Âm Nhạc & Nghệ Thuật • Music & Arts


Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 8:13 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 8:01 PM ]

PHẠM VĂN MÙI

Nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi (1907-1992)
Ông sinh ngày 1 tháng 6 năm 1907 tại Nam Định, quê quán làng Đông Ngạc, tỉnh Hà Đông . Ông là một trong những nhà nhiếp ảnh sớm nhất của Việt Nam, bắt đầu khởi nghiệp cầm máy từ năm 1923 và từ năm 1932 đã khai trương phòng triển lãm riêng tại Nam Định và gửi ảnh dự thi trong các cuộc triển lãm ảnh tại Hà Nội và nhiều lần đoạt giải. Trong thời gian này, ông cũng chơi thân với nhiếp ảnh gia Võ An Ninh và dạy nhiều học trò.

Di cư vào Nam năm 1954, ông là hội trưởng Hội Nhiếp ảnh Việt Nam từ năm 1958 đến 1971 . Trong thới gian này, ông gửi ảnh tham dự các cuộc Thi Ảnh tổ chức tại các nước Pháp, Hồng Kông, Singapore, Anh, Ý, Tây Ban Nha... và giảng dạy các lớp nhiếp ảnh như tại Hội Việt Mỹ Sài Gòn, Viện Đại học Vạn Hạnh cũng như làm giám khảo những cuộc thi ảnh như bộ môn Nhiếp ảnh giải Văn học Nghệ Thuật của Phủ Tổng Thống Việt Nam Cộng hòa từ năm 1969 đến 1975 .

Ông từ trần vào ngày 25 tháng 11 năm 1992 tại Garden Grove, California, Hoa Kỳ .
Những tác phẩm ảnh của ông như bộ ảnh Suối tóc, Duyên dáng, Tâm tư, Theo chiều gió, Đôi dòng thác đã góp phần làm ông nổi tiếng. Riêng tác phẩm Duyên dáng đã được chọn trưng bày vĩnh viễn tại Bảo tàng Mỹ thuật Brazil từ năm 1963 và cũng mang lại cho ông nhiều huy chương quốc tế danh giá .

Gần đây nhất, 54 bức ảnh và 9 bức tranh vẽ của ông đã được triển lãm dưới chủ đề "Ảnh đen trắng và tranh vẽ chân dung" tại Hội Nhiếp ảnh TP.HCM từ ngày 9 đến 19 tháng 12 năm 2007 . Kênh HTV7 cũng đã thực hiện một chương trình phát hình về ông: "Nhớ nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi", phát sóng ngày 16 tháng 3 năm 2008 

Tác phẩm của Phạm Văn Mùi







Duyên dáng – ảnh đen–trắng






Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 7:48 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 2:24 PM ]

NGUYỄN NGỌC HẠNH
Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh

Phóng viên chiến trường,
Trung Tá Nguyễn Ngọc Hạnh.

Sinh năm 1927 tại Hà Đông, gia nhập Không quân Việt Nam năm 1950. Ông Hạnh tốt nghiệp trường Nhiếp Ảnh Pháp ở Toulouse năm 1956 và trở thành một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp.

Năm 1957, ông sáng lập Hội Nhiếp Ảnh Quân Đội Việt Nam . Năm 1961, ông trở thành Sĩ quan nhiếp ảnh chiến trường của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, binh chủng Nhảy Dù. Ông được chọn làm Hội viên danh dự Hội nhiếp ảnh quốc tế năm 1971. Trong thời gian làm phóng viên chiến trường, ông được lãnh nhiều giải thưởng cao quý về nhiếp ảnh tại nhiều quốc gia khác nhau.

Sau khi miền Nam thất thủ năm 1975, ông Nguyễn Ngọc Hạnh bị đi tù Cộng sản như bao nhiêu đồng đội khác . Đến năm 1983, hội The Royal Photographic Society of Great Britain can thiệp cho ông được trả tự do với 63 chử ký của nhiều quốc gia khác nhau. Ông vượt biên nhiều lần và đến Hoa Kỳ năm 1989.

Ông Hạnh thành lập Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam tại San Jose năm 1990. Sau đó hội trở thành Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California vào năm 2000. Sau gần 20 năm định cư tại Hoa Kỳ, ông Hạnh đã đào tạo hàng trăm nhiếp ảnh viên chuyên nghiêp. Nhiều học trò của ông được nhận làm Hội viên danh dự Hội Nhiếp Ảnh Hoàng Gia Anh và các Hội Nhiếp Ảnh Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ.

Ông được nhận là hội viên của nhiều Hội Nhiếp Ảnh trên nhiều quốc gia khác nhau. Trong cuộc đời nhiếp ảnh, ông Hạnh đã nhận được 92 huy chương Vàng, 110 huy chương Bạc và rất nhiều giải thưởng khác nhau cho sự nghiệp nhiếp ảnh của ông. Ông Hạnh hiện nay vẫn còn dạy nhiếp ảnh, tiếp tục đào tạo những Nhiếp ảnh viên chuyên nghiệp cho cuộc đời thêm tươi đẹp. Ông Nguyễn Ngọc Hạnh có thể liên lạc qua email của Vietlist : vietlist09@yahoo.com

Ông là hội viên của:

Hon. FPCKBC
Hon. FVNPS
Hon. EFIAP, FRPS, ****PSA
One of the top ten, Who's Who, PSA, 1968
FIAP Gold Medal for Exceptional Photographic Achievement, 2003
FPCKBC, FPSEA, FPSHK, FAPA, SE 35mm PS
Hon. FAPA, Hon. FTVPA, Hon. FBSC, Hon. F.HKPC
Hon. FNPAS, Hon. FPST, Hon. FPSC, Hon. FPSNY
Hon. ETVPA, Hon. EYMCAPC, Hon. PSMP, Hon. Border
Hon. NPAS, Hon. 35mm PS, Hon. PPGL, Hon. OGPh
Hon. FEP, Hon. PSEA, Hon. IKFP, Hon. Omni-Candid
Hon. KKL, Hon. FPCVH, Hon. FHCPS
****************************

NGUYỄN NGỌC HẠNH.

Hon. FPCKBC
Hon. FVNPS
Hon. EFIAP, FRPS, ****PSA
One of the top ten, Who's Who, PSA, 1968
FIAP Gold Medal for Exceptional Photographic Achievement, 2003
FPCKBC, FPSEA, FPSHK, FAPA, SE 35mm PS
Hon. FAPA, Hon. FTVPA, Hon. FBSC, Hon. F.HKPC
Hon. FNPAS, Hon. FPST, Hon. FPSC, Hon. FPSNY
Hon. ETVPA, Hon. EYMCAPC, Hon. PSMP, Hon. Border
Hon. NPAS, Hon. 35mm PS, Hon. PPGL, Hon. OGPh
Hon. FEP, Hon. PSEA, Hon. IKFP, Hon. Omni-Candid
Hon. KKL, Hon. FPCVH, Hon. FHCPS
Born in Ha Dong, North Vietnam in 1927, Nguyen Ngoc Hanh first served in the French Army, he then transferred to the Airborne Corps of the Vietnamese Army in 1950. He graduated from the french Photography Scholl in Toulouse in 1956 to become a professional photographer.

In 1957, Nguyen Ngoc Hanh founded the KBC Photography club in Vietnam. Soon afterwards, in 1961 he was designated an official war photographer of the South Vietnamese Armed Forces. he was also elected as Honorary representative to the Fédération Internationale de l'art photographique in 1971.

