Âm Nhạc & Nghệ Thuật • Music & Arts


Họa sĩ Pháp gốc Việt: 'Chọn đứng về phía tự do'

posted May 3, 2021, 8:39 AM by Le Phan   [ updated May 3, 2021, 8:44 AM ]

 Họa sĩ Pháp gốc Việt: 

'Chọn đứng về phía tự do'


Việt Nam, họa sỹTranh vẽ một góc phố Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa của họa sỹ Pháp gốc Việt Marcelino Trương

Họa sỹ truyện tranh người Pháp gốc Việt Marcelino Trương chia xẻ với BBC trải nghiệm vẽ lại ký ức ấu thơ sống ở Việt Nam, thời cha của ông làm phiên dịch cho Ngô Đình Diệm.

Marcelino Trương, tên tiếng Việt là Trương Lực, có cha người Việt, mẹ người Pháp.

Cha của ông, ông Trương Bửu Khánh, từng làm phiên dịch cho Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm vào những năm 1961 - 1963.

Marcelino Trương sinh năm 1957 ở Philippines. Thời thơ ấu, ông từng sống cùng cha mẹ ở Mỹ, Sài Gòn và Anh quốc. Ông tốt nghiệp đại học Sorbonne Pháp ngành khoa học chính trị và văn chương Anh. Niềm đam mê nghệ thuật đã đưa ông đi đến quyết định dấn thân vào hội họa và trở thành họa sỹ ở tuổi 26. Hiện ông sinh sống và làm việc tại Pháp.

Công việc của cha cùng những ký ức về Việt Nam thời chiến tranh đã để lại dấu ấn sâu sắc và là chất liệu để Marcelino Trương vẽ nên hai cuốn truyện tranh ấn tượng về thời Việt Nam Cộng Hòa, "Such a lovely little war" và "Saigon Calling".

Đã có một số nhà xuất bản lớn ở Việt Nam liên hệ với Marcelino Trương đề nghị in truyện của ông. Nhưng sau đó từ chối vì "nhạy cảm".

'Những năm tháng khốc liệt nhưng sống động'

"Đây là những năm tháng mà kỷ niệm luôn sống động trong tôi," Marcelino Trương nói.

Trong cuốn "Such A Lovely Little War" xuất bản năm 2012, chiến tranh Việt Nam những ngày đầu, 1961-1963, được kể lại qua đôi mắt của cậu bé Marcelino Trương - khi đó đang sống cùng cha mẹ ở Sài Gòn.

Việt Nam, họa sỹ
Họa sỹ Marcelino Trương

Đây chính là thời gian cha ông, ông Trương Bửu Khánh, đảm nhiệm vai trò một nhà ngoại giao và thông dịch viên của Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm.

"Saigon Calling" xuất bản năm 2017 tiếp tục câu chuyện của gia đình Marcelino Trương tại London, nơi họ ở sau khi rời Việt Nam năm 1963. Đồng thời cũng là nơi họ dõi theo cuộc chiến tranh Việt Nam khi đó ngày càng diễn ra ác liệt cho tới năm 1975.

Cha ông lúc này đã chuyển sang làm phóng viên cho hãng Reuters. Đó cũng là thời gian gia đình ông "không hoàn toàn sống" cuộc sống ở London vì "lẩn quẩn phía sau là cuộc chiến tàn khốc ở Việt Nam". Nơi đó, bà con của ông đối diện với cuộc chiến tranh từ cả hai bên (Cộng sản và không Cộng sản).

"Chúng tôi lo cho họ. Và chúng tôi kinh hoàng trước bạo lực xảy ra trong chiến tranh ở đó."

Giới thiệu cuốn Saigon Calling, bài báo trên The Guardian viết:

"Marcelino Trương đã vẽ lại hình ảnh cha ông, một mặt làm việc quần quật tại hãng thông tấn Reuters, một mặt hướng về Việt Nam nơi cha mẹ ông vẫn còn ở lại, khi chiến tranh bắt đầu và diễn ra ngày càng ác liệt, và phải đương đầu với niềm hy vọng sụp đổ về dân chủ và hòa bình ở Việt Nam. Và mẹ ông, bà Yvette, một người Pháp, cô đơn ở Wimbledon, phải đấu tranh với bệnh trầm cảm và nỗi sợ hãi chiến tranh."

"Marcelino Trương cũng bày tỏ băn khoăn về thái độ của nhiều người trẻ tuổi ở Anh đối với cuộc chiến ở Việt Nam. Điều ông không thể hiểu nổi là tại sao họ, bài Mỹ ở một mức độ nào đó, nhưng dường như rất ủng hộ cộng sản."

