng ngày đã qua
Em nhìn thấy chút gì
Có phải chăng rạn vỡ trong tâm hồn chúng ta
thôi còn ngấn lệ này với một chút nhạc buồn
Hát lên cho đời sống vơi đi niềm đớn đau

Có lẽ cuộc sống trở nên xinh xắn hơn, đậm đà hơn nếu đời người có những lần được thất tình. Tôi ngờ rằng một số thi nhạc sĩ và những người sinh hoạt văn nghệ khác thường mong mỏi cho mình gặp được những cảnh ngộ thấm thía như thế.

Nhạc sĩ Từ Công Phụng được bao nhiêu lần khóc vì người yêu. Có thể có và cũng có thể không. Nhưng ông vẫn viết những ca khúc đau lòng, vì nhiều người, vì chính chúng ta có thói quen tâm đắc với chuyện tan vở. Giọt Lệ Cho Ngàn Sau có lẽ sẽ còn được nhiều thế hệ sau cho tiếp tục chảy.

Lối rêu xưa sẽ mờ dấu chân người
người buồn cho mai sau, cuộc tình ta tan mau
Thoáng như chiếc là vàng bay
mùa thu qua, mùa thu qua hững hờ
Nhìn nhau cho thêm đau, nhìn nhau cho mưa mau
Mưa trên nụ cười mưa trên tình người
lệ nào em sẽ khóc ngàn sau

Với đôi tay theo thời gian tôi còn
một trời mây lang thang, một mình tôi lang thang
Lá vẫn rơi bên thềm vắng
từng thu qua, từng thu qua võ vàng
Nhìn nhau cho thêm đau, nhìn nhau cho mưa mau
Mưa trên cuộc đời mưa như nghẹn lời
lệ này em sẽ khóc ngàn sau …

Một mai khi xa nhau
người cho tôi tạ lỗi
dù kiếp sống đã rêu phong rồi
Giọt nước mắt xót xa
nhỏ xuống trái tim khô một đời tôi tê tái

Lắng nghe muôn cung sầu hắt xuống đời
Một trời tôi thương đau, một trời em mưa mau
Sống buông xuôi theo ngày tháng
từng thu qua vời trông theo đã mờ
Lệ rơi trên tim tôi, lệ rơi trên đôi môi
Yêu nhau một thời xa nhau một đời
Lệ này em nhỏ xuống hồn tôi
Yêu nhau một thời xa nhau một đời
Lệ này em nhỏ xuống hồn tôi…

Nội dung của một bài thơ, một ca khúc có giá trị thật sự vốn không cần phải minh họa, phụ diễn hoặc ăn ké vài lời đẩy đưa. Nhạc Từ Công Phụng nói chung hay ca khúc Kiếp Dã Tràng nói riêng, có sức sống mạnh mẽ trong giới thưởng ngoạn. Nghe những lời ba hoa bên lề ca khúc không thể nào tịnh tâm đi cùng âm thanh mà Từ Công Phụng đã đem lại cho chúng ta. Lời giới thiệu lúc nào cũng đứng khiêm nhường trong cái duyên phải có rất khiêm nhường của nó. Xin hãy nghe Từ Công Phụng quan niệm về cuộc đời qua ca khúc Kiếp Dã Tràng :

Chiều vàng vương gót mỏi ta dừng chân phiêu du
Lặng nghe sóng gọi ngọt ngào
Hàng dừa nghiêng bóng ru nhau thầm thì lời âu yếm
Dìu nhẹ đôi cánh mềm rã rời
Đàn chim bé nhỏ ngập ngừng
Nhẹ hương gió đưa về khoảng trời cũ

Một mình ta đứng nhìn mối tình duyên tan theo
Ngàn con sóng gào bạc đầu
Nhẹ sầu lên dấu chân ghi cuộc tình nhòa trên cát
Lời người nghe đã chợt lạc loài
Trên thân dã tràng tủi phận
Hoài công tháng năm xe cát biển Đông

Thời gian như ngừng trôi giữa chiều tàn tạ
Thầm gọi tên người đã vắng xa phương trời
Cuộc tình như cơn lốc mang theo hồn người
vào trùng dương khép kín u mê ngàn đời
Tình người đâu có thấu cho ta?

Thân mang kiếp dã tràng đem đời xe tơ duyên
Trên bãi cát vàng hão huyền
Chợt nghe lớp sóng xô lên đời mình nhiều cay đắng

Cuộc tình trên tháng ngày muộn phiền

Còn in vết hằn đời mình
Người ơi hãy ru tình ta vùi quên

Thời gian như ngừng trôi giữa chiều tàn tạ
Thầm gọi tên người đã vắng xa phương trời
Cuộc tình như cơn lốc mang theo hồn người
vào trùng dương khép kín u mê ngàn đời
Tình người đâu có thấu cho ta?

Thân mang kiếp dã tràng đem đời xe tơ duyên
Trên bãi cát vàng hão huyền
Chợt nghe lớp sóng xô lên đời mình niềm cay đắng
Cuộc tình trên tháng ngày muộn phiền
Còn in vết hằn đời mình Người ơi hãy ru tình ta … vùi quên

Với cuộc đời, trong một khoảnh khắc buồn bất chợt, Từ Công Phụng chợt nhận ra Đời Bỗng Phù Du. Và trên lưng của tháng ngày, có thể ông đã soi vào quá khứ lẫn tương lai, để kịp phát hiện mình là một người mộng du. Rồi buồn chán lẫn sợ hãi, ông nhìn chung quanh. Không gặp một cứu rỗi nào. Mà tìm thấy một loài cỏ dại buồn tênh, an phận với cuộc đời chênh vênh thầm lặng. Ám ảnh bởi sự sinh tồn mỏng mảnh của đời người, Từ công Phụng không thấy được sự thong dong của cỏ cây. Trong liên tưởng, ông nhận ra sự đồng cảnh với mình bởi những đam mê thường dẫn đến chia ly. Những cố gắng vươn sống cũng trở thành công dã tràng. Thê thảm hơn, ông còn chợt nhận ra mình là một dòng sông cạn, mệt nhoài bởi những nghiệt ngã của cuộc tình, cuộc đời. Rất may, trong phút giây ngã lòng đó, người nhạc sĩ kịp nhận ra cái phù du cũng chính là cái thiên thu của lẽ sống còn và không thể làm gì khác hơn là ký thác lòng mình, tình mình vào âm nhạc:

Tôi như người mộng du
sống cuộc đời bềnh bồng
ngó quanh đời quạnh hiu
buồn rơi theo năm tháng
chết trên lưng tháng ngày
tôi như loài cỏ dại
tôi như loài cỏ dại
suốt một đời chênh vênh
suốt một đời buồn tênh
em có thương thì xin
chút hiền ngoan thật lòng
vì cõi đời này là những đam mê
là những chia ly
là những đớn đau lẻ loi
nên vẫn hoài công đi se cát biển
nhớ mênh mông tình vẫn như không đời…đời
tôi như dòng sông cạn
uốn quanh đời mệt nhoài
cuốn theo dòng nghiệt ngã
buồn rơi theo năm tháng
úa trên lưng tháng ngày
tôi mang hồn cỏ dại
ngây ngô tự hỏi lòng
bỗng một ngày thiên thu
bỗng một đời phù du

Tuy vậy, cánh tay cứu rỗi của giai điệu, âm thanh… chưa và có lẽ còn rất lâu, mới đủ khả năng loại bỏ con người bi quan, đang sống nhờ trong tâm hồn Từ Công Phụng. Và vì thế, ông vẫn còn phải tiếp tục dựa vào âm nhạc để trôi trên lưng ngày tháng của ông. Nhờ đó từ năm 1995 đến năm 1997, giới yêu nhạc Việt Nam tiếp tục sưu tập những ưu tư, phiền muộn của người nhạc sĩ sinh ra từ xứ trầm hương này, qua các sáng tác Vẫn Một Đời Quạnh Hiu (1995), Một Góc Đời Phôi Pha (1997), Bên Kia Đời Quạnh Quẽ (1997)…

Hình như càng giàu tuổi đời, nỗi bi quan trước cuộc sống của Từ Công Phụng, càng phong phú. Nó giống như “tóc bạc, càng cắt càng dài ra” chăng ?… Khó có ai không thể không nghĩ về tuổi đời của mình. Ngày tháng trước mặt cứ tiếp tục hao đi. Thịt da thầm lặng thay đổi trong từng tí tắc, nhưng đâu dễ nhận ra. Càng ngó lui đời mình càng ngậm ngùi lo cho những ngày sắp tới. Cái lo, cái sợ đẻ ra cái cô đơn. Nếu may có chút tài vặt, viết chơi một đôi dòng, vẽ bậy vài hình ảnh… để lấp bớt khoảng trống. Còn không, đành phải đọc, phải nghe, phải nhìn.., nói chung là phải bám lấy một cái thích tình cờ nào đó.

Nằm nghe Từ Công Phụng tỏ tình qua tiếng hát của chính tác giả và nhiều ca sĩ tên tuổi khác, tôi chợt thấy thèm xem tận mắt những ca khúc họ Từ đã cho in, cho phát hành. Dĩ nhiên, không quên tò mò tìm hiểu một chút tiểu sử của tác giả.

Qua tài liệu của nhạc sĩ Trường Kỳ, và nhiều nguồn khác trên máy vi tính, tôi không tìm thấy năm sinh của Từ Công Phụng. Ở Tác Giả Việt Nam, Lê Bảo Hoàng ghi năm 1943 là năm đất Vân Lâm Ninh Thuận (thuộc Phan Rang), có ấu tử Từ Công Phụng ra đời trong nghi lễ Hồi Giáo hẳn hoi. Có thể chính xác và cũng có thể sai . Sai, đúng từ nguồn cung cấp. Nhưng điều chắc chắn là năm lên 18, Từ Công Phụng đã có ca khúc đầu tay. Và ca khúc trình làng đầu tiên rơi đúng vào năm thứ nhất của thập niên 60 với tên Bây Giờ Tháng Mấy ?… Từ đó đến nay, anh chàng tốt nghiệp cử nhân luật đại học luật khoa Sài Gòn, đã cho ấn hành bốn tuyển tập nhạc: Tình Khúc Từ Công Phụng (1968, tái bản 1969), Trên Ngọn Tình Sầu (1970, tái bản 1994), Giữ Đời Cho Nhau (1983 tái bản 1993), Một Góc Đời Phôi Pha (1999).