After the fall of South Vietnam in 1975, Hanh, like so many of his fellow officers, was detained in communist re-education camps until 1983. He was finally released due to the efforts of the Royal Photographic Society of Great Britain. It was not until his forth attempt that he was able to escape his country as one of the many boat people. He landed in Thailand and was then granted political asylum in the United States of America by the UNHCR in 1989.

In 1990, Hanh founded the Vietnam Photographic Association in San Jose, California. That was followed by the Vietnam Photographic Society of Northern California in 2000. Over the years, Hanh has trained several hundred photographers. Many of his students have received awards and certificates of High Honor from the Royal Photographic Society of Great Britain.

Hanh's most prestigious achievement was in April 2000 when he was granted " The National Day Literature and Arts Award " in Atlanta, Georgia. This award was given by the National United Front for Liberation of Vietnam. Hanh has been selected as a member in several international photography clubs and associations. Over the years, he has accumulated over 92 Gold prizes, 110 Silver prizes and many other various awards for his works.


Vá cờ - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Làm đường dân đi - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Cứu bạn - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Quyết tâm bảo vệ quê hương - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Lá vàng - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh 

Suối mơ - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh 

Trở về - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh 

Trở về 2 - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Học bài - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Dựng cờ - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Bình minh trên vịnh - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Bửa cơm ngày mùa - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Khát nước - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Mẹ Việt Nam trong khói lửa - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Anh đồ - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Huế đổ nát vì lệnh "Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân" - Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Phản công

Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh




Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 7:43 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 8:19 AM ]

TRẦN CAO LĨNH
 
Nhiếp ảnh gia Trần Cao lĩnh
Trần cao Lĩnh sinh nam 1925 tai NAM ĐỊNH ông là một trong những người đầu tiên sáng lập hoặc đỡ đầu nhiều hội nhóm nhiếp ảnh tại miền Nam Việt Nam như hội nhiếp ảnh Việt Nam(1954). Giáo sư Nhiếp ảnh tại Đại học Vạn hạnh Sài gòn trước 1975.

Trần cao Lĩnh thục hiện 4 tuyển tập ảnh, nhiều lần thuyết trình và viết bài về kỹ thuật nhiếp ảnh. Ông di cư sang Mỹ năm 1980.

Trần cao Lĩnh đã triển lãm và nhiều lần đoạt giải thưởng tai London, Paris, Toronto, Montréal, Wasshinhton,...

Trần Cao Lĩnh là nhà nhiếp ảnh tiền phong của miền Nam, chuyện về ảnh nghệ thuật đen trắng và kỹ thuật phòng tối. Ông từ trần ngày 29 tháng 8 năm 1989 tại Hoa Kỳ



Tác phẩm của Trần Cao Lĩnh













Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 7:13 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 7:32 AM ]

NGUYỄN CAO ĐÀM
 
Nguyễn Cao Đàm (1916-2001) là một nhà nhiếp ảnh nổi tiếng của Việt Nam, chuyên về ảnh đen trắng.

Ông sinh năm 12 tháng 5 năm 1916 tại Vĩnh Trung, Hà Đông. Ông bắt đầu chụp ảnh nghệ thuật từ năm 1949 và là một trong những sáng lập viên Hội Nhiếp ảnh Việt Nam tại Hà Nội năm 1952.
Cụ đã để lại cho nghệ thuật nhiếp ảnh Việt Nam cũng như thế giới những tuyệt phẩm không những có giá trị nghệ thuật cao mà còn có giá trị nhân sinh thấm nhuần tư tưởng Đạo Lão, Đạo Phật, Đạo Khổng, Đạo Thiên Chúa.

Công trình nghệ thuật của cụ đã được sự ái mộ của đông đảo các hội nhiếp ảnh gia có uy tín trên thế giới và cụ đã lãnh nhận hàng chục huy chương vàng bạc, bằng cấp tưởng lệ các loại trong suốt thời gian nửa thế kỷ qua.

Cụ thể, cụ đã tham dự nhiều cuộc thi nhiếp ảnh quốc tế ở Hong Kong (1956), Pháp (1956), Bỉ (1958); Huy chương Đồng ở cuộc triển lãm ở Munich, Đức (1958), Huy chương Bạc ở Ahmedabad, Ấn Độ (1958); Huy chương Đồng ở Trento, Ý (1958); Huy chương Bạc ở Moenchenlabad, Đức (1959)... cùng nhiều giải thưởng khác tại các cuộc thi ở Singapore, Tây Ban Nha...
Cụ Nguyễn Cao Đàm cũng từng là giám khảo của các cuộc triển lãm nhiếp ảnh quốc tế tại Sài Gòn từ năm 1957 đến 1975. Đặc biệt, cụ đã hai lần liên tiếp được Hội Nhiếp Ảnh Bỉ trao tặng huy chương vàng và trở thành hội viên danh dự của Hội Nhiếp Ảnh Bỉ (Hon F.Kortrijk). Ngoài ra, cụ Nguyễn Cao Đàm còn là hội viên chính thức của Hội Nhiếp Ảnh Hoàng Gia Anh (A.R.P.S.) và là hội viên danh dự của Hiệp Hội Nhiếp Ảnh Gia Đông Nam Á (Hon S.E.A.P.S.).

Từ tháng 5 năm 1990, ông qua sinh sống tại Úc và từ trần tại đó ngày 4 tháng 6 năm 2001.

Tác phẩm của Cụ Nguyễn Cao Đàm






Nhiếp Ảnh Gia Nổi Tiếng của Việt Nam

posted Aug 7, 2013, 7:03 AM by Le Phan   [ updated Aug 7, 2013, 8:16 AM ]

VÕ AN NINH
 
Võ An Ninh (1907 –  2009) 
là một nghệ sĩ nhiếp ảnh nổi tiếng của Việt Nam.
Ông sở hữu nhiều bộ ảnh có giá trị của lịch sử Việt Nam.

Ông từng làm phóng viên nhiếp ảnh Sở Kiểm lâm Hà Nội thời Pháp thuộc
Năm 1938, tác phẩm Đẩy thuyền ra khơi được giải thưởng ngoại hạng triển lãm ảnh Paris-Pháp

Cuối năm 1938, ông được Bằng khen của triển lãm ảnh nghệ thuật quốc tế Bồ Đào Nha cho tác phẩm Chợ bán nồi đất và Huy chương vàng trong cuộc triển lãm ảnh nghệ thuật cá nhân tại Huế.

Bộ ảnh ghi lại nạn đói năm 1945 là một thành công trong sưu tập ảnh: bức ảnh hai em bé ngồi bên cây số hai Thái Bình chờ chết.





Tác phẩm của  Cụ Võ An Ninh




                   








LỊCH SỬ NHIẾP ẢNH VIỆT NAM

posted Aug 6, 2013, 7:25 PM by Le Phan   [ updated Aug 6, 2013, 7:29 PM ]

LỊCH SỬ NHIẾP ẢNH VIỆT NAM
Ở đây xin được tuyệt đối miễn bàn về quan điểm chính trị.
Bài trích đăng sau đây của tác giả Lê Ngọc Minh chỉ mang tính cách 
tham khảo để học hỏi trên  phương diện Lịch sử về Nhiếp ảnh
Nghệ thuật là Nghệ thuật
 
Tác giả : LÊ NGỌC MINH

Sơ Lược Về Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật Việt Nam

Trong số các bộ môn Văn học Nghệ thuật của Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, Nhiếp Ảnh là bộ môn mà sinh hoạt ít được biết đến nhất; trong khi đó, Nhiếp Ảnh lại là bộ môn đem về cho Việt Nam nhiều huy chương Vàng, Bạc, Ðồng và bằng Tưởng lệ Danh dự nhiều hơn bất cứ bộ môn Văn học Nghệ thuật nào khác.