"Điều cuốn hút đáng kinh ngạc của cuốn truyện tranh Saigon Calling là họa sỹ Trương mang lại cho người đọc bối cảnh lịch sử và chính trị của chiến tranh Việt Nam gắn liền với đời sống của gia đình ông, những sinh hoạt đời thường, niềm vui, nỗi buồn, những đổi thay trong tâm lý những đứa trẻ đang trở thành vị thành niên ở đất nước xa lạ và nhiều khi, phải lặn ngụp trong mâu thuẫn ngày càng sâu sắc giữa cha và mẹ."

"Ở mỗi trang truyện, ông không quên kể lại từng chi tiết tưởng như nhỏ li ti của đời sống gia đình, như bức ảnh tàu thủy Brownie Starflash chụp với anh trai, cho tới cuộc phiêu lưu của chị gái trên hành trình trở thành dân hippy ở Đại học Durham, với bà giáo viên mơ mộng tại Lycée, người tôn thờ Mao Trạch Đông."

Cả hai cuốn truyện tranh đều đã bán hết từ lâu tại Pháp và để lại ấn tượng sâu sắc với cộng đồng người Pháp gốc Việt cùng thế hệ với Marcelino Trương. Có người nói xem chuyện tranh của ông như sống lại một thời ký ức mà họ không nguôi nhớ về.

Nhưng đó không hoàn toàn là tất cả 'ý đồ' mà Marcelino Trương mong muốn.

'Những người không Cộng sản'

Việt Nam, họa sỹ
Marcelino Truong

Trong câu chuyện với BBC, Marcelino Trương nói ông mong mang lại một cái nhìn chân thực, tươi sáng hơn về thế hệ những người Việt Nam Cộng Hòa, mà ông gọi là những người 'không cộng sản'.

"Rất nhiều người trong số họ rất tuyệt vời, có học thức, chăm chỉ… Cũng giống như phía Cộng sản. Nhưng thông qua truyền thông phương Tây, tới nay nhiều người vẫn chỉ biết về họ như một thể chế tham nhũng, xấu xa. Sự thực không phải như vậy."

"Báo chí phương Tây thời đó thường gọi những người không cộng sản thời đó ở miền Nam Việt Nam là "những con rối Sài Gòn".

"Thế hệ những người Việt Nam không cộng sản thời đó nay hầu như đều sống ở nước ngoài. Nhiều người ngần ngại nói về quá khứ. Đây là điều đáng tiếc, bởi vì nếu họ không làm nói thì ai sẽ nói?"

Trong The lovely little war, Marcelino vẽ câu chuyện về bốn trong số các anh em họ của ông đi lính cho Việt Cộng. Ba trong số đó chết trong trận Mậu Thân ở độ tuổi 20. Người thứ tư bị trả về, thương tật nặng.

"Người dân VIệt Nam hai miền Nam Bắc đều mến chuộng hòa bình. Nhưng Cộng Sản lại yêu điều đó quá mức tới nỗi họ muốn xâm chiếm cả miền Nam.."

"Nhưng Cộng sản không đại diện cho người dân Việt Nam. Tôi nhận ra rằng người miền Nam Việt Nam, với hy vọng thoát chế độ độc tài, có rất ít cơ hội để được người phương Tây thấu hiểu."

Ở Pháp, truyện tranh của Marcelino Trương được chào đón nồng nhiệt.

"Độc giả ngạc nhiên vì họ thường quen với truyền thông chủ yếu tập trung vào Mỹ và những người cộng sản."

"Họ không biết về chế độ Sài Gòn, vốn thường được mô tả là tham nhũng. Cánh hữu ở Pháp thường thích Hà Nội."

"Đối với nhiều người, đó là một phát hiện mới. Nhiều người nói với tôi họ như đọc lại câu truyện về cuộc đời mình."

Việt Nam, họa sỹ
Một trang trong truyện tranh của Marcelino Trương, kể về cú điện thoại Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm

Marcelino Trương mang vào truyện tranh của ông hình ảnh và câu chuyện của cả hai phía, VNCH và Cộng sản. Người của cả hai phía, như ông mô tả, đều thông minh, chăm chỉ, có những phẩm chất đáng quý.

"Nhưng có một thực tế là 80% trong số 400 nhà báo nước ngoài ở Việt Nam là người Mỹ. Và họ chỉ thích đưa tin về cuộc chiến, các trận đấu… Báo chí Mỹ thì dường như không muốn đưa tin về thành công của quân đội Mỹ. Và rất ít người trong số họ thích giao du với người thuộc phía VNCH," Marcelino Trương nói.