Lần mở từng tập nhạc có trong tay, chỉ cần dựa vào các tên bài (Bây gìờ tháng mấy 1 &2, Mùa xuân trên đỉnh bình yên, Mùa thu mây ngàn, Trời về đêm mưa, Còn một buổi chiều, Người về trên mây, Vùng trời kỷ niệm, Lời của thành phố, Đêm độc thoại, Tuổi xa người, Ngồi bên nhau, Vào mưa – Trên ngọn tình sầu, Kiếp dã tràng, Mưa trên ngày tháng đó, Từ khúc, Giọt lệ cho ngàn sau, Rời nhau, Như ngọn buồn rơi, Xứ thâm trầm, Lời của mẹ, Đêm không cùng, Lời Cuối, Mòn mỏi – Giữ đời cho nhau, Qua vùng biển nhớ, Hóa kiếp, Mắt lệ cho người tình, Nằm nghe em hát trên vùng biển, Một thoáng nhìn nhau, Tình tự mùa xuân, Một mình trên đồi nhớ, Thiên đường quạnh hiu, Trên tháng ngày đã qua, Như chiếc que diêm, Mùa xuân và tình yêu em – Khi tôi đến nơi đây, Đời bỗng phù du, Vẫn một đời hiu quạnh, Một góc đòi phôi pha, Bên kia đời quạnh quẽ, Mãi mãi bên em, Âm thầm mưa, Hóa thạch, Mây hồng, Giận hờn, Lối mòn thiên cổ, Đừng nữa nhé chia lìa), chúng ta quả có thể tin rằng: càng có thêm tuổi đời, Từ Công Phụng càng để mắt đến cuộc đời. Có lẽ vì vậy sự lạc quan trước cuộc sống ở trong ông vơi đi nhiều. Nhà thơ Ngu Yên, trong bài tựa cho tập Một Góc Đời Phôi Pha đã nghiệm thấy:

“…Đối diện với sinh tồn mong manh, ly tán thường tình, người nghệ sĩ thỉnh thoảng vẫn ngạc nhiên. Ngạc nhiên, có lẽ là một trong những điểm khác biệt giữa nghệ sĩ và người thường. Hàng ngày, nghệ sĩ vẫn tiếp tục ngạc nhiên về những sự kiện chung quanh. Nhờ ngạc nhiên, họ tiếp tục sáng tạo một cách nhìn mới, một ý nghĩa mới, hay một cảm xúc cá biệt về một điểm rất quen thuộc, có khi rất nhàm chán. Ngạc nhiên là tín hiệu của cô đơn. Bởi vậy, dưới bất cứ một góc nhìn nào, nghệ sĩ mãi mãi là người cô đơn…”

Từ Công Phụng càng ngày càng giàu cô đơn ra thật. Chuỗi cô đơn của ông có lẽ còn kéo dài vô cùng tận. Bởi như xác quyết của nhà thơ Du Tử Lê:

“…Qua, dòng sông âm nhạc mang tên Từ Công Phụng, tôi chợt hiểu, âm nhạc khởi đi từ những trái tim tài hoa lớn, là một gắn bó vượt khỏi biên giới một không gian, xóa bôi được mọi lằn ranh hữu hạn vắn vỏi năm, tháng…”

Du Tử Lê không quên quả quyết đánh giá, Từ công Phụng đã biến đời thường của ông thành “Đời nhạc Từ Công Phụng, khởi nguồn, đã tự mặc khoác lấy cho chúng tính bất biến của định mệnh. Định mệnh của/ đời trăng không già/mặt trời mãi thổn thức…”

Còn rất nhiều nhận xét về nhạc Từ Công Phụng. Những nhận xét đã hiện thành chữ, đã in lên giấy. Những nhận xét vĩnh viển tiềm ẩn trong đầu, có hoặc không thể hiện thành động tác gật gù, nho nhỏ hát theo, hoặc trầm tư xa vắng…Những cảm nhận mặc nhiên là những đánh giá. Cảm nhận của anh, cảm nhận của chị, cảm nhận của tôi, cảm nhận của mỗi người trong chúng ta luôn luôn có thật, luôn luôn xảy ra. Không có chúng, chúng ta sẽ không tìm nghe lại, không tìm nghe thêm. Thích, mê, tâm đắc hay bất cứ một ràng buộc vô hình nào khác, cũng khởi từ cảm nhận, đánh giá. Riêng với Từ Công Phụng, nghĩ và viết về nhạc của ông còn rất nhiều người. Ở đây, tôi xin trích thêm một nhận xét, mà tôi tin rằng tương đối gần với trình độ thưởng ngoạn âm nhạc của đại đa số bình thường:

“…Khởi đi từ Bây giờ tháng mấy, những tình khúc Từ Công Phụng như những đợt sóng biển tiếp nối nhau vỗ về cõi lòng của những người trẻ thuộc nhiều thế hệ. Chẳng có cuộc tình nào giống cuộc tình nào. Mỗi cuộc tình là một tế giới riêng lẻ. Mỗi ánh mắt là một tín hiệu âm thầm. Mỗi nụ cười là một hân hoan nhớ đời. Mỗi giọt nước mắt là một mất mát khó quên. Tình ca Từ Công Phụng đã len lỏi vào từng thế giới thân thiết đó.Chúng không phải là những tình ca lướt trên da thịt mà đã luồn lách vào từng giòng máu, từng hơi thở của những người yêu nhau…Từ Công Phụng đã cho những tình nhân thứ ngôn ngữ đằm thắm, thâm trầm đầy trí tuệ…”

Lời bạt của nhà văn Song Thao dành cho tập Một Góc Đời Phôi Pha, trích trên, quả thật sáng sủa và có giá trị chính xác cao.

Để kết thúc những dòng tán gẫu này, thay vì cảm ơn Từ Công Phụng, tôi chợt quyết định bán cái cho ông cái quyền ngỏ lời cùng chúng ta. Thế mới thật thú vị:

“Tình ca như những dòng sông hiền hòa chảy hoài từ ngàn kiếp. Đó là thứ hạnh phúc bắt gặp trong buổi sáng nắng dậy chan hòa, vcó bông hoa nở rộ và chim muông ngợi ca một ngày mới bắt đầu bằng nụ hôn nồng ấm của đôi tình nhân.

Tình ca là những lời phủ dụ ngọt ngào của tình yêu như dòng suối róc rách từ thiên thu dành cho đôi tình nhân của bao miên man thế hệ, như một kẻ đồng lõa cho sự tồn tại của nhân loại.

Xin cảm ơn Đấn Tạo Hóa đã ban cho loài người có trái tim biết rung động, có tâm hồn biết thổn thức để tình yêu và cuộc đời còn được thăng hoa bằng những bản tình ca.

Nếu chim muông chỉ có một thời để ca hát, cỏ cây chỉ có một thời ssể xanh tươi, và loài người chỉ có một thời để sống và một thời để chết, thì xin hãy hát lên những bản nhạc tình để ngợi ca một thời để sống trước khi bước vào những nỗi khốn cùng buồn thảm của cái chết lẻ loi.

Bởi vậy, tình ca là con đường tôi đã chọn và cưu mang một đời.Dù tôi có là chứng gian cho những cuộc tình không thực, nhưng ít ra tôi đã mang đến một chút hạnh phúc nhỏ nhoi, một chút kỷ niệm khó phai mờ cho những kẻ tình nhân của một thời yêu thương say đắm…

Xin cảm ơn những kẻ tình nhân đã nâng niu những bản tình ca của tôi từ những thập niên qua như là nhân chứng cho tình yêu của mình, dù chúng có mang những nỗi hân hoan trong đôi mắt hay nụ cười, dù chúng có chứa chan những giọt lệ ngậm ngùi cho một đời tình ngắn ngủi.

Xin các bạn hãy mở những trang tiếp theo, và hãy hát cho nhau nghe những lời tiếp tục ngợi ca tình yêu – cho tôi hay cho các bạn – vẫn mong là nỗi niềm của chúng ta một đời thủy chung dâng hiến”

Luân Hoán

Trung tâm Văn bút VN Hải Ngoại: Văn Đàn Lá Phong

posted Apr 23, 2020, 5:58 AM by Le Phan   [ updated Apr 23, 2020, 3:25 PM ]

Thân chào quý vị,
Trung tâm Văn bút VN Hải Ngoại vùng Quebec-Ontario 
thân chuyển đến quý vị một cuốn sách Văn Đàn Lá Phong dưới dạng PDF do Trung Tâm thực hiện. 
Thân mời quý vị vào xem...
Thân mến

Quý vị muốn xem xin vui lòng lấy file dạng PDF 
xuống để xem... (Ở phía dưới của trang)
xin cảm ơn


Sưu tầm văn học nghệ thuật: Nguyễn Ngọc Duy Hân

posted Mar 29, 2020, 5:53 AM by Le Phan

Hân hạnh giới thiệu 
Nguyễn Ngọc Duy Hân
Một nhà thơ, một nhà văn cũng là một họa sĩ, Duy & Hân hiện định cư tại Toronto, Canada. Các bút hiệu: Trịnh Tây Ninh, Ái Miên, Nguyễn Ngọc Duy Hân, Nguyễn Ngọc Duy

Tuyển tập gồm 100 bài viết đã đăng trên tuần báo Thời Mới Canada, từ số 101 tới 199 - viết trong khoảng tháng Ba 2018 tới tháng Ba 2020.  Mỗi trang là một bài viết ngắn, có khi chen vào vài câu thơ hoặc câu danh ngôn, cũng có khi là câu chuyện bằng tranh cho trẻ em học tiếng Việt.

Mời bấm vào đọc sách dạng e-book, lật từng trang như sách thật
Nếu ô quảng cáo hiện ra, bấm X để tắt đi.


Mời bấm vào xem Viết Cho Yêu Thương # 2 dạng PDF

Tuyển tập "Viết Cho Yêu Thương" số 1 gồm 100 bài từ số 1 tới 100 


Về Miền Quá Khứ - Tập Nhạc Chép Tay
Đây là tập nhạc Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, nhạc Tiền Chiến và nhạc Trẻ thời đó được chép bằng tay.

Thời gian sau 1975, sách, nhạc Vàng bị đốt, mấy chị em đi mượn và bỏ giờ ra ngồi chép lại từng bản nhạc để giữ làm kỷ niệm. Tính tới nay sách đã cũ hơn 40 năm.

Mời bấm vào đọc Tuyển tập "Những Viên Sỏi Nhỏ" 

"Đất Cũ" tập chuyện ngắn - Duy Hân thực hiện

Nỗi Niềm Riêng Ta - Tập thơ bút hiệu Trịnh Tây Ninh

Mời bấm vào xem trang blog của Duy Hân, gồm thơ nhạc, slideshow, hình ảnh

Bản Quốc ca "O Canada!" lời Việt

posted Feb 27, 2020, 4:52 PM by Le Phan

Vidéo YouTube


Toronto, 2017-06-27
Thư gửi quý vị lãnh đạo tôn giáo, hội đoàn và chủ biên báo chí truyền thông.

Kính thưa quí vị,

Chúng tôi được biết Toronto Symphony Orchestra nhân dịp kỷ niệm Canada 150 năm lập quốc đã thâu hình và phổ biến Quốc ca Canada hát bằng 12 thứ tiếng trên TSO Canada Mosaic Web site (http://canadamosaic.tso.ca/anthem/). Do đó chúng tôi đã có dự án soạn và phổ biến lời Việt cho bản Quốc ca Canada để cộng đồng người Việt của chúng ta có thể góp mặt với các sắc dân khác trên trang mạng của TSO.