Tài-liệu ngắn sau đây xin trình bày vắn tắt cùng độc-giả về sinh hoạt Nhiếp ảnh Nghệ-thuật Việt Nam từ ngày nhiếp ảnh được đưa vào Việt-Nam, 1869 tới nay.


Triển lãm năm 1952
Triển lãm năm 1952

NHỮNG NGÀY ÐẦU

Năm 1865, ông Ðặng-Huy-Trứ, nguyên là một vị quan dưới triều vua Tự-Ðức, khi đi công-tác sang Trung-Hoa theo chỉ thị của vua Tự-Ðức, đã mua trọn một bộ máy chụp và rửa ảnh từ Trung-Hoa và thuê một người Hoa là Dương-Khải-Trí, về Hà-Nội và mở hiệu ảnh Cảm-Hiếu-Ðường, ngày 2 tháng 2 năm Kỷ-Tỵ, (14-3-1869). Ðây là hiệu ảnh đầu tiên của một người Việt-Nam mở tại Việt-Nam. Việc này được chính ông Ðặng-Huy-Trứ ghi lại trong bộ sách "Ðặng Hoàng Trung Văn" quyển III tờ 6, 7 và 8, viết bằng Hoa ngữ, hiện lưu-trữ tại thư-viện Trung-ương, Hà-Nội.

Từ 1869 tới đâu thập-niên 1930, nhiếp-ảnh phát-triển mạnh và lan ra toàn cõi Việt-Nam, nhưng gần như hầu hết chỉ là nhiếp-ảnh dịch-vụ, mà trong đó, công phát-triển, một phần nhờ một người Việt-Nam khác là ông Nguyễn-Ðình-Khánh, tức Khánh-Ký, quê tại thôn Lai-Xá, xã Kim-Chung, huyện Hoài-Ðức, tỉnh Hà-Tây (trước là tỉnh Hà-Ðông).

Phải chờ đến đầu thập-niên 30 mới bắt đầu có phong-trào chơi ảnh nghệ-thuật, với sự xuất hiện không thường xuyên, của các nhiếp-ảnh-gia Võ-An-Ninh, Phạm-Ngọc-Chất, Phạm-Văn-Mùi, Nguyễn-Văn-Khải...

Trong thập-niên 30 và 40, nhiếp-ảnh nghệ-thuật Việt-Nam tuy có phát-triển, nhưng rất chậm. Nhiếp ảnh thỉnh thoảng được triển lãm như một "nghệ thuật khéo tay" trong một góc chợ phiên hay đấu xảo, gần những cửa hàng dệt, đan, đồ gốm, thậm-chí đến gần cả một cửa hàng nước mắm... Những bất ổn chính trị trong thập-niên 40 làm chậm lại những sinh-hoạt nhiếp-ảnh đó.

Năm 1952, lần đầu tiên, 21 nhà nhiếp ảnh Việt Nam (gồm có : Trịnh Văn Bách, Phạm Ngọc Chất, Nguyễn Văn Chiêm, Ðỗ Văn Cương, Nguyễn Cao Ðàm, Nguyễn Lê Giang, Nguyễn Ðạo Hoan, Nguyễn Ðức Hồng, Ðỗ Huân, Tchen Fong Ku, Bàng Bá Lân, Lê Văn Lễ, Tchan Fou Li, Phạm Văn Mùi, Võ An Ninh, Trịnh Ðình Phượng, Dương Quỳ, Trần Lê Sinh, Nguyễn Trọng Sơn, Lỗ Vinh và Bùi Quý Vụ...) triển lãm hơn 100 tác phẩm nhiếp ảnh nghệ thuật tại Nhà Hát Lớn Hà Nội với tựa đề "Triển- lãm Ảnh Mỹ-thuật 1952". Cuộc triển lãm này là một mốc khởi đầu quan trọng của Nhiếp ảnh Nghệ-thuật Việt Nam.
 
Năm 1953, "Triển lãm Nghệ thuật Nhiếp ảnh Việt Nam kỳ 2" cũng được triển lãm tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, quy tụ 56 nghệ sĩ nhiếp ảnh và 165 tác phẩm nhiếp ảnh.

Năm 1954, "Triển lãm Nghệ thuật Nhiếp ảnh, lần thứ 3" cũng được triển lãm tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, quy tụ 36 nghệ sĩ nhiếp ảnh và 96 tác phẩm nhiếp ảnh.

Trong thời gian này, nhiếp ảnh gia Lê Ðình Chữ xuất bản sách ảnh "Ðể Chụp và Rửa Ảnh Mau Chóng" (sau đặt tên lại là Chụp và Rửa Ảnh) tại Hà Nội, 1951.

                           Cụ Đặng Huy Trứ                                                                                Cụ Nguyễn Đình Khánh
Ảnh xưa




Đây là bộ ảnh do nhà giáo lịch sử đã nghỉ hưu Đoàn Thịnh và người con trai là kiến trúc sư Đoàn Bắc sưu tầm.
       
NHIẾP-ẢNH VIỆT-NAM CỘNG-HOÀ (1955-1975)

Hiệp định Genève về Việt Nam năm 1954 tạm thời chia Việt Nam thành hai nước. Một số nhiếp ảnh gia miền Bắc di cư vào Nam (gồm : Nghiêm Vĩnh Cần, Phạm Ngọc Chất, Nguyễn Văn Chiêm, Ðỗ Văn Cương, Nguyễn Cao Ðàm, Nguyễn Mạnh Ðan, Nguyễn Lê Giang, Nguyễn Ðức Hồng, Bùi Quý Lân, Phạm Văn Mùi, Trịnh Ðình Phượng, Trần Lê Sinh, Nguyễn Văn Thông và Lỗ Vinh) và những vị này là cột trụ của sinh hoạt Nhiếp ảnh miền Nam cho đến năm 1975, mà ảnh hưởng của những vị này còn tồn tại nhiều năm sau đó.

Tại miền Nam, những cuộc Triển lãm Ảnh, Thi Ảnh được liên tục tổ chức hàng năm (có năm hai hoặc ba lần triển lãm hoặc thi ảnh) từ 1955 tới 1975; trong đó có một giải quan trọng là Cuộc Thi Văn học Nghệ thuật của tổng thống VNCH. Từ 1958, Việt Nam đứng ra tổ chức các cuộc Thi Ảnh Quốc tế và ảnh nghệ thuật Việt Nam cũng được gửi đi triển lãm và dự thi ở nhiều nước trên thế giới.

Các nhiếp ảnh gia miền Nam đoạt nhiều tước hiệu và giải thưởng cao trên ảnh trường quốc tế như Khưu Từ Chấn, Nguyễn Cao Ðàm, Nguyễn Mạnh Ðan, Nguyễn Ngọc Hạnh, Trần-Linh, Nguyễn Bá Mậu, Phạm Văn Mùi, Ðơn-Hồng-Oai, Trần Ðại Quang, Lý-Lan-Siêu, Lê Anh Tài...

Các Hội Ảnh ở Việt Nam trong thời-gian này :

* Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam.
* Hội Ảnh KBC.
* Hội ảnh Việt Mỹ.
* Hội Ảnh Nghệ thuật Việt Nam.
* Hội ảnh Tinh Võ, Nghĩa An và Vân Trang của người Việt gốc Hoa.

Hội Bách khoa Bình dân mở những lớp nhiếp ảnh (1956-1966) và Hội Ảnh Việt Mỹ mở lớp nhiếp-ảnh (1961-1975) và hội này, từ 1963, cứ hai năm tổ chức một cuộc thi ảnh.