Ông vẽ về niềm hy vọng của người cha vào sự thống nhất của Việt Nam năm 1968, khi đại diện hai miền Nam, Bắc gặp nhau để bàn ký kết hiệp ước Paris. Ông Khánh lúc đó dắt tay cô con gái bước ra cửa nhà và hát vang bài Đồng Dao Hòa Bình của Trịnh Công Sơn.

Nhưng niềm hy vọng này đã bị dập tắt sau đó.

Marcelino Trương cũng vẽ lại thời điểm sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân, khi Việt Cộng tiến hành cuộc thanh trừng địa chủ.

Việt Nam, họa sỹ
Marcelino Truong

"Rất nhiều nhà viết sử, nhà báo, và các lãnh đạo lúc bấy giờ tin rằng hàng nghìn xác dân thường chết trong các cuộc thảm sát ở Huế năm 1968, nhiều người bị trói chặt tay phía sau, là kết quả của cuộc Tổng tấn công Mậu Thân. Và bất chấp hiện thực là gì, nhiều người thuộc phe Nam Việt Nam cũng tin là như vậy và bắt đầu sợ hãi phe Việt Cộng," trích đoạn trong "Such a lovely little war".

Họa sỹ Marcelino Trương cũng vẽ lại bối cảnh của bức ảnh lịch sử, khoảnh khắc khi ông Nguyễn Văn Lém của Việt Cộng bị tướng Nguyễn Loan của VNCH bắn chết trên đường phố Sài Gòn. Bức ảnh mang lại cho nhiếp ảnh gia Eddie Adams vinh quang và cả nỗi buồn.

"Bức ảnh này cũng khiến hình ảnh của phe Nam Cộng Hòa thêm xấu đi trong mắt công chúng."

"Thế nhưng truyền thông thời đó lại không nhắc đến việc ông Lém bị bắt khi đột nhập vào nhà tướng Tuân, bạn của tướng Loan, chặt đầu ông này và bắn chết vợ cùng sáu người con," Marcelino viết trong Such a lovely little war.

'Đứng về phía tự do'

Việt Nam, họa sỹMarcelino Trương

Họa sỹ Marcelino Trương luôn nói về cha với niềm tự hào: "Cha tôi là một người trí thức học rộng và rất ân cần.. Cha dạy tôi theo cách Việt Nam.

Ông Trương Bửu Khánh, cha của Marcelino Trương, là một trong những trí thức điểm hình của thế hệ Việt Nam Cộng Hòa, trung thực, thông minh, làm việc cật lực.

Những bức vẽ trong truyện tranh của Marcelino Trương chủ yếu được gợi cảm hứng từ những quan sát của ông đối với công việc mà cha ông làm.

Việt Nam, họa sỹ
Gia đình họa sỹ Marcelino Trương với bố, mẹ và anh chị em, trong cuốn The lovely little war.

"Cha tôi ủng hộ dân chủ. Ông luôn hy vọng một ngày Việt Nam trở thành quốc gia dân chủ, với một chính quyền mạnh, với phe đối lập, với bầu cử tự do cho người dân."

"Nhưng bù lại, cái mà cha tôi thấy là một chế độ quân đội ở miền Nam, và một chế độ độc tài Stalin ở miền Bắc."

Việt Nam, họa sỹ
Marcelino Truong

"Khi chiến tranh nổ ra năm 1969, cha tôi vô cùng thất vọng vì ông nhận ra rằng không dễ để điều đó trở thành hiện thực."

"Những tâm sự, nỗi niềm của cha tôi đã tác động tới tôi rất nhiều."

"Tôi đã đọc nhiều sách về lịch sử, chiến tranh của Việt Nam. Cộng với hồi ức về Việt Nam, về cộng việc của cha tôi khi làm cho Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm, những lá thư mẹ tôi gửi về Pháp cho ông bà ngoại 50 năm sau đã trở thành chất liệu quý để tôi vẽ lại một thời kỳ."

"Còn với cá nhân tôi, tôi rất ghét phải lựa chọn. Tôi không muốn phải chọn đứng về bên nào vì như tôi đã nói, người của hai phía đều rất thông minh, chăm chỉ, có nhiều phẩm chất đáng quý."

"Nhưng nếu bắt buộc phải lựa chọn, tôi sẽ chọn Việt Nam Cộng Hòa, vì tôi muốn đứng về phía của tự do."