Kết quả khởi đầu của dự án chúng tôi gồm có:
-  Lời Việt bản Quốc Ca "O Canada!" do Bắc Phong soạn.
-  Bản dịch lời Việt Quốc ca Canada sang tiếng Anh của Nguyễn Đình Phương.
-  Bản Quốc ca "O Canada!" lời Việt dưới dạng MP3 do Đoàn Chính hát với nhạc đệm của dàn nhạc giao hưởng TSO.
-  Youtube video bản Quốc ca "O Canada!" lời Việt (https://www.youtube.com/watch?v=6BLN9xnuvRE)

Chúng tôi đã liên lạc với Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải và được ông khích lệ cũng như yểm trợ tích cực dự án qua những hành động cụ thể như:
-  Đệ trình lên thượng viện Canada ngày 20 tháng sáu bản quốc ca Canada lời Việt để được ghi nhận và lưu trữ.
-  Phổ biến bản Quốc ca Canada lời Việt trên trang Web của ông (http://senatorngo.ca/).
-  Viết văn thư cho TSO yêu cầu họ phổ biến thêm bản tiếng Việt Quốc ca Canada lên trang mạng TSO.

Chúng tôi hy vọng dự án này cũng sẽ gây được sự hưởng ứng sâu rộng trong cộng đồng để chúng ta sẽ có thể cùng hát bản quốc ca Canada bằng tiếng mẹ đẻ mỗi khi chào cờ Canada trong những buổi sinh hoạt cộng đồng.  Chúng ta có thể hát bản quốc ca Canada bằng tiếng Việt hay bằng tiếng Anh, Pháp cùng với tiếng Việt tùy theo tinh thần và phương thức tổ chức của mỗi buổi sinh hoạt.

Do đó chúng tôi viết thư này để thỉnh cầu sự trợ giúp của quý vị trong việc giới thiệu bản Quốc ca Canada lời Việt đến tất cả những Cộng đồng người Việt tại Canada bằng cách:
-  Phổ biến bản ký âm Quốc ca Canada lời Việt trên báo chí và trang mạng truyền thông.
-  Phân phối bản in nhạc Quốc ca Canada tiếng Việt cho đồng bào trong các buổi sinh hoạt cộng đồng và mời đồng bào hát theo nhạc phát thanh.

Trong tinh thần phục vụ cộng đồng bất vụ lợi, chúng tôi rất mong được quý vị yểm trợ để dự án này được hoàn thành tốt đẹp nhân dịp kỷ niệm 150 năm lập quốc Canada.

Trân trọng,


Đinh Ngọc Bôi, điều hợp viên dự án 
Trần Thái Lực, thành viên
Nguyễn Đình Phương, thành viên
Đoàn Chính, thành viên
Kiều Duy Phong, thành viên
Nguyễn Hải Việt, thành viên

TS TRƯƠNG CÔNG HIẾU VỚI CÔNG TRÌNH TRƯỜNG TIỀN NƠI KINH THÀNH OTTAWA

posted Nov 25, 2019, 8:07 PM by Le Phan

TS TRƯƠNG CÔNG HIẾU VỚI CÔNG TRÌNH

TRƯỜNG TIỀN NƠI KINH THÀNH OTTAWA 


     

Ngày 17/11/2019, Liên Hội Người Việt Canada và Cộng Đồng Người Việt Ottawa dành cho tôi vinh dự thuyết trình giữa lòng thủ đô Canada. Nghi thức chào quốc kỳ Canada và VNCH do ban Thủ Đô đồng ca là một sự tiếp nối giữa quê nhà và quê người. Trong số đồng bào ưu tư về tiền đồ đất nước tham dự có những vị đến từ Little Saigon bên nước Mỹ và các đô thị cận kề như Montréal, Québec ; còn lại là kinh thành Ottawa. Trong số các thân hữu hiện diện có tiến sĩ Nguyễn Hải Bình, nguyên giáo sư Đại học Luật Khoa Saigon tiêu biểu cho giới sĩ phu của VNCH cùng với phu nhân là nhà văn Nguyễn Lệ Châu, luật sư Lâm Chấn Thọ, người khởi xướng việc phục hoạt hiệp định Paris 1973, tiến sĩ Trương Minh Trí của Liên Hội Người Việt Canada, nhà hoạt động cộng đồng Lê Phan, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Ottawa, tiến sĩ Trương Công Hiếu và phu nhân Hiếu Tâm. Ngày hôm sau (18/11), tiến sĩ Trương Công Hiếu, nhà nhiếp ảnh Trần Hy Hiền, trưởng nam của GS Trần Chánh Thành, cựu ngoại trưởng VNCH, hai thân hữu Lê Phan và Chung Thế Hùng đã hướng dẫn tôi đi thăm một số di tích lịch sử của kinh thành Ottawa, trong số có cầu Trường Tiền.

Thật đúng là duyên kỳ ngộ, ‘‘hữu duyên thiên lý năng tương ngộ’’ (有緣千里能相遇), vì cái tên ‘‘Trường Tiền’’ (場錢) có cấu trúc gần giống cầu sắt Alexandra nối liền Ottawa và Gatineau.

Hữu duyên, vì cái tên tiền định ‘‘Trường Tiền’’ của cố đô Huế còn có nghĩa là xưởng đúc tiền. Cầu ‘‘Trường Tiền’’bắc ngang sông Hương có từ năm 1899. Trường Tiền có nghĩa là xưởng đúc tiền. Đồng tiền do cơ xưởng đúc có bốn chữ Cảnh Hưng Thuận Bảo :   

Ngoài cây cầu Trường Tiền, thủ đô Ottawa còn có xưởng đúc tiền (mint). Anh Lê Phan đã giới thiệu sở Trường Tiền của kinh thành Ottawa như sau : ‘‘Trong quyển sách ‘‘Lịch sử 100 năm của Nhà máy Đúc tiền Hoàng gia Canada’’ (Royal Canadian Mint 100 Years of History), tiến sĩ Trương Công Hiếu đã được ghi nhận là người đầu tiên trên thế giới đã thay đổi hệ thống đúc tiền bằng những kỹ thuật dùng kim loại và thép để làm cho đồng tiền mỏng hơn, nhẹ hơn và không bị rỉ sét.’’ (trích website Viet Vancouver).

Hình chụp tiến sĩ Trương Công Hiếu trên tựa đề bài viết, phía trái đen trắng khi còn ở quê nhà, mắt hướng về tương lai. Phía bên phải nơi xứ người, mắt nhìn về cố hương. Năm 2006, ông đảm nhận chức vụ Tổng Giám Đốc Kỹ thuật của Sở Trường Tiền Canada (Royal Canadian Mint). Ngày 16/03/2018, vị Toàn quyền Canada ban tặng cho ông Huân chương Canada (Ordre du Canada). Huân chương này có từ năm 1967 là huy chương cao quý nhất của Canada, tưởng thưởng những vị cống hiến những công trình đặc biệt cho đất nước Canada.

 Anh Lê Phan còn cho biết tiến sĩ Trương Công Hiếu đã có công :

- tinh chế 4 số 9 (.9999), được dùng làm tiêu chuẩn quốc tế từ năm 1982 ;

- phát minh [COLOR=maroon], kỹ thuật sản xuất tiền xu với hình ảnh ba chiều (hologram).

Tôi có vinh dự được tiến sĩ Trương Công Hiếu trao tặng đồng tiền Canada, một công trình tim óc của tiến sĩ, được tác giả Albert M. Bech ghi nhận như sau :

‘‘Trong 40 năm vừa qua, người có nhiều công lao nhất trong sự tiến bộ về ngành đúc tiền, người đã đóng góp nhiều nhất những kiến thức mới về ngành đúc tiền trên thế giới chính là Tiến sĩ Trương Công Hiếu của Sở Đúc tiền Hoàng gia Canada (trích Story of World Money Fair, Berlin).

Nhờ sáng chế của tiến sĩ Trương Công Hiếu, đồng tiền Canada phát hành năm 2010 còn đem cả chiếc lá Érable nhuộm đỏ, quốc huy của Canada, sát cánh cùng (érable) sắc vàng, quốc kỳ VNCH.

Biểu tượng vừa kể mà tiến sĩ Trương Công Hiếu thể hiện trên đồng tiền Canada chính là hành trình từ quê nhà đến quê người của ông, làm rạng danh quê cha đất tổ, nơi có cây cầu Trường Tiền bắc ngang đất Thần Kinh.

Tôi mạo muội có bài đường thi cổ kính, riêng tặng tiến sĩ Trương Công Hiếu và phu nhân, để ghi lại kỷ niệm kinh thành Ottawa, nơi có Cơ xưởng Trường Tiền Hoàng gia Canada :

 

Sắc thắm hoàng kỳ mãi vẫn kiêu

Đồng tiền ‘‘Tiến sĩ’’ Hiếu in nhiều

‘‘Trường Tiền’’để lại cho nhân thế

Phát minh tiền bạc có ba chiều

Trí tuệ quê nhà được kính nể

Tâm huyết họ Trương có tuyệt chiêu

Lá vàng Érable, quê hương Việt

Phất phới tung bay thật mỹ miều.

 

 

 

Paris, 25/11/2019

Niagara Thác Đổ

posted Nov 25, 2019, 7:58 PM by Le Phan

Niagara Thác Đổ


Còn hơn hai tháng nữa, tôi mới có dịp đến thuyết trình ở Ottawa nhưng Niagara thác đổ dường như đã ầm vang trong tâm tưởng. Niagara Canada khiến tôi bồi hồi nhớ lại  Gougah của Đà Lạt năm xưa, tuy không hùng vĩ bằng, nhưng còn mang nguyên vẹn nét hoang sơ của núi rừng cao nguyên.

Niagara trong ký ức tôi, ngoài tiếng thác đổ, còn là bút ký của Chateaubriand. Năm 2009, Sébastien Baudoin soạn luận án tiến sĩ về ‘‘La poétique du paysage dans l’œuvre de Chateaubriand’’ nói nhiều về chất thơ trong văn Chateaubriand.

Đoạn văn ‘‘Dans les forêts du Nouveau-Monde’’ mở đầu bằng một ý tưởng chen lẫn giữa nhạc và thơ như sau : ‘‘Một đêm lạc bước trong khu rừng ngút ngàn, không xa thác Niagara ; tôi chợt thấy ánh chiêu dương tắt dần và cảm nhận trong nỗi cô liêu của núi rừng, cảnh trí tuyệt đẹp một đêm nơi miền hoang dã của Tân Thế Giới.’’

Trong đoạn cuối, tác giả chuyển hóa bút ký thành một tấu khúc tuyệt vời : ‘‘Auprès, tout était silence et repos, hors la chute de quelques feuilles, le passage brusque d’un vent subit, les gémissements rares et interrompus de la hulotte ; mais au loin, par intervalles, on entendait les roulements solennels de la cataracte de Niagara qui, dans le calme de la nuit, se prolongeaient de désert en désert, et expiraient à travers les forêts solitaires.’’