Nhiếp ảnh Thông tin và tuyên truyền của VNCH do Bộ (khi thì Nha) Thông tin phụ trách. Nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Ðàm là chủ sự phòng Nhiếp ảnh, thuộc Bộ Thông tin, chức vụ mà ông giữ cho đến năm 1973.

Công tác Nhiếp ảnh của Cục Tâm lý chiến QLVNCH, do CTTL và Cục Truyền Tin VNCH đảm trách. Nha CTTL đào tạo lớp Phóng viên Tiền tuyến và Trường Truyền tin Vũng Tàu đào tạo nhiều phóng viên Nhiếp ảnh và Ðiện ảnh cho QÐVNCH. Một số lớn giảng viên và học viên của trường được cử đi du học về nhiếp ảnh và điện ảnh tại Mỹ. Phóng-viên nhiếp-ảnh và điện ảnh được phân-phối đến các Vùng Chiến-thuật và xuống đến cấp Trung-đoàn.

Trong thời gian này, một số sách nhiếp ảnh được xuất bản như :

* "Bước Ðầu Chụp Ảnh" của Nguyễn Cao Ðàm, 1965.
* "Bước Ðầu Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật" của Nguyễn Cao Ðàm và Trần Cao Lĩnh, 1967.
* "Việt Nam Quê Hương Yêu Dấu" của Nguyễn Cao Ðàm và Trần Cao Lĩnh, 1967.
* "Vietnam Our Beloved Land" của Nguyễn Cao Ðàm và Trần Cao Lĩnh, 1968.
* "Việt Nam Khói Lửa" của Nguyễn Mạnh Ðan và Nguyễn Ngọc Hạnh, 1968.
* "Cao Nguyên" của Nguyễn Cao Ðàm và Trần Cao Lĩnh, 1969.
* "Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật Bước Hai" của Nguyễn Cao Ðàm và Trần Cao Lĩnh, 1972.
* "Những Kiệt Tác Nhiếp Ảnh 1974" do Nguyễn Ngọc Hạnh xuất bản, 1975.

Các tiệm ảnh được mở ra tại tất cả các tỉnh, các quận và một số xã trên toàn quốc. Riêng tại Sài Gòn có phòng ảnh màu quy mô như Perfect Photo Lab của Lý Lan Siêu và Pacific Color Lab của Trần Linh, phòng ảnh màu của ông Lê Huy Kha và của ông Bùi Quý Lân.

Trên đỉnh cao nhiếp ảnh đó, cuộc chính biến 1975 đã cáo chung nhành Nhiếp ảnh VNCH.

NHIẾP ẢNH VIỆT NAM DÂN-CHỦ CỘNG-HÒA (1955-1975)

Khi đất nước chia hai năm 1955, lực lượng nhiếp ảnh miền Bắc gồm có : các nhiếp ảnh gia trước kia ở Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Ðịnh... nay ở lại; thêm các phóng viên nhiếp ảnh đi kháng chiến nay trở về thêm các phóng viên ở miền Nam ra tập kết (thời-gian đầu, tất cả gồm có : Vũ Năng An, Nguyễn Ðăng Bẩy, Lê Ðình Chữ, Triệu Ðại, Ðinh Ðăng Ðịnh, Nguyễn Giao, Ðỗ Huân, Nguyễn Bá Khoản, Trần Ðăng Lân, Mai Lộc, Nguyễn Tiến Lợi, Trần Lợi, Khương Mễ, Nguyễn Hồng Nghi, Võ An Ninh, Nguyễn Văn Phú, Ðặng Trần Phượng, Hoàng Thái, Lê Văn Thi, Phạm Ðình Túy, Nguyễn Hồng Tranh...).

Tất cả những nhà nhiếp ảnh này được tập hợp, học tập, rồi đưa vào biên chế (nghĩa là đưa vào làm việc tại các cơ quan, tòa báo, VNTTX...); các nhà nhiếp ảnh mở tiệm được đưa vào Hợp tác xã Nhiếp ảnh , tóm lại là tất cả đều được đưa vào cơ quan, đoàn thể. Mặt khác, chính phủ cũng gửi nhiều người đi học về báo chí, nhiếp ảnh, điện ảnh tại Liên Sô, Ðông Ðức, Tiệp Khắc và Ba Lan. Những nhà lãnh đạo Nhiếp ảnh tại Việt Nam ngày nay, đa số là những người đã du học về nhiếp ảnh tại Liên Sô và Ðông Ðức vào thời điểm này.

Năm 1965, "Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh Việt Nam" được thành lập tại Hà Nội và Hội đã nhiều lần gửi ảnh của hội viên đi dự thi tại nước ngoài, hầu hết là tại các nước trong khối XHCN.

Khi cuộc chiến Giải phóng Miền Nam được phát động, một số phóng viên nhiếp ảnh được đưa vào chiến trường B hoặc trải dài theo đường mòn HCM, một số được phân phối chụp ảnh công tác phòng không chống máy bay Mỹ oanh tạc VNDCCH và hơn 80 người đã bỏ mình trong khi thi hành nhiệm vụ. Chúng tôi nhận xét là giàn phóng viên nhiếp ảnh của miền Bắc rất vững, mặc dù dụng cụ yếu kém và tất cả đều là phóng-viên ảnh. Trong thời-gian này, hoàn toàn không có người sinh-hoạt nhiếp-ảnh nghệ-thuật thuần-túy.

Một số sách báo nhiếp ảnh xuất bản trong thời gian này :

* Sách ảnh "Nghệ Thuật Nhiếp Ảnh Việt Nam" gồm 63 ảnh của nhiều tác giả, 1962.
* "Bước Ðầu Chụp Ảnh" của Nguyễn Ðức Chính và Nguyễn Văn Khiêm, 1967(?).
* "Sách Ảnh Nghệ Thuật Việt Nam" gồm 92 ảnh của 51 tác giả, 1971.
* Năm 1958, "Báo Ảnh Việt Nam" được xuất bản số đầu tiên, bằng năm ngôn ngữ, để tuyên truyền quốc ngoại và vẫn còn được tiếp tục.
* Năm 1962, TTXVN xuất bản nội san "Nhiếp Ảnh Tân Văn", (không tồn tại lâu).
* Năm 1967, HNSNA VN xuất bản tạp chí "Nghệ Thuật Nhiếp Ảnh", in ronéo.

Ðường lối sáng tác trong thời gian này là ảnh phải có xây dựng tính, chiến đấu tính, tập thể tính, tóm lại là phải có lập trường. Phương cách sáng tác này được gọi là Phương pháp sáng tác XHCN. Nhiếp ảnh Nghệ thuật thuần-tuý hoàn toàn không có và hoàn toàn không được chấp nhận. Tuy nhiên, nhiếp ảnh gia Ðỗ Huân (một trong 21 nghệ sĩ nhiếp ảnh triển lãm tại Nhà Hát Lớn Hà Nội năm 1952) vẫn lặng lẽ thỉnh thoảng chụp ảnh nghệ thuật và ông đã từng bị phê bình là mơ mộng viển vông. Những hình ảnh này của ông, đến tận năm 1986 mới được đem ra triển lãm lần đầu tiên trước công chúng.

Bộ Thông tin Văn hóa đã cho tổ chức một số cuộc thi ảnh trong nước và hình ảnh thông tin, tuyên truyền được trưng bày sâu rộng trong quần chúng.