Marcelino Trương đã quay trở lại Việt Nam nhiều lần. Ông nói muốn tìm hiểu thêm về đời sống của các họa sỹ trẻ và vẽ về họ.

Ông đang viết tiểu thuyết giả tưởng về việc kết thúc Chiến tranh Đông Dương (1945-1954) với cái nhìn từ ba phía, Cộng sản Việt Nam, người Việt không cộng sản, và người Pháp.

Ngoài ra, Marcelino Trương cũng đang ấp ủ vẽ một cuốn truyện tranh về vai trò của các họa sỹ thời chiến tranh như Bùi Xuân Phái, Mai Văn Hiến.

"Tôi sẽ luôn vẽ, viết về thời của cha mình. Đó là thời kỳ mà tôi ấn tượng nhất về Việt Nam, khốc liệt, nhưng không thể nào quên," Marcelino Trương nói với BBC từ nhà riêng của ông, một căn hộ nhỏ nằm bên bờ biển miền Nam nước Pháp.

Câu chuyện của Marcelino Trương nằm trong loạt bài Global Vietnamese - Người Việt Nam Toàn Cầu của BBC Tiếng Việt.

Độc giả muốn chia xẻ những nét đặc thù, hay những nhân vật nổi trội của cộng đồng mình, xin liên lạc với BBC, email:vietnamese@bbc.co.uk hay với tác giả, email: MyHang.Tran@bbc.co.uk.

Con Trâu Trong Văn Học, GS.Lê Đình Thông

posted Feb 9, 2021, 8:07 AM by Le Phan

image.png


Con Trâu Trong Văn Học

GS.Lê Đình Thông


File:Walking the water buffalo.jpg


Năm Canh Tý (2020) qua đi, năm Tân Sửu (2021) thay thế. Sửu là con giáp thứ hai trong số 12 con giáp (十二支 : thập nhị chi). Tân là can thứ hai trong số thập can (十干). 

Mười hai con giáp gồm có : Tý (chuột), Sửu (trâu), Dần (hổ), Mão (mèo), Thìn (rồng), Tỵ (rắn), Ngọ (ngựa), Mùi (dê), Thân (khỉ), Dậu (gà), Tuất (chó), Hợi (lợn).

Danh sách mười Can chép như sau. Số chót năm dương lịch tương ứng với Can + Chi. Năm 2021 : số 1 là Tân + Sửu (theo thứ tự mười hai con giáp). 

Số

Can

Việt

Âm – Dương

Hành 

0

canh

Dương

Kim 

1

tân

Âm

Kim 

2

nhâm

Dương

Thủy 

3

quý

Âm

Thủy 

4

giáp

Dương

Mộc 

5

ất

Âm

Mộc 

6

bính

Dương

Hỏa 

7

đinh

Âm

Hỏa 

8

mậu

Dương

Thổ 

9

kỷ

Âm

Thổ 

Trâu là tên gọi tiếng Việt. Chữ Hán viết là 牛 (ngưu), tượng hình cái sừng trâu. Trong văn hóa nước ta, con trâu là điềm lành : nằm mơ thấy trâu vàng là điềm giàu sang, cưỡi trâu là có tin vui, trâu sinh nghé là ý nguyện viên thành.


Văn học nước Tầu có truyện Tây Du Ký, Ngưu ma vương là vua các loài trâu. Trong truyện Ngưu Lang Chúc Nữ, Ngưu Lang là thần chăn trâu, vì mê say Chúc Nữ dệt vải, chàng bỏ việc đồng áng, còn nàng bỏ khung cửi. Thượng đế bắt đôi tình nhân phải xa nhau, kẻ đầu sông Ngân, kẻ cuối sông. Cả hai khóc như mưa, biến thành mưa ngâu. Hàng năm, vào đêm 7 tháng Bảy âm lịch, cả hai được gặp nhau trên chiếc cầu Ô Thước. Trong triết học đông phương còn có sự tích Lão Tử cưỡi trâu.


https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c2/M%E1%BB%A5c_%C4%91%E1%BB%93ng_th%E1%BB%95i_s%C3%A1o.JPG/300px-M%E1%BB%A5c_%C4%91%E1%BB%93ng_th%E1%BB%95i_s%C3%A1o.JPG

Trâu trong tranh Đông Hồ 


Lịch sử nước ta có sự tích Đinh Bộ Lĩnh thuở nhỏ cưỡi trâu, lấy cờ lau tập trận.

Hình luật triều Lý và triều Trẩn đều ngăn cấm việc giết trâu, mục đích là để bảo vệ việc đồng áng. 