Chateaubriand sử dụng bảy nốt nhạc trong thang âm, nốt rê lưu lạc gặp lại nốt rê cố cựu (gamme dorienne). Nào ta hãy cùng nghe khúc nhạc dồn của tiếng thác Niagara, qua ngòi bút Chateaubriand :

‘‘(enten)dait, (prolon)geaient, (dé)sert, (dé)sert, (expi)raient, (tra)vers, (soli)taires.’’

Đó chính là tiếng thác đổ ngoài thiên nhiên và trong trong ngôn ngữ : ý tại ngôn ngoại (意在言外).

Về ngôn từ, Chateaubriand viết ‘‘cataracte’’ thay vì ‘‘chute’’. Cataracte, gốc hy lạp, ghép lại hai chữ ‘‘kata’’ (bên dưới) và ‘‘rasso’’ (vỡ tan), vẽ nên một bức tranh nhân sinh. Ngọn nước từ lưng trời, đổ xuống thế nhân, vỡ tan thành bụi mờ trắng xóa.

Tác giả dùng thì ‘‘imparfait’’, gốc tiếng latin, có nghĩa là dang dở. Cách dụng ngữ tượng thanh, là tiếng thác đổ tiếp nối chập chùng, giống như khúc đàn dang dở : ‘‘Symphonie inachevée’’.

Đoạn văn của Chateaubriand rất khó dịch, tôi mạo muội chuyển ngữ với 7 chữ vần trắc : ắt, thể hiện bảy nốt nhạc trong nguyên bản tiếng Pháp.

‘‘Quanh đây hoàn toàn tĩnh lặng, ngoài vài chiếc lá rơi xào xạc, một cơn gió thoảng qua, tiếng chim rừng nức nở. Ngoài chốn xa, tiếng thác Niagara từng chặp đổ xuống hùng vĩ, trong đêm khuya vắng ngắt, nỗi se sắt chạy dài trong hoang vắng triền miên, chìm lắng giữa núi rừng vắng lặng.’’

 

Ý thơ của Chateaubriand hóa thân vào vần thơ Việt :

 Từ trời thác đổ xuống sườn non

Quạnh quẽ duyên trao phận mỏi mòn

Tháng đợi năm chờ sầu lặng lẽ

Duyên kiếp lỡ làng nước cuốn tuôn.

 

Rừng cây bát ngát quanh triền đá

Lẳng lặng mà nghe thác đổ dồn

Biếng nhác chim rừng buồn chẳng hót

Mây bay gió cuốn tựa cung đàn !


Cầu Trường Tiền...

posted Nov 25, 2019, 7:54 PM by Le Phan

CẦU TRƯỜNG TIỀN
   
 
Quốc Văn Giáo Khoa Thư kể lại câu chuyện như sau :
 ‘‘Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, làng xóm, láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi : Ông đi du sơn du thủy, thế tất đã trông thấy nhiều cảnh đẹp. Vậy ông cho ở đâu là thú hơn cả. Người du lịch đáp lại rằng : Cảnh đẹp mắt tôi trông thấy đã nhiều, nhưng không đâu làm cho tôi cảm động, vui thú bằng lúc trở lại chốn quê hương, trông thấy cái hàng rào, cái tường đất cũ kỷ của nhà cha mẹ tôi. Từ cái bụi tre ở xó vườn, cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi ra cho tôi những mối cảm tình chứa chan, kể không sao xiết được.’’

Khách du lịch đã nói thay tâm trạng người viễn xứ. Sau chiều 17/11/2019 thuyết trình, do Liên Hội Người Việt Canada và Cộng Đồng Người Việt Ottawa tổ chức, tiến sĩ Trương Công Hiếu, họa sĩ Lê Phan hướng dẫn tôi đi thăm thủ đô Ottawa. Phía sau Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật phủ lớp tuyết trắng xóa, anh Lê Phan dẫn tôi đến ven sông, chỉ cho xem chiếc cầu sắt phía xa mà anh đặt tên là cầu Trường Tiền. 

Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy sen thì nhớ đồng quê Tháp Mười.  

Còn người bạn tri kỷ ở Ottawa, thấy cây cầu sắt bắc ngang sông Ottawa, lại nhớ cầu Trường Tiền xứ Huế : 
‘‘Cầu Trường Tiền sáu vài, mười hai nhịp
Em qua không kịp tội lắm anh ơi
Mấy lâu ni mang tiếng chịu lời
Có xa nhau chăng nữa, cũng tại ông trời mà xa’’

Cầu sắt Alexandra nối liền thủ phủ của Canada (Ottawa) và tỉnh lỵ Gatineau, dài 6 nhịp (arches). Cầu Trường Tiền bắc ngang sông Hương có 12 nhịp, từ thời vua Lê Thánh Tôn kết bằng song mây, sau đổi thành gỗ, mãi đến đời vua Thành Thái, kỹ sư Gustave Eiffel mới biến thành thép vững vàng.

Khi viết về mảnh đất quê hương, nhà văn Chateaubriand cho rằng sỏi đá cũng phải ngậm ngùi : ces cailloux, qui prennent la parole, offrent de plus une sorte de personnification presque inconnue. Huống hồ là cây cầu bắc ngang đất Thần Kinh, gợi nhớ Bát nhã Tâm kinh : Gate, gate, paragate, parasamgate, Bodhi, svaha. (Vượt qua, vượt qua, vượt qua bờ bên kia, hoàn toàn vượt qua, hoàn toàn giác ngộ). Khi đặt tên cho cầu sắt bắc ngang sông Ottawa là Trường Tiền (場錢), hẳn là anh Lê Phan nhớ đến Vài nét Huế của nhà thơ Nguyễn Bính :

Cầu cong như chiếc lược ngà
Sông dài mái tóc cung nga buông hờ
Đôi bờ đôi cánh tay vua
Cung nga úp mặt làm thơ thất tình.

Ở đây áo tím riêng màu
Bài thơ nón mỏng che đầu mỹ nhân
Loanh quanh xóm vắng, đường gần
Ấy ai làm dáng phi tần với ai.

Con sông không rộng mà dài
Con đò không chở những người chính chuyên.
Ở đây có nước sông Hương 
Có cây núi  Ngự, có đường Nam Giao.

Bồng bềng sáu nhịp cầu cao
Thờ ơ bóng mát nơi nào cũng xanh
Thâm u một dải hoàng thành
Đình suông con én không đành bay đi.

Con sông không rộng mà dài. Từ Bằng Lăng đến cửa Thuận An dài 33 km, so với sông Ottawa dài 1.197 km. Nhịp cầu uốn cong trông giống chiếc lược ngà. Chính vì hình tượng đó, cầu Alexandra mới hóa thân thành cầu Trường Tiền trong tâm tưởng người Việt viễn xứ.

Vì đã hứa với anh Lê Phan sẽ làm một bài thơ mang tên Cầu Trường Tiền, tôi xin có bài thơ đề tặng như sau :

Vắt vẻo cầu cong bắc ngang sông
Mười hai bến nước vẫn ngóng trông
Lạc nơi xứ lạnh toàn là tuyết 
Cây cành nặng trĩu những hoài mong.

Trường Tiền xứ Huế dấu bên song
Mây trôi nước cuốn vẫn trinh trong
Qua thôn Vỹ Dạ, cầu Gia Hội
Cuốn theo tâm sự nhịp cầu cong.

Hương giang chảy miết đến phương Đông
Cuốn theo lau lách bám ven sông
Lau còn nhớ mãi làng thôn cũ
Lách vẫn chờ mong, dạ mỏi mòn.

Alexandra nối bến sông
Đôi bờ kết lại tấc lòng son
Lưu thủy hành vân thôn Vỹ Dạ
Sóng vỗ chập chùng nước cuốn tuôn.


 

 Paris, 20/11/2019

GS. Lê Đình Thông - Thuyền Trăng Kính mừng sinh nhật bách niên của GS Vũ Quốc Thúc

posted Oct 21, 2019, 7:40 AM by Le Phan   [ updated Oct 21, 2019, 7:44 AM ]

GS. Lê Đình Thông – Thuyền Trăng
Kính mừng sinh nhật bách niên của GS Vũ Quốc Thúc


Sinh nhật trăm tuổi (16/09/2019) của GS Vũ Quốc Thúc nhằm rằm tháng tám năm Kỷ Hợi (13/09/2019), tuy xê xích ba ngày nhưng vẫn là ánh trăng rằm. Thầy trò cùng nhấp chén trà quê hương, trong khi chúng tôi ngâm nga hai câu thơ trong bài Mạn Hứng (漫興) của Nguyễn Trãi để chúc thọ thầy :

Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng

故山昨夜纏清夢

Nguyệt mãn Bình Than tửu mãn thuyền

月滿平灘酒滿船

Trăm năm chỉ là một con thuyền ‘‘trải qua các thời biến’’, như tựa cuốn hồi ký của thầy xuất bản cách nay đúng 10 năm (2009). Thuyền bách niên chuyên chở bao nhiêu nỗi u hoài thời thế, đến năm thứ 100 còn ngập ánh hào quang :

Thuyền trôi vẫn quyến sao đêm

Hào quang vẫn ngủ êm đềm trong mơ.

Vũ Hoàng Chương 

Trên bình diện nhân sinh, hào quang của bậc thầy đào tạo các môn sinh lúc nào cũng sáng tỏ. Trên bình diện quốc gia, hào quang bừng sáng, mai này sẽ đem lại tự do no ấm cho dân tộc. Thầy luôn vững tin vào tương lai đất nước :

Càn khôn ký bĩ nhi phục thái

乾 坤 既 否 而 復 泰,

Nhật nguyệt ký hối nhi phục minh.

日月 既 晦 而 復 明 。

(Càn khôn bỉ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh.)

Nguyễn Trãi

Tôi kính biếu Thầy ba tặng vật tinh thần đầy ý nghĩa của ba nhà báo CTKD :

Trăn Trở Cuối Đời của Hoàng Ngọc Nguyên. Tác giả xuất thân khóa I CTKD là nhà báo kỳ cựu, viết đều đặn bằng Việt ngữ và tiếng Anh-Mỹ, nhận lãnh trách nhiệm đệ tứ quyền với những nhận định sắc bén, luôn tôn trọng nhiệm vụ luận báo chí (déontologie du journalisme) từng được giảng dạy tại trường CTKD Đà Lạt. Tác giả đã dành một chương sách kể lại những kỷ niệm với GS Vũ Quốc Thúc, nói lên lòng tri ân và chúc thọ.

– Trang blog Thụ Nhân Bắc Một Nhịp Cầu do nhà báo Thạch Lai Kim, khóa I CTKD chủ biên, giới thiệu các Bản Tin của Thụ Nhân Paris, bài vở thơ văn thể hiện tinh thần tôn sư trọng đạo, theo truyền thống đại học nước nhà. Số lượt truy cập ngày 14/09/2019 :  274459.

– Trang website Diễn Đàn Thụ Nhân do nhà báo Võ Thành Xuân, khóa I CTKD, chủ trương, tập hợp các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà biên khảo CTKD trong nước và hải ngoại. Số lượt truy cập ngày 14/09/2019 : 393875.