Khi không lực Mỹ oanh tạc miền Bắc, nhiều phóng viên đã được bố trí gần những dàn súng phòng không để chụp cảnh bắt được giặc lái Mỹ để làm hình ảnh phóng-sự và tuyên truyền. Những ảnh bắt giặc lái Mỹ của các phóng-viên Văn-Bảo, Phan-Thoan... là những ảnh phóng-sự tuyệt hảo. Các phóng viên khác nổi tiếng trong giai-đoạn này là Vũ-Ba, Lương-Nghĩa-Dũng, Ðinh-Ðăng-Ðịnh, Võ-An-Khánh, Trần-Bỉnh-Khuôl, Xuân-Liễu, Mai-Nam, Dương-Thanh-Phong, Hoàng-Văn-Sắc, Lâm-Tấn-Tài, Chu-Chí-Thành, Trọng-Thanh, Nguyễn-Hữu-Thống, Ðoàn-Công-Tính, Vũ-Tạo, Lê-Minh-Trường...

Vào giai đoạn chót của cuộc chiến 1975, nhiều phóng viên nhiếp ảnh đã được bố trí để di chuyển từ Bắc vào Nam, hoặc từ mật khu về Sài Gòn bằng xe gắn máy hầu có thể đi nhanh và dễ xoay trở... Những hình ảnh chụp khi xe tăng của MTDTGPMN húc đổ cánh cửa dinh Ðộc Lập được coi là hình ảnh kết thúc cuộc chiến Việt Nam, điển hình là ảnh của phóng-viên Vũ-Tạo.

NHIẾP ẢNH VIỆT NAM HẢI NGOẠI
 
Khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt năm 1975, một số nhiếp ảnh gia miền Nam di tản ra nước ngoài (như : Nghiêm Vĩnh Cần, Khưu Từ Chấn, Nguyễn Ðức Cung, Lại Hữu Ðức, Ðỗ Ðức Hiển, Lê Văn Khoa, Bùi Quí Lân, Nguyễn Văn Lân, Lê Ngọc Minh, Ðặng Văn Phước, Võ Văn Thạnh, Nguyễn Xuân Tính, Trần Chí Trung, Huỳnh Công Út...).

Sau đó không lâu, những nhiếp ảnh gia khác vượt biên hoặc xuất cảnh bán chính thức sang Mỹ (như : Nguyễn Xuân Dũng, Bùi Văn Giai, Nguyễn Ngọc Hạnh, Ðinh Công Khanh, Trần Cao Lĩnh, Tôn Lập, Tăng Khánh Lượng, Thái Ðắc Nhã, Ðơn Hồng Oai, Dương Xuân Phương, Trần Ðại Quang, Lý Lan Siêu, Lê Kim Thuận, Nguyễn Huy Trực...).

Và những nhiếp ảnh gia được đào tạo sau 1975 tại Mỹ, tại những lớp nhiếp ảnh của người Việt tổ chức hoặc tại các trường lớp ở Trung học và Ðại học Mỹ.

Những người này đã tạo nên Sinh hoạt Nhiếp ảnh Việt Nam hải ngoại.

Những Hội Ảnh của người Việt ở hải ngọai, hầu hết là ở Mỹ, gồm có :

* Hội Ảnh Nghệ thuật Việt Nam (Artistic Photography Association, APA), thành lập tại Orange County, California năm 1978.
* Hội Ảnh Nghệ thuật Bạn Ảnh (The Image Colleague Society, ICS), thành lập tại Orange County, California năm 1988.
* Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California (The Vietnam Photographic Society of Northern California, VNPS), thành lập tại San Jose, California năm 1990.
* Hội Ảnh Việt Nam Houston (Photo Club of Vietnam, Houston), thành lập tại Houston, Texas năm 1993.
* Hội Nhiếp-ảnh Nghệ-thuật vùng Hoa-Thịnh-Ðốn (Vietnamese Art Photographers Association of Washington D.C.), thành lập tại Washington D.C. năm 1993.
* Tổng-hội Nhiếp-ảnh Ða Văn-hóa (Federation Multi-Cultural Photographic Arts, FMPA), thành lập tại Orange County, California năm 1996.
* Hội Ảnh Nghệ thuật Thiên Nga (The Swan "Ladies" Photographic Society), thành lập tại Orange County, California năm 1998.
* Hội Ảnh South Bay (The Photographic Association of South Bay, PASB), thành lập tại Los Angeles, California năm 1999.
* Hội Ảnh Nghệ thuật The Venus of Los Angeles Photographic Society, thành lập tại Orange County, California năm 1999; năm 2003 đổi tên thành "Photographic Society of California for Vietnamese", viết tắt là PSCVN.
* Hội Ảnh Nghệ thuật Việt Nam Oregon (Vietnamese Photographic Society of Oregon, VPSO), thành lập tại Portland, Oregon năm 1999, hiện không còn hoạt-động.
* Hội Ảnh Nghệ thuật The Portland Photographic Society, thành lập tại Portland, Oregon năm 1999.
* Hội Ảnh United States Photographic Alliance (USPA), thành-lập tại Orange County, California năm 2000.
* Hội Ảnh Thông Xanh (The Portland Photographic Society, PPS), thành lập tại Portland, Oregon năm 2000.
* Hội Nghệ Thuật Việt-Mỹ(Vietnamese American Arts Association,VAAA), thành lập năm 2002 tại Washington DC. Sau đổi thành Hội ảnh Nghệ Thuật Việt-Mỹ( VN USA Photographic Association,VNUSPA), thành lập tại Washington D.C. năm 2005.
* Nhóm Việt-Ảnh, thành-lập tại Orange County, California năm 2002.
* Nhóm Ảnh Trúc-Viên, thành-lập tại San Jose, California năm 2003.
* Hội Ảnh Vietnam Photographic Art Society (VPAS), thành-lập tại Houston, Texas năm 2004.
* Hội Ảnh American Asian Photographic Exhibitor Association (AAPEA), thành-lập tại Los Angeles, California năm 2004.
* Nhóm ảnh Nhóm Phó Nhòm, thành lập tại California năm 2005.
* Hội Ảnh The Aperture Club, thành lập tại Houston, Texas năm 2006.
* Và một số Hội Ảnh của người Việt gốc Hoa tại Houston, Los Angeles, San Francisco và Calgary.

Hầu hết các Hội Ảnh kể trên đều sinh hoạt tại địa phương hoặc trong cộng đồng Việt Nam tại Mỹ. Sinh hoạt trong cộng đồng Việt Nam gồm có : tổ-chức lớp học nhiếp-ảnh, thỉnh thoảng tổ chức cuộc triển lãm ảnh, hàng năm phụ với một hội đoàn Việt Nam tổ chức cuộc thi ảnh hay triễn-lãm ảnh vào dịp Tết Âm-lịch v.v...

Hội Ảnh ICS (Image Colleague Society) được thành lập với mục đích huấn luyện và hướng dẫn người Việt hải ngoại đi vào sinh hoạt nhiếp ảnh với "người Mỹ" (main stream) và với quốc tế. ICS đã tiến-cử hai nhiếp-ảnh-gia lão-thành Phạm-Văn-Mùi và Lý-Lan-Siêu, để được PSA tuyên-dương The High Honor of Special Service Award tại thành phố Lake Tahoe, California, 1992.

Chủ-tịch của Hội ảnh USPA là ông Tony Lê-Kim-Thuận, được Tổng-hội Nhiếp-ảnh Nghệ-thuật Quốc-tế (FIAP) chọn làm đại-diện của FIAP tại Mỹ, từ 2000.

Hội ảnh PSC là hội ảnh đầu tiên đã mở những lớp hướng-dẫn ảnh Kỹ-thuật số.