Ở Bắc Giang và nhiều sắc tộc miền thượng du có tục tế trâu. Saigon, thủ đô VNCH trước 1975, thuở xưa có tên là Bến Nghé. 


I - Con trâu trong văn chương truyền khẩu :

Trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, giáo sư Dương Quảng Hàm chia văn học nước ta thành hai loại : văn chương bình dân và văn chương bác học. Văn chương bình dân gồm văn chương truyền khẩu (tục ngữ : lời nói có từ lâu đời) và ca dao (bài hát lưu hành trong dân gian)

Trong kho tàng tục ngữ, có nhiều câu nói truyền tụng nói về trâu như sau :

1.1. Tục ngữ :

- Con trâu là đầu cơ nghiệp

- Chín gang trâu cười, mười gang trâu khóc. 

- Tha cày cuốc góc, nghỉ nhọc chăn trâu. 

- Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà.

- Trâu thịt thì gầy, trâu cày thì béo. 

- Muốn giàu nuôi trâu lái, muốn lụn bại nuôi bồ câu. 

- Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi. 

- Trâu có đàn, bò có lũ.

- Mua trâu xem sừng, mua chó xem chân. 

- Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc. 

1.2. Ca dao :

- Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cầy vợ cấy con trâu đi cầy.

- Ai nói chăn trâu là khổ??
Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu. 

- Đêm qua kẻ trộm vào nhà,
Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.
Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,
Thức mà giữ lấy con trâu con bò.
Nằm đây nào đã ngủ cho,
Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

- Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu.
Ở đời khôn khéo chi đâu,
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần. 

- Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà
Tháng ba thì đậu đã già
Ta đi ta hái về nhà phơi khô
Tháng tư đi tậu trâu bò
Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm.

- Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày giữ nghiệp nông gia.
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!
Bao giờ cây lúa còn bông,
thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”. 

- Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,
Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,
Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,
Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao! 

- Trâu buộc thì ghét trâu ăn,
Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

- Dù ai buôn bán nơi đâu
Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về 

- Trời mưa trời gió đùng đùng
Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu
Gánh về trồng bí trồng bàu
Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.


II - Con trâu trong văn học thành văn :

Trong các tác phẩm văn học thành văn, cổ văn có Lục Súc Tranh Công là tiêu biều. Tân văn có tiểu thuyết Con Trâu của Trần Tiêu.

2.1. Lục Súc Tranh Công (六畜爭功) viết bằng chữ Nôm. Theo cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1888-1960), tác giả Quốc Văn Cụ Thể (1932), tác phẩm này ra đời vào thời Lê mạt. Năm 1923, học giả Trương Vĩnh Ký có công phiên âm ra quốc ngữ.


Lục Súc Tranh Công viết theo thể nói lối, biến thể của song thất, gồm 570 câu. Không biết tác giả là ai, nhưng theo cụ Bùi Kỷ, tác giả hẳn là một nhà nho uyên bác, dùng nhiều điển cố.

Lục súc (六畜) gồm có ngựa, trâu, dê, chó, lợn (heo) và gà. Sau đây là trích đoạn về phần con trâu tranh công :

vanhocvietnam

Trâu mỏi nhọc, trâu liền năn nỉ:
"Một mình trâu ghe nỗi gian nan,
Lóng canh gà vừa mới gáy tan,
Chủ đã gọi thằng chăn vội vã.
Dạy rằng: đuổi trâu ra thảo dã,
Cho nó ăn ba miếng đỡ lòng.
Chưa bao lâu thoắt đã rạng đông;
Vừa đến buổi cày bừa bua việc.
Trước cổ đã mang hai cái niệt,
Sau đuôi thêm kéo một cái cày;
Miệng đã dàm, mũi lại dòng dây,
Trên lưng ruồi bâu, dưới chân đỉa cắn.
Trâu mệt đà thở dài, thở vắn,
Người còn hầm hét, mắng ngược mắng xuôi.
Liệu vừa đứng bóng mới thôi,
Đói hòa mệt, bước khôn dời bước.
Ai thong thả, trâu nào ben đặng ?
Trâu nhọc nhằn, ai dễ thế cho?
Cày ruộng sâu, ruộng cạn cho no,
Lại vườn đậu, vườn mè khiến chở

Làm không kịp thở,
Ăn không kịp nhai.
Tắm mưa, trải gió chi nài!
Đạp tuyết, giày sương bao sá!