Các công trình văn học trên đây minh chứng lời giảng dạy của thầy ở quê nhà luôn là khuôn vàng thước ngọc cho các môn sinh, theo đúng tôn chỉ Bách Niên Chi Kế Mạc Như Thụ Nhân (百年之計莫如樹人).

Hai ý nghĩa Thuyền Trăng (để chỉ thời gian) và Thụ Nhân (không gian) gom lại thành bài thơ chúc thọ GS Vũ Quốc Thúc như sau :

Thuyền trăng chở mãi đến trăm năm

Nợ nước lo tròn chẳng bận tâm

Chính Trị Kinh Doanh trường đại học

Kinh Bang Tế Thế quyết cùng làm

Trồng Người bách niên mà không mệt *

Tuổi hạc da mồi trí vẫn chăm

Tấm thân mòn mỏi, hồn minh mẫn

Thanh bình thịnh trị chẳng bao lăm !


Paris, 16/09/2019


* hối nhân bất quyện (誨 人 不 倦).

GS. Lê Đình Thông -Trăng Thu


Trăng rằm tháng Tám mãi trên non

Ánh Nguyệt rơi hoài dạ sắt son

Múa khúc Nghê Thường trăng mỏi mệt

Hằng Nga nghỉ đỡ vướng ngàn thông

Trăng vàng hải ngoại buồn da diết

Rớt  xuống dòng sông nước cuốn tuôn

Ánh Nguyệt bồng bềnh theo sóng vỗ

Mưa thu đẫm lệ lúc trăng tròn.


Thu 2019
Nguồn: http://lediemchihue.com/

Hai Vì Sao Băng Trong Chòm Sao Bắc Đẩu Bị Cộng Sản Bất Tử: Vũ Hoàng Chương và Hồ Hữu Tường

posted Oct 21, 2019, 7:33 AM by Le Phan

Hai Vì Sao Băng Trong Chòm Sao Bắc Đẩu Bị Cộng Sản Bất Tử
GS. Lê Đình Thông 

Vũ Hoàng Chương
Hồ Hữu Tường

30/04/1975 mở đầu tiến trình bức tử các nhà văn hóa miền nam : từ Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường đến Trần Văn Tuyên, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Mạnh Côn v.v.

Trong số năm cây bút, Vũ Hoàng Chương và Hồ Hữu Tường bị đầy ải trong ngục tù cộng sản, lúc sắp chết mới được thả ta, từ trần khi về nhà. Ba vị khác là Trần Văn Tuyên, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Mạnh Công đều chết trong các trại cải tạo đèo heo hút gió. Cái gọi là cải tạo chỉ có nghĩa là cộng sản cải tạo từ cuộc sống tự do ở miền nam, biến thành cái chết oan khiên trong ngục tù cộng sản. Vì khuôn khổ hạn hẹp, bài báo này chỉ viết về :

– Thi bá Vũ Hoàng Chương (1915-1976), thọ 61 tuổi : ngôi sao bắc đẩu của thi ca Việt Nam ;

– và Nhà văn Hồ Hữu Tường (1910-1980), thọ 70 tuổi : cây đại thụ của văn học miền Nam.

Các vị khác :

– Luật sư Trần Văn Tuyên (1913-1976), thọ 63 tuổi.

– Sử gia Phạm Văn Sơn (1915-1978), thọ 63 tuổi.

– Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn (1920-1979), thọ 59 tuổi.

Người viết xin thắp nén hương lòng tưởng niệm.

Cái chết trong ngục tù cộng sản nói lên sự dũng cảm của các bậc thức giả miền nam : uy vũ bất năng khuất (威武不能屈), đối nghịch với văn nô bồi bút (文奴陪筆) cộng sản, bán rẻ ngòi bút để hưởng chút cơm thừa canh cặn.

Các vị là ngôi sao Tham Lang (天枢), Cự Môn (天璇), Văn Khúc (天权), Liêm Trinh (玉衡), Vũ Khúc (开阳) trong trong chòm sao Bắc Đẩu (北斗),sáng chói trên nền trời văn học nước nhà.

Xin bắt đầu với nhà thơ họ Vũ, 
được văn giới tôn vinh là ngôi sao bắc đẩu của thi đàn nước ta.

1) Vũ Hoàng Chương (1915-1976): Ông sinh năm Ất Mão (1915), nhưng nhiều tài liệu ghi là 1916. Quê ông ở phủ Thượng Hồng, tỉnh Nam Định. Ông học chữ hán năm lên 5 với thân phụ là cụ tri huyện Vũ Thiện Thuật. Năm 12 tuổi học tiểu học ở Nam Định, năm 13 tuổi bắt đầu làm thơ. Năm 22 tuổi, ông vào học lycée Albert Sarraut ở Hà Nội. Sáu năm sau, thi đậu tú tài I : cổ ngữ la tinh – hy lạp ; phần II : toán. Năm 1938, ông học luật nhưng bỏ dở. Năm 1941, ghi tên cử nhân toán nhưng cũng bỏ học, dạy học ở Hải Phòng. Năm 1942 : về Hà Nội lập một kịch đoàn cùng với nhà thơ Nguyễn Bính và Chu Ngọc, công diễn vở kịch thơ Vân Muội do ông sáng tác. Năm 1944, ông thành hôn với bà Định Thị Thục Oanh, giáo sư trung học, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng (có tài liệu ghi nhầm là ‘‘em gái’’). 

1948 : xuất bản tập Thơ Lửa, cùng với Đoàn Văn Cừ.

1951 : công diễn : Tâm sự Kẻ sang Tần.

1959 : xuất bản : Hoa Đăng (Văn Hữu Á Châu)

1960 : tái bản  Thơ Say và Mây, Vân Muội, Trương Chi, Hồng Điệp.

1970 : Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm.

1971 : Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai.

1974 : Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau. Ta Làm Chi Đời Ta.

Bút tự của Vũ Hoàng Chương (tài liệu : Đặng Tiến)

Ngoài việc làm thơ, Vũ Hoàng Chương dạy học ở trường Chu Văn An và Văn Lang (Saigon). Trang web của Hội Ái Hữu Học Sinh Chu Văn An Bắc California có bài ‘‘Tại sao Vũ Hoàng Chương bị bắt’’ của Phạm Nguyên Khôi, xin trích như sau :

‘‘…Cùng thời với Vũ-hoàng-Chương còn có rất nhiều văn nhân thi sĩ khác cùng nổi tiếng trên văn thi đàn, trong đó có Huy-Cận (tên thật là Cù-huy-Cận) sinh năm 1919. Huy-Cận cũng là một nhà thơ nổi tiếng, điển hình là bài “Ngậm ngùi” đã được phổ nhạc mà chúng ta thường nghe. Huy-Cận kém Vũ-hoàng-Chương ba tuổi và xuất bản tập thơ đầu “Lửa Thiêng” sau khi Vũ-hoàng-Chương đã có thi tập “Thơ say” và “Mây” đang sắp phát hành. Vì thế Huy-Cận coi thi sĩ Vũ như anh.

Một hôm Huy-Cận bất ngờ gặp Vũ-hoàng-Chương và  rủ Ông đi ăn phở. Vì mới ra tập thơ đầu lại cũng có ý thân mật so sánh nên Huy-Cận nửa đùa nửa thật vỗ vai Vũ-hoàng-Chương nói rằng:

“Đã lâu lại gặp ‘chàng Say’

‘‘Lửa Thiêng’’ xin đốt chờ ‘‘Mây’’ xuống trần

 Vũ-Hoàng-Chương cũng hơi khựng một chút, nhưng vui vẻ đáp ngay:

‘‘Mây’’ kia chẳng chịu xuống  trần

Lửa ơi theo khói lên gần với ‘‘Mây’’.

Hai người đối đáp với nhau như thế, vừa có ý kiêu ngạo, vừa có ý thân thiện, thật xứng đôi. Rồi thời gian trôi qua, năm 1946 Huy-Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ bác và đảng, được sủng ái nên đã có thời leo lên đến chức thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ-hoàng-Chương thì chạy tản cư, cũng có làm một số bài thơ ái quốc, nhưng sau đó hồi cư về lại Hanoi rồi di cư vào Saigon theo hiệp định Genève năm 1954, vẫn tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.

Vật đổi sao dời, năm 1975 miền nam bị bỏ rơi và cộng sản thắng đại cái “đại thắng mùa xuân”. Và hai thi nhân lại có dịp gặp nhau trong hoàn cảnh éo le quốc cộng. Huy-Cận được cử vào Saigon cùng với một phái đoàn với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.

Dĩ nhiên người mà Huy-Cận muốn gặp đầu tiên là Vũ-hoàng-Chương, cũng vì tình bạn cũ và cũng nghĩ rằng nếu chiêu dụ được Vũ theo cách mạng thì mình lập được công lớn. Vì vậy Huy-Cận đã sửa soạn cuộc thăm viếng rất trọng thể. Lễ vật đến thăm Vũ-hoàng-Chương gồm một chai rượu quí, một lọ đầy thuốc phiện và cũng không quên mang theo một bức hình Hồ chí Minh. Rượu và thuốc thì để biếu bạn, còn bức hình thì Huy-Cận ước mong sẽ được Vũ-hoàng-Chương đề tặng cho mấy vần ca ngợi để có bằng chứng báo cáo lấy công đầu.

Cuộc gặp gỡ diễn ra tốt đẹp sau bao năm xa cách. Vũ-hoàng-Chương đón Huy-Cận như một bạn cố tri nồng nàn vui vẻ. Sau khi Huy-Cận ngỏ ý muốn Vũ đề thơ thì Ông trầm mặc không nói gì. Huy-Cận khi ra về có hẹn ba ngày sau sẽ cho người đến xin lại bức hình, Vũ-hoàng-Chương cũng chỉ ậm ừ tiễn bạn.

Đúng ba ngày sau khi nhân viên của Huy-Cận tới thì thấy trên bàn vẫn còn y nguyên hai món lễ vật và bức hình, Vũ-hoàng-Chương không hề đụng tới mặc dù rượu với thuốc phiện đối với Ông là rất quí hiếm. Còn bức hình thì vẫn chỉ là bức hình như khi đem tới, không một nét chữ đề. Được báo cáo lại, dĩ nhiên là Huy-Cận tím mặt. Nhưng Ông biết tính họ Vũ là ngưòi không dễ lung lạc nên cũng đành thôi.

Vũ-hoàng-Chương, ông quả là một người có khí phách. Ông có một cơ hội an thân nhưng Ông đã không làm, chỉ vì tấm lòng Ông “một tấc thành” nên Ông phải giữ tiết tháo không a dua theo thời cuộc. Thế là lại có thêm một cái ‘họa’. Nhưng như thế vẫn chưa hết.

Chê thơ Tố-Hữu và dạy cộng sản cách làm thơ.