Một số sách báo nhiếp-ảnh xuất-bản tại hải-ngoại :

* Sách ảnh "Việt-Nam Quê-hương Muôn Thuở" của Trần-Cao-Lĩnh, 1988.
* Những bài viết về "Nhiếp-ảnh" của Lê-Ngọc-Minh, Lê-Văn-Khoa, Ngô-Thanh-Tùng, Lại-Hữu-Ðức in trên tạp-chí Nắng Mới, Montréal, Canada, 1989-1992.
* Sách ảnh "Việt-Nam Quê-hương Tôi" của Lê-Quang-Xuân, 1994.
* Sách ảnh "Artistic Photo Album of Don-Hong-Oai" và "Don Hong Oai, Photographic Memories - Images from China and Vietnam", của Ðơn-Hồng-Oai, 1997 và 1999.
* Sách "Ðường Vào Nhiếp-ảnh Cho Người Tự học" và "Ðường Vào Nhiếp-ảnh 2" của Ngô-Thanh-Tùng, 1998-1999.
* Những bài viết về "Kỹ-thuật Chụp ảnh" của Văn-Vũ và Lê-Ngọc-Minh in trên tạp-chí Hương-Quê, Houston.
* Ðặc-san Việt-Ảnh, xuất-bản mỗi năm một số, hiện đã ra được ba số.
* Sách ảnh "2001 Tuyển tập ảnh" của HANTVN, gồm nhiều tác-giả, 2001.
* Sách ảnh "Pictorial Photography" của HANTVN, gồm nhiều tác-giả, 2004.
* Sách ảnh "Việt-Ảnh Club 2005", gồm nhiều tác-giả, 2005.
* Sách ảnh "Viễn du" của Vietnamese American Arts Association, 2005.
* Bộ sách ký-sự "Quê-hương qua ống kính" đã xuất-bản 7 cuốn, của Trần-Công-Nhung.
* Sách ảnh "American Asian Photographic Salon Exhibitor Association", gồm nhiều tác-giả, 2007.

Từ giữa thập-niên 1980 về sau, một số nhiếp-ảnh-gia Việt-Nam tại hải-ngoại đã gửi ảnh tham-dự các cuộc thi ảnh quốc-tế và đã nhận được những giải cao, đồng-thời, một số nhiếp-ảnh-gia khác đã nhận được những tuyên-dương công-trạng về những đóng góp cho ngành nhiếp-ảnh, từ những hội ảnh có uy-tín trên thế-giới.

NHIẾP ẢNH CHXHCN VIỆT NAM (1975 TỚI NAY)

Khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt năm 1975, đất nước thu về một mối, Việt Nam theo đường lối XHCN. Các nhà nhiếp ảnh cũng được đoàn ngũ hóa và các tiệm ảnh đều được thu vào thành các Công ty Nhiếp ảnh.

Ðường lối chụp ảnh XHCN cũng được áp dụng ở miền Nam (ảnh phải có xây dựng tính, chiến đấu tính, tập thể tính, tóm lại là phải có lập trường). Một vài nhà nhiếp ảnh miền Nam có những hành động chống đối đường lối sinh hoạt nhiếp ảnh và chủ trương sinh hoạt nhiếp ảnh XHCN, dù là phản đối tiêu cực. Và cũng vì cuộc sống mới gặp nhiều khó khăn, sau mấy lần đánh tư sản mại bản, một số nhiếp ảnh gia miền Nam phải bán dụng cụ nhiếp ảnh để mua gạo.

Thành ủy và bộ Thông tin Văn hóa có tổ chức những cuộc thi ảnh; người dự thi phải nộp ảnh nhỏ, cỡ bưu thiếp để được chấm sơ thảo, nếu ảnh được chọn, thí sinh sẽ được cho mấy tờ giấy ảnh lớn để về phóng ảnh rồi đem nộp thi. Ảnh trúng tuyển thường là ảnh "có lập trường", điều này đa số vẫn còn xẩy ra trong các cuộc thi ảnh cho đến ngày nay.

Năm 1981, HNA t/p HCM được thành lập và nhiều nhiếp ảnh gia chọn đường lối gia nhập để có giấy phép hoạt động, hầu còn có thể đem máy ảnh đi đây đi đó; nếu không có giấy tờ phòng thân, có khi bị làm khó dễ, tịch thu máy, mà có khi còn bị nhốt nữa, kể cả một số cán bộ nhiếp ảnh trong biên chế ! Những người chụp ảnh dạo, thí dụ như ở Sở Thú, nhà thờ Ðức Bà...đều phải có giấy phép của công an... vì nghề ảnh là một trong số 7 nghề do công an quản lý.

Về công tác huấn luyện, HNA t/p HCM, Nhà Văn hóa Thanh niên, Nhà Văn hóa Phụ nữ... có mở những lớp nhiếp ảnh và hiện vẫn còn tiếp tục. Trong thời-gian đầu, bài học về chuyên-môn Nhiếp-ảnh do nhiếp-ảnh-gia miền Nam phụ-trách, còn những đề tài liên-quan đến chính-trị và đường-hướng sáng-tác và chỉ-đạo XHCN do cán-bộ từ Bắc vào hoặc cán-bộ từ bưng về hướng-dẫn.

Năm 1985, khi có phong trào đổi mới và cởi trói thì mọi sinh hoạt bừng lên, trong đó riêng bộ môn nhiếp ảnh, các công ty Nhật, Mỹ, Ðức tràn vào Việt Nam khai thác thị trường (như : Fuji, Mitsubishi, Canon, Nikon, Olympus, Ricoh, Kodak, Agfa...) do đó phim ảnh màu, máy ảnh tràn vào; các Mini Lab và tiệm ảnh mọc lên như nấm ở khắp mọi thành phố, quận... có nơi về đến xã... Từ 2000 trở đi, nhiếp-ảnh kỹ-thuật số đã dần dần thay thế nhiếp-ảnh truyền-thống đã có mặt tại Việt-Nam từ hơn 100 năm nay.

Năm 1994, Rick Smolan và 70 nhiếp-ảnh ngoại quốc đến Việt-Nam (trong đó có 17 nhiếp-ảnh-gia Việt-Nam) chụp ảnh "đời sống hàng ngày" tại Việt-Nam trong 7 ngày, về Mỹ in sách ảnh "Passage to VietNam"; đây là lần đầu tiên nhà nước Việt-Nam cho phép một số đông phóng-viên nhiếp-ảnh ngoại quốc đi khắp nước như vậy.

Về tổ chức, HNSNAVN phụ trách nhiếp ảnh toàn quốc; những thành phố lớn có Hội Nhiếp ảnh Thành phố, các thành phố nhỏ hơn, có Chi Hội HNSNAVN. Ngoài ra còn có rất nhiều Câu-lạc-bộ Nhiếp-ảnh và một số cá-nhân sinh-hoạt riêng rẽ. Về phương-diện tài chánh, HNSNAVN được chính phủ tài trợ để hoạt động, lại thêm một số công ty phim máy, giấy ảnh tài trợ nên Việt Nam mỗi năm tổ chức trên dưới 30 cuộc thi ảnh mà phần thưởng có khi trị giá tới cả ngàn đô la. Năm 1996, HNSNAVN tổ chức cuộc thi ảnh quốc tế VN-01 tại Hà-Nội, dưới sự bảo trợ của FIAP; năm 2002, tổ chức cuộc thi ảnh quốc tế VN-02; năm 2005, tổ chức cuộc thi ảnh quốc tế VN-05 và năm 2007, tổ chức cuộc thi ảnh quốc tế VN-07.