Có trâu, sẵn tằm tơ, lúa má,
Không trâu, không hoa quả, đậu mè.
Lúa gặt cất lên đà có trâu xe,
Lúa chất trữ, lại để dành trâu đạp.
Từ tháng giêng cho đến tháng chạp,
Kể xuân, hè, nhẫn đến thu, đông.
Việc cày bừa, nông vụ vừa xong,
Lại xe gỗ, dầm công liên khói,
Bất luận xe rào, xe củi.
Nhẫn đến loài phân bổi, tranh che.
Hễ bao nhiêu nhất thiết của chi,
Thì đã phú mặc trâu chuyên chở.

Bao quản núi non hiểm trở ?
Chi nài khe suối dầm dề ?
Cong lưng chịu việc nặng nề,
Cay đắng những lời dức lác!

Ăn thì những rơm khô, cỏ rác,
Ở quản chi ràn lấm, tráp nè.
Trâu dựng nên nông nọ, nỗi kia;
Trâu làm đặng căn trên, bồ dưới.
Nghĩ suy lại công trâu cho phải,
Lẽ cho trâu thao lụa mặc dày.
Không chi thì quần vải, dải gai,
Không chi thì khố lưỡi cày cũng khá.
Ăn cho phải những cơm với cá,
Không nữa thì rau cháo cũng nên
Đến mai sau già cả sức hèn,
Cũng bảo dưỡng bổ công lao lý.
Khi mạng một chẳng đơm, chẳng tế;
Lẽ "sinh cử, tử táng", mới ưng.
Thủa sống đà không dạ yêu đương,
Khi thác lại đoạn tình siêu độ.
Bảo nhau sắm con dao, cái rổ,
Khiến nhau vơ mớ củi, nắm nè.
Rằng: Trâu này cốt Phật xưa kia,
Phát đình liệu cho hồn thăng thiên giái.
Còn hình tích giống chi để lại,
Người người đều bàn bạc với nhau:
Kẻ thì rằng: Tôi lãnh cái đầu,
Người lại nói: Phần tôi cái nọng.
Kẻ giành lòng bóng ép gối mà kê,
Còn sừng đem về ép thoi làm lược.
Kẻ thì chuốc hoa tai, làm bầu liều.
Làm tù và mà thổi cũng kêu,
Tiện con cờ mà đánh cũng tốt.
Kẻ thì làm cái mõ, cáo hộp,
Người lại tỉa cán quạt, cán dao.

Còn giò chia nhau,
Làm nham, làm thấu.

Trâu gẫm lại là loài cầm thú,
Phận sau chịu vậy, dám nài!
Trâu thác đã công nghiệp phủi rồi,
Trâu sống lại kiện nài với chủ:
Không nhớ thủa bôi chuông đường hạ.
Ơn Tề vương vô tội kiến tha,
Tưởng chưng khi sức mọn tuổi già,
Cám Điền tử dạy con chớ bán.

Lời cổ nhân còn dặn,
Sao ông chủ vội quên ?

Chẳng nhớ câu "Dĩ đức hành nhân".
Lại lấy chữ "Báo ân dĩ oán!"
Nói chi nữa cho dài chuyện vãn ?
Thưa chủ xin nói thép một lời:
Nhưng loài muông, vô tướng, vô tài,
Nuôi giống ấy làm chi cho nhọc ?
Ăn cho lớn, dưỡng vai, dưỡng vóc,
Giỡn với nhau vạch cửa, vạch sân,
Một ngày ba bữa chực ăn,
Thấy đến việc lén mình lét lét.
Chưa rét đã phô rằng rét,
Xo ro đuôi quít vào trôn,
Vấy bếp người, tro trấu chẳng còn,
Ba ông táo lộn đầu, lộn óc,
Chưa sốt đà nằm dài thở dốc.
Le lưỡi ra phỏng ước dư gang.
Lại thấy người lơ đĩnh lơ hoang
Tài ăn vụng thôi thì hơn chúng.
Nhưng muông biết cày nương, bừa ruộng,
Thì muông kể biết mấy công ơn ?
Muông, người cho ăn cháo, ăn cơm,
Trâu, người bắt nhai rơm, nhai cỏ.
Khi muông thác tống chung, an thổ,
Có gạo tiền cấp táng toàn thân,
Trách một lòng chủ ở bất công,
Hậu ư bạc, bạc đem làm hậu".


2.2. Tác phẩm Con Trâu của Trần Tiêu :

Trần Tiêu (1900 - 1954) là em ruột Khái Hưng. Ông viết văn là nhờ sự khuyến khích của Khái Hưng. 

Con Trâu đăng trên báo Ngày Nay từ số 140 ngày 10 tháng 12 năm 1938, sau đó in thành sách và do nhà xuất bản Đời Nay ấn hành năm 1940.