Theo một bài đăng  trên “net”  của tác giả Sông-Lô viết về Vũ-hoàng-Chương nhận xét thơ Tố-Hữu, được biết phái đoàn từ bắc vô nam cùng với Huy-Cận như đã nói ở đoạn trên còn có nhiều nhân vật sáng giá khác như Tố-Hữu,  Hoài-Thanh, Xuân-Diệu, Vũ-đình-Liên…. Phái đoàn được ký giả nằm vùng Thanh-Nghị tiếp đón và tổ chức một đêm”họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ-hoàng-Chương đã được mời và có tham dự. Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố-Hữu đã làm để khóc Stalin khi ông trùm đỏ Nga-sô  này chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp cùng đầy đủ tiếng khen chê đối với  tên trùm văn nghệ cộng sản này là câu:

“Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương ông thương mười “

Thanh-Nghị với tư cách nằm vùng theo cộng sản từ lâu, coi như đại diện miền nam, dĩ nhiên ca ngợi thơ Tố-Hữu hết mình. Rồi lần lượt đến Xuân-Diệu, Huy-Cận, Vũ-đình-Liên từ ngoài bắc vào lên diễn đàn thì khỏi nói. Cũng cần có một tiếng nói miền nam cho xôm tụ, cho nên Hoài-Thanh khẩn khoản mời Vũ-hoàng-Chương lên phát biểu với dụng ý là họ Vũ, một thi bá đương thời, nhưng vốn người trầm mặc hiền hoà chắc cũng chỉ vuốt theo mà không nói điều gì nghịch ý. Xin trích nguyên văn sau đây một đoạn của Sông-Lô:

“Ai đã biết Vũ-hoàng-Chương ắt phải biết cái đanh thép bên trong tấm thân nhỏ bé ọp ẹp của ông. Đôi ba lần tạ từ không được, đành nhảy vào ưỡn ngực “ hò kéo pháo”, nhưng trước khi vào cuộc họ Vũ đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái  ‘sáng giá’  của đêm họp  ‘văn nghệ đặc biệt’ này, bởi vì ‘tất tần tật’ đã thẩm định rồi.”

Sau đây là lời của Vũ-hoàng-Chương :

“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.

Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được ‘đóng khung’ tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố-Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao. Lời thẩm định của Thanh-Nghị thật xác đáng, tôi chịu. Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép. Vấn đề của thơ, nói cho đến nơi, là ở đây, có nghĩa là thơ phải thực.

 Tố-Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việt Nam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việt Nam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca; nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việt Nam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?

Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài ‘Đời đời nhớ Ông’ Tố-Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:

“Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin.’’

Chắc chắn là không có một bà mẹ Việt Nam nào, kể cả Bà Tố-Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ. Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm; đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố-Hữu nếu tự khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việt Nam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm’’.

Vẫn theo lời kể của Sông-Lô thì  lời thẩm định này đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ-hoàng-Chương, có người đã yêu cầu Ông nói về thơ để hòng bắt bẻ này nọ, nhưng Ông vẫn ôn tồn phát biểu:

“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo; nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.

“Tôi xin nhắc ; sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca; vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống.”

Sau đêm hôm ấy, hình như có một buổi họp khẩn cấp của các “nhân vật then chốt” cộng sản, và Vũ-hoàng-Chương đã bị bắt. Như vậy cái tội phản động của thi sĩ họ Vũ không phải là một mà có đến ba : bắt đầu từ bài thơ thời sự , kế đến không nể nang tình bạn và sau cùng là đã dạy khôn cho kẻ đang thắng thế. Theo Sông-Lô thì Vũ-hoàng-Chương không phải là người dại, cũng không phải người can đảm mà Ông chính là người của tự do không phải quị lụy trước bất cứ một áp lực nào.’’

Trích đoạn trên đây nói lên khí phách của nhà thơ miền Nam trước sự thấp hèn của những kẻ dối lòng, tự biến thành ông cai văn nghệ, ra oai tác quái với những cây bút chân chính. Nhưng không chỉ có thế. Di ngôn của thi bá họ Vũ còn là bản tuyên ngôn của các nhà văn, nhà thơ chân chính, không bẻ cong ngòi bút, chỉ nói lên những điều mắt thấy tai nghe, cho dù vì nói thật, nói thẳng mà phải mất mạng.

Vũ Hoàng Chương thẳng thắn phê bình bài thơ của Tố Hữu nịnh bợ Staline vốn là đồ tể trời tây. Theo sử gia Norman M. Naimark chuyên về thời kỳ xô viết của Đại Học Stanford, trong thập niên 30, Staline ra lệnh cho cục Goulag bắt giam rồi hạ sát từ 15 đến 20 triệu người vô tội trong các trại tập trung ở miền băng giá Sibérie. Con gái Staline là Svetlana cảm thấy nhục nhã, từ bỏ họ cha, lấy họ mẹ Allilouïeva, tỵ nạn chính trị ở Hoa Kỳ. Vậy mắc mớ gì mà Tố Hữu bẻ cong ngòi bút, thương vay khóc mướn đao phủ thủ giết người không gớm tay :

Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin.

Ta hãy so sánh giữa vần thơ giả tạo của Tố Hữu và bài thơ nói lên thực trạng miền nam vào ngày tết âm lịch đầu tiên vắng bóng cờ vàng.

Mỗi độ xuân về, Vũ Hoàng Chương lại làm một bài thơ khai bút. Vào Tết Bính Thìn (1976), nhà thơ họ Vũ ‘‘Vịnh Tranh Gà Lợn’’. Chỉ với 8 câu thơ, mỗi câu 7 chữ  (8 x 7 = 56 chữ), thi bá tuyên chiến với cả chế độ qua bài ‘‘Vịnh Tranh Gà Lợn’’. Bản chép sau đây của bà Vũ Hoàng Chương cất giữ và trao cho nhà văn Đặng Tiến :    

Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành

Gà lợn, om sòm rối bức tranh

Rằng vách có tai, thơ có họa

Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh

Mắt gà huynh đệ bao lần quáng

Lòng lợn âm dương một tấc thành

Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn

Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

Ta hãy nghe bà Vũ Hoàng Chương chú giải bài thơ, do nhà văn Đặng Tiến công bố : ‘‘Thơ có họa có ba nghĩa: thơ có xướng thì phải có họa, gọi là thơ xướng họa; thơ phản nghịch là tai họa; và thơ họa (vẽ) ra tranh. Vũ Hoàng Chương nổi tiếng là uyên bác: thơ ông thường sử dụng nhiều điển cố. Đặc biệt bài này ông sử dụng tục ngữ, theo truyền thống Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Bà Vũ Hoàng Chương lưu ý đến những tục ngữ : ‘‘rừng có mạch,  vách có tai’’ ; ‘‘xanh vỏ đỏ lòng’’. Nhưng còn nhiều thành ngữ, tục ngữ khác như : ‘‘tranh  tối tranh sáng’’, ‘‘mắt xanh’’, ‘‘mắt quáng gà’’, ‘‘gà cùng một mẹ’’, ‘‘lợn âm dương’’, ‘‘con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi’’. ‘‘Khúc tân thanh’’ ngụ ý ‘‘đoạn trường’’.

Bố cục thất ngôn bát cú 七言八句 của bài ‘‘Vịnh Tranh Gà Lợn’’ như sau :

– Đề 題 (phá đề và thừa đề) : bối cảnh nhiễu nhương miền Nam vào năm 1976, gà và lợn ‘‘ám chỉ’’ : Lê Duẩn, Văn Tiến Dũng. Họ ‘‘om xòm’’, huênh hoang với cái ‘‘đại thắng mùa xuân’’, cả miền Nam vật đổi sao dời.

– Thực 實 : ‘‘thơ có họa’’ : nghĩa đen là trong thơ có họa ; nghĩa bóng nói lên tình trạng công an đêm ngày rình rập, quấy nhiễu dân lành, sau cùng nhà thơ cũng phải mang họa vào thân. Lòng đỏ là việt hóa chữ đan tâm là 丹心, tác giả dùng phép ẩn dụ (métaphore) để nói lên bạn bè thân quen, đối lại với mắt xanh là dịch chữ ‘‘thanh nhãn’’ 青眼, tác giả mượn điển tích Nguyễn Tịch đời Tấn, ám chỉ những cán bộ hống hách, đáng khinh chê.

– Luận 論 : câu 5 nói mắt quáng gà vì nghe luận điệu dối gạt. Câu 6 nói đến ‘‘tấc thành’’ của người miền Nam.

– Kết 結 : Thi bá nhắn nhủ lũ gà lợn thôi ủn ỉn thùng rỗng ‘‘đại thắng’’ mà nghe rồng Bính Thìn miền Nam ngân nga khúc Tân Thanh réo rắt, đứt ruột (Đoạn Trường Tân Thanh).

Bài thơ này đưa đến cái chết của thi bá họ Vũ. Ngày 13/04/1976, cộng sản bắt Vũ Hoàng Chương, giam cùng xà lim với bác sĩ Phan Huy Quát. Vì biết nhà thơ họ Vũ sắp chết, cộng sản mới phóng thích. Lúc 23 giờ ngày 06/09/1976, nhẳm ngày 13 tháng 8 năm Bính Thìn,  nhà thơ qua đời tại Khánh Hội tại nhà em vợ là phu nhân thi sĩ Đinh Hùng. Lao tù cộng sản đã bức tử thi bá Vũ Hoàng Chương.

Theo tài liệu của nhà văn Đặng Tiến, vào năm Kỷ Mão (1999), bà Vũ Hoàng Chương tức nữ sĩ  Đinh Thục Oanh làm bài thơ ‘‘Mai Thúy Vũ’’ khóc chồng như sau ;

Cao sâu từng nhập bóng cây già,

Cây vẫn thân xưa bóng chẳng nhòa.

Vườn trải băng sương trăm thức cỏ,

Xuân còn Thúy Vũ một cành hoa.

Lòng nghe nắng ấm say đôi chút

Cánh để men hồng nhuốm phớt qua

Vang tiếng chim xanh về hót đấy,

Bồng lai hẳn nhớ kẻ đi xa.

Nếu thi bá họ Vũ là ngôi sao bắc đẩu sáng chói trong văn học miền Bắc, 
văn hào họ Hồ là cây đại thụ rợp bóng văn học miền Nam.