Năm 1992, Việt Nam sinh hoạt với nhiếp ảnh quốc tế : gửi ảnh dự thi quốc-tế và triển-lãm ảnh ở nhiều nước, gia nhập FIAP và FAPA và lần đầu tiên, nhiếp ảnh gia Việt Nam nhận được tước hiệu quốc tế, gần như hầu hết là với FIAP. Ngày nay, Việt-Nam là một quốc-gia đoạt được rất nhiều giải thưởng cao trong cac cuộc thi ảnh trên khắp thế giới. Nhiều cá-nhân nhiếp-ảnh-gia, nhiều Câu-lạc-bộ Nhiếp-ảnh đã đạt được nhiều thành-tích cao trong các cuộc thi ảnh quốc-tế, đặc-biệt là cuộc thi ảnh hàng năm tại Áo-Quốc.

Một số sách ảnh :

* Sách ảnh "Ảnh Võ-An-Ninh" của Võ-An-Ninh, 1991.
* Sách ảnh "Việt-Nam Quê-hương Tôi" của Ðào-Hoa-Nữ, 1993.
* Sách ảnh "Ảnh Nghệ-thuật Việt-Nam", của nhiều tác-giả, 1995.
* Sách ảnh "Quê-hương Việt-Nam" và "Hình ảnh Việt-Nam" của Nguyễn-Mạnh-Ðan, 1996 và 2004.
* Sách ảnh "Việt-Nam Xưa và Nay" của Ðỗ-Huân, 1996.
* Sách ảnh "Ảnh Nghệ-thuật Phạm-Văn-Mùi" của Phạm-Văn-Mùi, 1997.
* Sách ảnh "Huế, Ðất Mẹ Của Tôi" của Ðào-Hoa-Nữ, 2000.
* Sách ảnh "Ảnh Việt-Nam thế-kỷ XX", gồm khoảng 50% ảnh phóng-sự, tuyên-truyền và 50% ảnh nghệ-thuật, 2002.
* Sách ảnh "Sống cùng năm tháng", gồm những ảnh đoạt giải thưởng quốc-tế của nhiều tác-giả, 2003.
* Sách ảnh "Ðất và Người" của Lê Phức, 2004.
* Sách ảnh "Những tác-phẩm đoạt Giải thưởng Quốc-tế 1 và 2", 2003 và 2004.
* Sách ảnh "Ảnh xuất sắc", ảnh nghệ thuật của nhiều tác giả, 2006.
* Sách ảnh "25 năm Ảnh nghệ thuật t/p HCM", ảnh nghệ thuật của nhiều tác giả, 2007.
* Sách ảnh "Ký ức miền quê" của Tam-Thái, 2007.
* Sách ảnh "Xuân thì" của Thái-Phiên, 2007.

Tất cả những sách ảnh trên gần như hầu hết đều là ảnh nghệ-thuật, chỉ có một số rất nhỏ ảnh mang chút dấu-ấn chính-trị.

Tạp-chí liên-quan đến Nhiếp-ảnh, có :

* Tạp-chí "Nhiếp-Ảnh" của HNSNAVN.
* Tạp-chí "Ánh Sáng Ðẹp" của HNA t/p HCM.


Ðó là sơ-thảo về Nhiếp-ảnh Nghệ-thuật Việt-Nam hơn một trăm năm qua.

70 Năm Tình Ca Việt Nam

posted Aug 6, 2013, 6:44 PM by Le Phan

70 Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam (1930 - 2000)
Trích từ SBS Radio (Úc Châu) do Hoài Nam biên soạn.

(This page is for streamming audio. If you need to download MP3 audio, please go HERE)

Phần 01: 1930 Nguyễn Văn Tuyên, Đặng Thế Phong
Phần 02: 1940 Lê Thương
Phần 03: Văn Cao phần 1
Phần 04: Văn Cao phần 2
Phần 05: Dương Thiệu Tước
Phần 06: 1945-1946
Phần 07: Thẩm Oánh , Canh Thân, Tô Vũ, Nguyễn Thiện Tơ
Phần 08: Thế nào là nhạc tiền chiến
Phần 09: Phạm Duy Nhượng, Lê Hoàng Long, Tu Mi, Võ Đức Phấn
Phần 10: Lưu Hữu Phước, Trần Hoàn, Tô Hoài, Tô Vũ
Phần 11: Hoàng Giác, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Tý
Phần 12: Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Văn Quỳ, Hoàng Dương
Phần 13: Đoàn Chuẩn - Từ Linh
Phần 14: Phạm Duy, Hoàng Trọng, Ngọc Bích
Phần 15: Văn Giảng, Châu Kỳ
Phần 16: Anh Việt, Lâm Tuyền
Phần 17: Tổng kết giai đoạn 1938-1954
Phần 18: Hoàng Trọng
Phần 19: Ngọc Bích, Xuân Tiên
Phần 20: Vũ Thành, Đan Thọ
Phần 21: Phạm Duy
Phần 22: Lê Trọng Nguyễn
Phần 23: Hoàng Nguyên
Phần 24: Lê Mộng Nguyên, Nguyễn Hiền, Nhật Bằng
Phần 25: Phạm Đình Chương 1
Phần 26: Phạm Đình Chương 2
Phần 27: Văn Phụng
Phần 28: Hoàng Thi Thơ
Phần 29: Nguyễn Văn Đông
Phần 30: Tuấn Khanh
Phần 31: Y Vân
Phần 32: Anh Bằng
Phần 33: Minh Kỳ
Phần 34: Lê Dinh
Phần 35: Phạm Mạnh Cương, Phạm Trọng Cầu
Phần 36: Lam Phương
Phần 37: Trúc Phương
Phần 38: Huỳnh Anh
Phần 39: Khánh Băng
Phần 40: Duy Khánh
Phần 41: Mạnh Phát
Phần 42: Nhật Trường
Phần 43: Hoài Linh
Phần 44: Song Ngọc
Phần 45: Nhật Ngân, Thanh Sơn
Phần 46: Nguyễn Ánh 9
Phần 47: Đỗ Lễ, Bảo Thu
Phần 48: Hoài An, Nguyễn Vũ
Phần 49: Trường Hải, Dzũng Chinh, Hàn Châu 
Phần 50: Cung Tiến phần 1
Phần 51: Cung Tiến phần 2
Phần 52: Thanh Trang, Anh Việt Thu
Phần 53: Phạm Thế Mỹ
Phần 54: Trầm Tử Thiêng Phần 1
Phần 55: Trầm Tử Thiêng Phần 2
Phần 56: Trường Sa
Phần 57: Từ Công Phụng
Phần 58: Trịnh Công Sơn Phần 1
Phần 59: Trịnh Công Sơn Phần 2
Phần 60: Lê Uyên Phương Phần 1
Phần 61: Lê Uyên Phương Phần 2
Phần 62: Vũ Thành An
Phần 63: Ngô Thụy Miên Phần 1
Phần 64: Ngô Thụy Miên Phần 2
Phần 65: Ban Nhạc Trẻ Phượng Hoàng_Phần 1
Xuân Kỷ Sửu: Xuân Trong Tân Nhạc Việt Nam
Phần 66: Ban Nhạc Trẻ Phượng Hoàng_Phần 2
Phần 67: Đức Huy, Nam Lộc, Quốc Dũng, Tùng Giang
Phần 68: Phạm Duy Phần 1
Phần 69: Phạm Duy Phần 2
Phần 70: Phạm Duy Phần 3
Phần 71: Phạm Duy Phần 4
Phần 72: Tổng Kết Thời Kỳ Thứ 2 Trong 70 Năm Tình Ca