Ngoài Con Trâu, Trần Tiêu còn viết :

- Chồng con (tiểu thuyết, 1941)

- Năm hạn (tập truyện ngắn, 1942)

- Sau lũy tre (tập truyện ngắn, 1942)

- Truyện quê (đoản thiên tiểu thuyết, 1942) 

https://www.dtv-ebook.com/images/cover_1/con-trau-tran-tieu.jpg

Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan viết về tác giả tiểu thuyết Con Trâu như sau : “Người dân quê Việt Nam dưới ngòi bút của Trần Tiêu bao giờ cũng là người dân quê nghèo khổ và mê tín. Người dân quê của ông là những người bị xiềng xích trong hủ tục, họ nghèo vì những tục hủ và khổ cũng vì những tục này. Trần Tiêu là nhà văn cho chúng ta thấy cái mặt kém cỏi của người dân quê Việt Nam (...) nhưng vì nếu chỉ nghèo nàn, mê tín, tất đã bị diệt vong từ lâu rồi”. 


Dưới đề mục ‘‘Mục đồng’’ mở đầu tiểu thuyết, Trần Tiêu viết như sau : ‘‘Nghé ơ ơ…ơ nghé ! Thằng Tửu ngồi trên mình trâu gọi nghé. Con trâu mẹ kêu thêm mấy tiếng ‘‘nghé ọ’’ và chân vẫn thản nhiên, đều đều bước một trên con đường đất gồ ghề.

Xa xa, cánh đồng cỏ nhấp nhô những mả. Một con nghé đứng sừng sững, cất đầu, ngơ ngác nhìn, đen sẫm in trên nền trời đỏ.

Bỗng nó nhảy quàng mấy cái, rồi vừa chạy vừa nhảy như một đứa trẻ nghịch ngợm, nó đến theo sau mẹ nó, thỉnh thoảng lại kêu mất tiếng ‘‘nghé ọ’’ còn non nớt.’’

Người miền bắc nói ‘‘mả’’ mộ (chôn người chết). Nghé là con trâu con.

Văn học nước ta có ‘‘Con Trâu’’ của Trần Tiêu. Văn học Pháp có nữ sĩ Marguerite Duras kể lại kỷ niệm về con trâu trong thuở niên thiếu ở nước Việt.


2.3. Nhà văn Marguerite Duras viết về con trâu :

Marguerite Duras (1914-1996) là con út trong gia đình gồm ba anh em. Cha bà là hiệu trưởng Trường Gia Định, mẹ : giáo viên. Duras là tác giả L’Amant, giải văn học Goncourt (1986). Trong tác phẩm này, bà thuật những kỷ niệm tuổi thơ, hình ảnh các trẻ chăn trâu (enfants sur les buffles) còn in đậm trong ký ức.


Kết luận :

Khác hẳn với câu tục ngữ ‘‘đàn gảy tai trâu’’, con trâu rất gần gũi với văn học, nghệ thuật. Tranh Đông hồ vẽ trẻ chăn trâu. Câu ca dao :

Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cầy với ta

Cấy cầy giử nghiệp nông gia

Ta đây trâu đầu ai mà quản công

Bao giờ cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

là lời nói thân tình của nhà nông với con trâu, coi trâu cầy như người bạn thân tình. Cả hai cùng làm lụng vất vả, cùng vui hưởng thành quả cần lao. Nhà nông thì gieo mạ, gặt lúa, con trâu có ‘‘ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn’’.


Trâu còn là bạn của các trẻ mục đồng, tai nghe tiếng sáo thổi vi vu trên mình trâu, ngắm nhìn con diều dật dờ trên trời quê xanh biếc. 

Trong ca khúc ‘‘Em Bé Quê’’, nhạc sĩ Phạm Duy viết rằng :

Ao bảo chăn trâu là khổ

Chăn trâu sướng lắm chứ

Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau

Và miệng hát nghêu ngao.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Đường về xóm nhà

Chữ i chữ tờ

Lùa trâu nhốt chuống

Gánh nước nữa là xoxng

Khoai lùi bếp trấu

Ngon hơn là vàng.


Người viết xin kính chúc bạn đọc sang năm Tân Sửu luôn khỏe mạnh, không còn phải băn khoăn, lo lắng về dịch bệnh ; trong năm mới, mỗi người sẽ gặt hái mùa màng vui tươi, thịnh vượng.

GS Lê Đình Thông


Nghe Từ Công Phụng Tỏ Tình... Luân Hoán

posted May 7, 2020, 6:22 AM by Le Phan   [ updated May 7, 2020, 6:24 AM ]

Nghe Từ Công Phụng Tỏ Tình...