2) Hồ Hữu Tường (1926-1980) : Họ Hồ quê quán quận Cái Răng, tỉnh Cần Thơ. Theo nhà phê bình văn học Thụy Khê, ‘‘Hồ Hữu Tường sinh ngày mùng 8 tháng 5 năm 1910 tại làng Thường Thạnh, huyện Cái Răng, tỉnh Cần Thơ. Cha là Hồ Văn Sây, mẹ là Võ Thị Nữ và ông nội là Hồ Văn Điểu. Dòng họ Hồ này khi xưa ở đất Nghệ An. Sau khi Hồ Quý Ly thất thế, đầu thế kỷ XV đã bị xua vào đất Qui Nhơn sinh sống. Đến thế kỷ XVIII, trong họ xuất hiện ba anh em Nhạc, Huệ, Lữ, nổi lên cầm đầu phong trào Tây Sơn. Khi nhà Tây Sơn bại liệt, tất cả những người họ Hồ, bà con xa gần với Tây Sơn đều phải lánh nạn. Tỉnh Qui Nhơn bị Nguyễn Ánh đổi tên thành Bình Định. Sự đổi tên này, đối với họ Hồ, có nghĩa là một sự trả thù, một sự đàn áp. Để tránh sự trả thù của nhà Nguyễn, một thanh niên tên là Hồ Văn Phi trốn vào Nam, lưu lạc đến rạch Cái Răng ở miệt Cần Thơ, lập nghiệp. Vợ chồng Hồ Văn Phi chưa có con trai, nuôi một đứa nhỏ tên là Điểu mà mẹ nó dường như là một người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn lánh nạn. Khi trao con lại cho Hồ Văn Phi, bà dặn dò rằng: Cha nó cũng họ Hồ, tôi cho nó cho ông là để nó giữ họ. Khi nó lớn lên, ông bà dặn nó nên nêu lên hai chữ Kế Thế mà thờ giữa hai chữ Hồ phủ, và truyền lại mãi mãi với con cháu nó nên làm như vậy. Chữ Kế Thế rút từ những chữ “Kế thế vi đức, dĩ hữu thiên hạ“, hàm súc cái mộng làm đế vương. Người con nuôi của Hồ Văn Phi có dòng dõi bí mật, đế vương ấy (dòng Quang Thiệu), chính là Hồ Văn Điểu và là ông nội của Hồ Hữu Tường. Đó là những điều mà Hồ Hữu Tường thuật lại về dòng dõi của mình trong cuốn tự truyện Thằng Thuộc, con nhà nông và tiểu thuyết dã sử Kế thế.’’

Cũng như Vũ Hoàng Chương học cử nhân Toán tại Đại Học Hà Nội,  Hồ Hữu Tường học cao học Toán tại Đại Học Lyon. Họ Vũ có thơ đăng trên các tờ báo. Họ Hồ xuất thân là nhà báo rồi nhà văn.

– Báo chí :

1930 : chủ nhiệm tờ Tiền Quân.

1932 : chủ nhiệm tờ Tháng Mười.

1936 : chủ nhiệm Thường Trực Cách Mạng, Le Militant, Thầy Thợ.

1967 : biên tập viên các báo : Ánh sáng, Tiếng Nói Dân Tộc, Quyết Tiến, Đuốc Nhà Nam, Tin Sáng, Saigon Mới, Điện Tín.

– Biên khảo :

Xã hội học nhập môn (Minh Đức, 1945).

Kinh tế học và kinh tế chánh trị nhập môn (Tân Việt, 1945).

Tương lai kinh tế Việt-nam (Hàn Thuyên, 1945).

Tương lai văn hóa Việt-nam (Minh Đức,1946, Huệ Minh, 1965).

Phong kiến là gì? (Minh Đức,1946).

Vấn đề dân tộc (Minh Đức,1946).

Muốn tìm hiểu chánh trị (Minh Đức,1946).

Lịch sử văn chương Việt-nam (quyển 1) (Lê Lợi, 1950).

Phép nói và viết hỏi ngã (1950).

Em học tiếng mẹ (1950).

Những kỹ thuật căn bản của nghề làm báo (in tại Paris, 1951, Hòa Đồng, 1965).

Em tập đọc (1951).

Tương lai văn hóa Việt Nam (Minh Đức,1946, Huệ Minh, 1965).

Trầm tư của một tên tội tử hình (Lá Bối, 1965),

Luận lâm I (Huệ Minh, 1965),

Nói tại Phú Xuân (những bài tham luận đọc tại Đại học Huế) (Huệ Minh, 1965).

– Văn học :

Một thuở ngàn năm (truyện trào phúng chính trị) gồm có: Phi Lạc sang Tàu (Sống Chung, 1949), Phi Lạc náo Hoa Kỳ (Vannay, Paris, 1955), Tiểu Phi Lạc náo Sàigòn (Nam Cường, 1966), Diễm Hồng xuất giá (Nam Cường, 1966).

Hồn bướm mơ hoa (tiểu thuyết lịch sử xã hội, miền Hậu Giang) gồm 4 tập: Mai Thoại Dung, Tam nhơn đồng hành, Ông thầy Quảng, Bủa lưới người (Nam Cường, 1966).

Gái nước Nam làm gì? (tiểu thuyết tranh đấu chống Pháp) gồm Thu Hương và Chị Tập (Sống Chung, 1949).

Nỗi lòng thằng Hiệp (Lê Lợi, 1949).

Quả trứng thần (1952).

Kể chuyện (Huệ Minh, 1965),

Kế thế (tiểu thuyết dã sử) (Huệ Minh, 1964).

Thuốc trường sanh gồm 3 tập: Xây mộng, Phúc đức và Vẹn nguyền (Huệ Minh, 1964). Hoa dinh cẩm trận (tiếp theo Thuốc trường sanh).

Nợ tinh thần (Huệ Minh, 1965).

Thằng Thuộc con nhà nông (An Tiêm, 1966).

Người Mỹ ưu tư (tác giả xuất bản, Paris, 1968).

Un fétu de paille dans la tourmente (Paris, 1969, chưa in)

41 năm làm báo (Trí Đăng, Đông Nam Á tái bản tại Paris, 1984).

Họ Hổ, nhập thế thì làm báo, viết văn ; xuất thế thì ở tù. Giai thoại sau đây trên Wikipedia kể lại chuỗi ngày vào tù ra khám của một người lương thiện. ‘‘Khi bị giam ở phòng giam tập thể (trong nhà tù cộng sản), một người tù hỏi Hồ Hữu Tường: ‘‘Bác Tường ơi! Thời Tây, thời Ngô Đình Diệm và cả thời này nữa, thời nào bác cũng đi tù. Bác có hiểu tại sao bác cứ ở tù hoài vậy không ? Hồ Hữu Tường nhìn anh ta, vừa cười, vừa hỏi: ‘‘Mày trả lời giùm tao đi, tại sao ?’’ Anh ta nhanh nhẩu trả lời: ‘‘Dễ quá mà! Tên bác là ” Hữu Tường” nên bác phải “hưởng tù” dài dài!’’. Hồ Hữu Tường cười buồn: ‘‘Có thể thằng nầy nói đúng!’’.

Ta đã nghe thơ họ Vũ thì nay sẽ xem văn họ Hồ, để biết nhân sinh quan của ông.

– Nhận định của Hồ Hữu Tường về chủ nghĩa cộng sản :

“Tôi bước vào mê ly đồ của chủ nghĩa Mác-Lê đầu tháng 6 năm 1930. Tôi bước chân ra ngoài cái mê ly đồ ấy vào đầu tháng 6 năm 1939. […] Trong 9 năm này, những bài luận của tôi viết thảy đều lập trên nền tảng của duy vật luận biện chứng pháp. Từ tháng 6 năm 1939 đến tháng 6 năm 1945, ngoài những bức thơ ngắn cho gia đình, tôi không có viết gì khác. Đến Hà Nội vào đầu tháng 6 năm 1945, tôi đã sắp dàn bài cho quyển Xã hội học nhập môn mà tôi viết xong khi khởi đầu tháng 11. Từ hai mươi năm nay, tôi chưa trước tác được tài liệu nào vững chắc và khoa học để đả kích chủ nghĩa của Marx, hơn tập sách nhỏ này. Cả phương pháp biện chứng và duy vật sử quan đều bị “lật vích”, nền tảng triết lý và cơ sở xã hội học của Marx đều bị lật ngược, thế mà kiểm duyệt Việt Minh đọc không hiểu nên chẳng bôi chữ nào. Từ ấy, phương pháp biện luận của tôi không còn là biện chứng pháp nữa. Trong năm năm nằm ở Côn Đảo, trong những ngày tàn của chế độ thực dân, tôi đã suy tư tìm thấy và thường nói với Nguyễn An Ninh rằng duy vật luận của Marx hóa ra siêu hình, chánh là do Marx đội cho nó cái lốt của biện chứng pháp […]. Năm năm tù dưới chế độ thực dân đã giúp cho tôi “cai” biện chứng pháp, cũng như người nghiện cai thuốc phiện. Và, rời bỏ tư duy siêu hình của biện chứng pháp, tôi trở về với tư thái khoa học […] Khoa học, bao giờ cũng cho phép ngoại suy để mở rộng phạm vi hữu hiệu của mình. Nhưng bao giờ những cuộc ngoại suy nầy phải phê phán cho chặt chẽ, kẻo bị lầm. Nói theo một danh từ mới xuất hiện, mà đã tràn lan khắp nơi, là cần phải “xét lại”. Thế mà, biện chứng pháp, tin tưởng như là một giáo điều, không cho tín đồ của chủ nghĩa Marx “xét lại”.” (Luận lâm I , Huệ Minh xuất bản năm 1965, tại Sài Gòn).

– Nhận thức luận của Hồ Hữu Tường :

– ‘‘Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thật to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép. Thực đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin,… để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu về cho dân tộc ta, dân tộc Việt’’ (Tương lai Văn hóa Việt Nam, in lần thứ ba, Huệ Minh, Sài Gòn, 1965).

– ‘‘Văn, trong nghĩa cầu nguyên của nó, là đẹp đẽ, là hiền lành, trái với võ, là hung bạo. Hóa, trong nghĩa cầu nguyên của nó là thay đổi. Hai chữ đó mà ghép lại, thì tôi cho rằng đó là cái gì làm cho người ngày càng cao quý hơn, đẹp đẽ hơn, làm cho người (hạ tiện, xấu xa) hóa ra Người (cao quý, đẹp đẽ)’’.

– ‘‘Tôi vẫn muốn rèn, luyện, uốn, nắn, hun đúc tôi, cho tôi ngày nay đẹp đẽ hơn ngày hôm qua, cho tôi ngày mai càng đẹp hơn tôi ngày nay, để rồi bây giờ tôi là “người” dần dần theo đuổi Người’’ (sđd, trang 18)

– ‘‘Sứ mạng của bạn là sứ mạng sáng tác.’’ (trang48)

– ‘‘Lương tri sẽ là sản phẩm của người. Nó có nguồn gốc ở người. Nó là một vật nhân bản.’’ (trang 56)

– Phương pháp kể chuyện của Hồ Hữu Tường :

‘‘Đọc tiểu thuyết hay của các nước, tôi rất hiểu tiểu thuyết xây dựng thế nào, nhưng tôi không chịu viết tiểu thuyết, mà chỉ bám vào lối văn “kể chuyện”.