Giai Đoạn Sau 1975
Phần 73: Thời Kỳ Sau 1975 Phần 1
Phần 74: Thời Kỳ Sau 1975 Phần 2
Phần 75: Trầm Tử Thiêng
Phần 76: Hoàng Thi Thơ, Phạm Duy, Song Ngọc, Anh Bằng, Đăng Khánh
Phần 77: Tùng Giang, Duy Quang
Phần 78: Đức Huy
Phần 79: Trần Quảng Nam, Vũ Tuấn Đức, Hoàng Quốc Bảo, Margurerite Phạm
Phần 80: Nguyệt Ánh, Việt Dũng, Duy Trác, Trần Ngọc Sơn
Phần 81: Đăng Khánh
Phần 82: Trúc Hồ
Phần 83: Lê Tín Hương, Trịnh Nam Sơn, Hoàng Thanh Tâm, Đỗ Cung La, Anh Tài, Đặng Hiền
Phần 84: Ngô Thụy Miên
Phần 85: Lam Phương
Phần 86: Anh Bằng, Từ Công Phụng
Phần 87: Nguyễn Đình Toàn
Phần 88: Nguyễn Ánh 9
Phần 89: Trần Quang Lộc
Phần 90: Nguyễn Trung Cang - Lê Hựu Hà - Quốc Dũng
Phần 91: Bảo Chấn - Bảo Phúc
Phần 92: Thanh Tùng - Phú Quang - Quốc Bảo
Phần 93: Ngọc Lễ - Trần Tiến
Phần 94: Sơ lược về âm nhạc VN trong 34 năm 1975-2009
Phần 95: Lời Cảm Tạ

Họa Mi & Lê Tấn Quốc: Gặp lại nhau trong âm nhạc và tâm hồn

posted Aug 6, 2013, 6:21 PM by Le Phan

Có thể nói cao thủ về kèn Saxophone của Việt Nam được khán giả ái mộ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Ngày xưa có Trần Vịnh với Hạ Trắng, sau đó có Lê Tấn Quốc và gần đây nhất là Trần Mạnh Tuấn. Mời các bạn đọc bài viết về Lê Tấn Quốc để chia sẻ nỗi buồn với người nghệ sĩ có số phận không may này, một số phận cũng buồn như tiếng kèn Saxo của anh:

Họa Mi & Lê Tấn Quốc:   Gặp lại nhau trong âm nhạc và tâm hồn

Đối với sinh hoạt về đêm ở Sài Gòn trước cũng như sau năm 75 và cho đến hiện nay, Lê Tấn Quốc là một nhạc sĩ sử dụng kèn được nhiều người biết tới. Một phần vì khả năng nhuần nhuyễn của anh qua các loại kèn saxo, nổi bật hơn cả là Tenor sax. Phần khác, anh là một nhạc sĩ khiếm thị, nhưng tài nghệ đã khiến nhiều người trong nghề cảm phục.


Lê Tấn Quốc sinh tại Sài Gòn năm 1953. Song thân anh có 7 người con, không kể một số con riêng củacha anh với 2 đời vợ trước. Lê Tấn Quốc còn có hai người anh cũng là những nhạc sĩ quen thuộc của các vũ trường Sài Gòn từ rất lâu, biệt danh là Paul và Jacques.
Lê Tấn Quốc lập gia đình với ca sĩ Họa Mi 1976.

Đến tháng giêng năm 88, Họa Mi sang Pháp trình diễn. Sau đó, Họa Mi đã quyết định ở lại và không hề báo cho Quốc biết trước quyết định này.

Lê Tấn Quốc tâm sự thêm là sau khi Họa Mi ra đi, anh biết là cuộc sống hôn nhân của anh đã chấm dứt: 

“Khi Họa Mi đi coi như xong rồi, coi như tan vỡ rồi. Đó là định mệnh”. 

Và khi biết HọaMi không trở lại Việt Nam: 

“Lúc đó mình thấy cũng hụt hẫng lắm. Đi làm về thấy 3 đứa con nằm ngủ lăn lóc rất tội nghiệp.”

Lê Tấn Quốc cho rằng Họa Mi đi Pháp ở là do tình trạng kinh tế khó khăn của gia đình chứ không có lý do gì khác. Vì sau đó vợ anh cũng đã hoàn tất thủ tục cho chồng con cùng sang đoàn tụ tại Pháp.

Năm 1990, Lê Tấn Quốc cùng 3 con sang Pháp với Họa Mi. Vấn đề đầu tiên là hai người tìm cách chữa trị bệnh mắt của anh. Tuy nhiên, các bác sĩ điều trị cho biết họ cũng bó tay.

Sau vài tháng ở Pháp, Họa Mi đề nghị làm thủ tục để Quốc được hưởng qui chế tỵ nạn, nhưng Quốc nhất định từ chối, anh quyết định quay trở lại Việt Nam. Anh cũng không giấu diếm những mặc cảm của mình. Anh cho biết sẽ chỉ ở lại nếu mắt của mình có thể chữa được. Anh nói: 

“Tới bây giờ em chưa bao giờ ân hận vì đã trở về. Em để các con ở lại cho chúng nó ăn học”.

Lê Tấn Quốc quay trở lại Sài Gòn vào cuối năm 1990, để lại 3 con sống với Họa Mi. Con trai lớn của 2 người năm nay 31 tuổi và đã có gia đình, người con trai kế 27 tuổi và cô con gái út năm nay 24.

Lê Tấn Quốc cũng cho biết Họa Mi đã không giấu diếm khi tâm sự với anh là có cảm tình với một người Việt lớn hơn chị 12 tuổi trong thời gian sống ở Pháp. Người này là giám đốc một công ty sản xuất kem và bánh ngọt. Anh mừng cho Họa Mi đã gặp được một người tốt.

Nguyên nhân khiến họ chia tay không phải đến từ sự đổ vỡ hạnh phúc. Và cũng chẳng phải do lỗi lầm của một ai hoặc do một sự xung đột nào đó. Mà chỉ do đầu óc thực tế của cả đôi bên. Vì thật sự cho đến lúc quyết định như vậy, cả hai đều vẫn dành cho nhau những tình cảm rất tốt đẹp sau khi đã có với nhau 3 người con.

Câu chuyện gia đình giữa một nhạc sĩ kèn khiếm thị và một nữ ca sĩ nổi tiếng này đã có một thời kỳ gây nhiều xúc động nơi mọi người.



Chuyện tình giữa ca sĩ Họa Mi và nhạc sĩ Lê Tấn Quốc có tất cả tính chất bi tráng, oan khiên và hệ lụy của những cặp tình nhân, đã gặp nhau, yêu nhau, cưới nhau và xa nhau trong hoàn cảnh nghiệt ngã của một giai đoạn lịch sử đầy thảm khốc. 

Chàng nhạc sĩ khiếm thị ngày nay có thể không còn nhìn rõ mặt người yêu như những ngày đầu còn mặn nồng 1976 và cô ca sĩ ngày nay trên chiếc thuyền mới của cuộc đời với tất cả trách nhiệm gia đình trên đôi vai bé nhỏ.

Thế nhưng trong tâm hồn họ vẫn còn một góc dành cho nhau, và góc riêng tư đó không cần nhìn bằng đôi mắt, góc riêng tư đó không có thời gian và không có không gian, góc riêng tư đó chỉ có tiếng chim Họa Mi hót bên dòng suối Saxo ngọt ngào mãi mãi. 

Mời các bạn nghe một số bài nhạc qua tiếng kèn của Lê Tấn Quốc:

YouTube Video


YouTube Video


YouTube Video


YouTube Video


YouTube Video


YouTube Video


YouTube Video


1-8 of 8