– ‘‘Tôi chỉ muốn “kể chuyện” cho hoang đường, cho hóm hỉnh, cho trào phúng, cho quê mùa, như những giáo sư văn chương của tôi mà thôi. Con nhà trâm anh thế phiệt, ông, bác, cha, anh, thảy đều khoa hoạn, thì viết văn điêu luyện như Nguyễn Du, việc ấy hợp lý, hợp tình. Con nhà nông như tôi, mà viết văn nông dân, việc ấy cũng hợp lý, hợp tình nữa.
Con vua thì đặng làm vua

Con sãi ở chùa thì quét lá đa

có cái văn tâm như thế, nên trong chín năm theo chủ nghĩa Mác-Lê, giáo điều của chủ nghĩa nầy dạy phải viết theo đường lối ‘‘tả chân xã hội’’ (réalisme socialiste), thà tôi nhịn viết văn, chớ tôi không chịu phản lại giai cấp tôi. […] Cái văn tâm như thế đem những văn tứ ‘‘cổ điển’’ lại, chuyện ‘‘ma’’, chuyện thần tiên, chuyện hoang đường, chuyện tiếu lâm châm biếm … ‘‘cổ điển’’ là cổ điển của thứ văn chương nông dân ta vào thế hệ của tôi.” (trích bài Tựa cuốn Kể chuyện, nxb Huệ Minh, Sài Gòn, 1965)

– Ngục tù : Văn hào Hồ Hữu Tường thọ 70 thì đã có đến 15 năm tù đầy : từ 1940-1944 : tù thực dân Pháp, từ 1955 đến 1964 : tù quốc gia vì tham gia Mặt Trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia, từ 1978 đến 1980 : tù cộng sản là khắc nghiệt nhất. Ngày 26/06/1980, chiếc xe chở ông từ nhà tù về đến trước cửa nhà thì ông tắt thở.


Thủ bút của Hồ Hữu Tường

Trong số các tác phẩm của Hồ Hữu Tường, Phi Lạc Sang Tầu cảnh báo về đại họa cộng sản bắc phương, qua nhân vật thằng mỏ làng Phù Ninh. Họ Hồ viết như sau : ‘‘Ba đời liên tiếp, s­ư tổ của tôi là Bạch Hạc, sư phụ là Hoàng Hạc và tôi, đã dày công nghiên cứu sấm ký, nhất là sấm của Khổng Minh Gia Cát Lượng. Nhờ vậy mà chúng tôi biết rằng chúng ta sắp đến một thời loạn to tát, chưa từng thấy trong lịch sử  Trung Hoa. Mà muốn cứu vãn tình thế, phải cần có Thánh Nhân, người xuất tại phương Nam, nghĩa là ở Việt Nam.’’

Còn trong truyện ‘‘Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp’’, Hồ Hữu Tường đã dùng con chuột nói lên cái Bi Trí Dũng, theo ý ông là chủ tể của luân lý : ‘‘Từ ấy, hỏi đứa trẻ nào, nó cũng biết “tí là con chuột”. Nhưng từ ấy nhẫn nay, loạn lạc vẫn kéo dài hoài; bởi loài người chưa giác ngộ, cứ lầm tưởng chuột ấy là thứ “chuột tham, sân, si” kia. Chừng nào, đứng đầu cho cuộc vận hành của vũ trụ là con Long Thử, con chuột học được, và hành được theo Bi, Trí, Dũng thì may ra, nguồn Thanh Bình mới khai được.’’

Nếu thơ của Vũ Hoàng Chương có gà và lợn, văn Hồ Hữu Tường có chuột và mèo. Ông viết như sau: ‘‘Có Bi mà không Trí, là vô bổ. Có Bi và Trí mà thiếu Dũng, là vô hiệu. Bi, Trí, Dũng là ba cái chân vạc, thiếu một chân ấy là vạc nghiêng đổ đi.’’

Đoạn văn này dường như là để nhắn nhủ Văn Tiến Dũng, tác giả cuốn ‘‘Đại Thắng Mùa Xuân’’. Trong sách Luận Ngữ (論語) viết rằng: ‘‘Trí giả bất hoặc, nhân giả bất ưu, dũng giả bất cụ’’ (知者不惑, 仁者不憂, 勇者不懼 (Tử Hãn 子罕) : Người trí không mê hoặc, người nhân không lo, người dũng không sợ.

‘‘Người có dũng không sợ’’. Vậy cớ sao tên là Dũng mà ông lại sợ Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường vốn không có một tấc sắt trong tay, đầy ải họ đến chết ?

Lê Đình Thông
Nguồn:  http://lediemchihue.com/

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà

posted Apr 24, 2019, 4:41 AM by Le Phan

Trích từ tập Văn Hóa Tuổi Trẻ Online

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà

23/04/2019 14:49 GMT+7

TTO - 'Tôi cần một không gian với chiều kích thật để đưa nghệ thuật của mình về đặt giữa quê nhà'. Ước mơ của danh họa Lê Bá Đảng (1939-2015) đã thành hiện thực, khi 'Không gian ký ức Lê Bá Đảng' vừa được khánh thành tại một khu đồi núi ngoại ô Huế.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 1.

Không gian ký ức Lê Bá Đảng nhìn từ trên cao - Ảnh: HỒ VIẾT VINH

Không gian ký ức Lê Bá Đảng (Lebadang memory space) đã được khai trương vào chiều tối 21-4 với sự có mặt của giới hoạt động văn hóa nghệ thuật Việt Nam và quốc tế.

Một bức tranh phong cảnh hoành tráng

Một không gian rộng dài, có núi đồi nhấp nhô, có suối nước róc rách, một bên là rừng cây xanh thẳm, một bên là đồng lúa chín vàng. Ngôi làng Kim Sơn (xã Thủy Bằng, Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế) với những mái nhà hiền hòa lẫn trong rừng cây, gợi nhớ đến làng Bích La Đông của ông ở huyện Triệu Phong - Quảng Trị.

Người thiết kế không gian này là KTS Hồ Viết Vinh, một người Huế đang nghiên cứu và giảng dạy kiến trúc ở TPHCM. Ông Vinh cho biết toàn bộ không gian với núi đồi, rừng cây, suối, nước, đất đá... này là một tác phẩm mang tên "Không gian ký ức Lê Bá Đảng".

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 2.

Một góc Không gian ký ức Lê Bá Đảng - Ảnh: MINH TỰ

Không gian đó lấy dòng suối làm yếu tố minh đường, lấy núi Kim Sơn làm tiền án, lấy đồi Thiên An làm hậu chẩm.

Trong không gian rộng lớn đó có sáu không gian nhỏ như là sáu khu chức năng. Không gian chính là khu nhà tôn vinh nghệ thuật Lê Bá Đảng, nơi trưng bày các tác phẩm nghệ thuật hội họa, đồ họa, điêu khắc, với đủ loại chất liệu, phương pháp tạo hình, đã làm nên tên tuổi Lê Bá Đảng - bậc thầy của hai thế giới Đông - Tây.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 3.

Không gian trưng bày tác phẩm nghệ thuật Lê Bá Đảng - Ảnh: MINH TỰ

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 4.

Bên trong khu trưng bày tác phẩm Lê Bá Đảng - Ảnh: MINH TỰ

Trên mái của ngôi nhà này là Vườn địa đàng, nơi sắp đặt những tác phẩm của ông tạo thành một tác phẩm, theo chiều ngắm từ trời cao nhìn xuống. Cũng từ đây nhìn xuống toàn bộ quang cảnh chung quanh sẽ thấy một bức tranh kết hợp giữa thiên nhiên sẵn bày và sự sắp đặt của bàn tay con người.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 5.

Một phần của bức tranh được nhìn từ trên cao xuống - Ảnh: HỒ VIẾT VINH

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 6.

Nơi đây còn là không gian cho những chương trình hòa nhạc lớn. Trong ảnh là chương trình hòa nhạc khai trương không gian. - Ảnh: MINH TỰ

Một đường hầm dài dài 50m đi dưới sườn đồi là nơi trưng bày nghệ thuật ánh sáng của Lê Bá Đảng. Phía trên đường hầm là không gian biểu diễn. Và các khu vực dành cho du khách nghỉ ngơi, ẩm thực, hàng lưu niệm...

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 7.

Đường hầm đi dưới sườn đồi là nơi trưng bày nghệ thuật ánh sáng của Lê Bá Đảng. Ảnh: PHAN THÀNH

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 8.

Bên trong đường hầm - Ảnh: MINH TỰ

"Phải nhìn từ trên cao xuống mới thấy được không gian Lê Bá Đảng - một cái nhìn rất độc đáo đã tạo nên một phong cách tạo hình riêng của ông ở nước Pháp và trên thế giới" - KTS Hồ Viết Vinh nói.

Giấc mơ thành hiện thực

"Từ rất lâu, Lê Bá Đảng đã từng mơ về tác phẩm Không gian với chiều kích thật. Và giấc mơ đó đã thành hiện thực. Một không gian rộng mở đến vô biên và khép kín đến sâu thẳm". Đó là lời chia sẻ của bà Lê Cẩm Tế, chủ đầu tư dự án nghệ thuật này và cũng là người đồng hành với họa sĩ đi tìm nơi để thực hiện giấc mơ đó ở quê nhà, từ hơn 20 năm trước.

Tôi chưa bao giờ rời bỏ quê hương. Dù cho trên thực tế tôi sống xa quê, nhưng tâm hồn tôi vẫn luôn gắn bó với quê nhà. Và trong lao động nghệ thuật, tất cả những gì tôi làm chỉ là phản ánh tình yêu vô cùng đa dạng đó.

Họa sĩ Lê Bá Đảng

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 10.

Bà Tế cho biết sau chừng đó năm đồng hành với cuộc trở về quê nhà của họa sĩ Lê Bá Đảng, bà tin chắc không gian này thật sự là nơi ông mong muốn, dù ông đã không thể sống cho đến ngày tác phẩm lớn này ra đời.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 11.

Không gian ký ức Lê Bá Đảng lung linh trong đêm - Ảnh: MINH TỰ

Bà Myshu Lebadang, phu nhân của họa sĩ, dù tuổi đã quá cao vẫn cố gắng bay từ Paris đến Huế để có mặt tại buổi lễ khai trương Không gian ký ức Lê Bá Đảng. "Đây là đỉnh cao của giấc mơ Lê Bá Đảng" - bà Myshu xúc động nói.

Giấc mơ Lê Bá Đảng đã thành hiện thực trên quê nhà - Ảnh 12.

Phu nhân của họa sĩ (cụ bà ngồi giữa) cũng có mặt tại lễ khai trương. - Ảnh: MINH TỰ

Bà Lê Cẩm Tế cho biết sau khi xem xong toàn bộ không gian, bà Myshu đã quyết định đưa thêm tác phẩm của Lê Bá Dảng từ Pháp về đây.

Cùng có mặt tại buổi lễ này, những nhà sưu tập nghệ thuật Lê Bá Đảng từ London (Anh), Los Angeles (Mỹ) cũng quyết định tặng một số tác phẩm và hiện vật của họa sĩ cho không gian này.

Hoạ sĩ Lê Bá Đảng sinh tại Quảng Trị, sang Pháp năm 1939 theo đoàn "lính thợ", học tại Học viện Nghệ thuật Toulouse và trở thành một hoạ sĩ nổi tiếng ở châu Âu.

Trung tâm tiểu sử quốc tế của Đại học Cambridge (Anh) đưa vào danh mục những người có tên tuổi của thế giới, nhà nước Pháp tặng huân chương Văn hóa nghệ thuật Pháp. Được giới nghệ thuật đánh giá là bậc thầy của hai thế giới Đông - Tây. Ông qua đời năm 2015 tại Paris, thọ 94 tuổi.

1-10 of 21