Luân Hoán

Thích nhạc, mê nhạc, ghiền nhạc không hề đứng gần khả năng am hiểu âm nhạc, lại càng không thể phát sinh chuyện điều khiển, sắp xếp những nốt nhạc, nói ngắn gọn là sáng tác. Đa số chúng ta nghe nhạc bởi sự cảm nhận tự nhiên. Sự cảm nhận này rất ít đến với chúng ta bằng sự lẻ loi của các nhạc cụ, dù chúng có cùng nhau cất tiếng. Âm nhạc vốn là cõi cao xa, thường vượt tầm hiểu biết của nhiều người.

Nhạc sĩ Từ Công Phụng

Lược đọc

Trình chơi Âm thanh

Nghe Từ Công Phụng Tỏ Tình                                 Nghe thêm các bài về Từ Công Phụng

Cứu được nhược điểm này, lời ca đã đóng một chức năng chủ yếu. Riêng với người Việt Nam, ca từ đúng là một nhu yếu phẩm cho tâm hồn, cho tinh thần. Ngày còn nằm nôi, ca dao, tục ngữ theo giọng hát ru con, ru em đến với chúng ta. Ấu thơ bây giờ có thể thiếu hẳn nguồn bổ dưỡng này, nhưng bù lại có những máy phát êm dịu đưa giấc ngủ. Nói chung lời ca chính là chìa khóa, là cây cầu đưa chúng ta đến gần âm nhạc hơn. Dĩ nhiên phần nhiều chúng ta vẫn mang đôi tai điếc đặc ngồi trong thính đường một buổi trình tấu nhạc cổ điển tây phương. Nhưng ít ra chúng ta cũng đã dễ dàng đến với những Chiều Về Trên Sông của Phạm Duy, Thu Vàng của Cung Tiến, Biệt Ly của Dzoãn Mẫn, Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn, Tóc Mây của Phạm Thế Mỹ, Cô Đơn của Nguyễn Ánh 9, Hòn Vọng Phu của Lê Thương, Dư Âm của Nguyễn Văn Tý, Ngọc Lan của Hoàng Trọng, Quê Mẹ của Thu Hồ, Khúc Ca Ngày Mùa của Lam Phương, Ghé Bến Sài Gòn của Văn Phụng, Xóm Đêm của Phạm Đình Chương, Trăng Mờ Bên Suối của Lê Mộng Nguyên, Nụ Cười Sơn Cước của Tô Hải, hay Sơn Nữ Ca của Trần Hoàn… Dĩ nhiên còn rất nhiều, rất nhiều ca khúc vẫn sống tiềm ẩn trong lòng chúng ta. Có thể nói những ca khúc này, tám phần mười vượt thời gian nhờ ở ca từ. Đây quả thật là trình độ thưởng ngoạn âm nhạc của đại chúng người Việt chúng ta. Và từ những lời nỉ non, véo von không cần mất nhiều sự suy nghĩ này, một số trong chúng ta lần theo trình độ học vấn yêu thích những ca khúc trau chuốt, giàu hoa mỹ đượm chút ít triết lý về cuộc đời. Vẫn giữ căn bản giản dị, trong sáng, nhưng rõ ràng từ bàn tay của Từ công Phụng, Lê Uyên Phương, Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Cung Tiến… ca khúc của họ có cái vẻ sang cả, trí thức hẳn lên.

Tôi cũng là người yêu nhạc bình dân, không có khả năng am hiểu những trường canh, tiết tấu, hợp âm…gì gì đó. Tôi chỉ vịn lời ca mà đi cho cuộc đời mình thêm chút ít nhẹ nhàng, thanh thản. Hôm nay ngồi buồn, chẳng phải vì trời mưa, chẳng phải vì thất tình hay nhớ cố hương, mà bỗng thấy buồn khan thế mới lạ. Có lẽ có sự trống vắng nho nhỏ trong tâm hồn. Để nỗi bâng khuâng vô cớ không trở thành cô đơn, tôi mở nhạc. Và rất tình cờ, tôi nghe ông Từ Công Phụng tỏ tình.

Hình như Thiếu nữ và mùa Thu thường có những nét tương đồng. Từ sự lộng lẫy, thanh tú của nhan sắc, đến cái dịu dàng, man mác lạnh của tính chất, đã hàng nghìn năm qua, hai đối tượng này vốn là đầu nguồn của nhiều dòng sáng tác. Nhiều nhạc sĩ, thi sĩ, thậm chí đến cả văn sĩ, họa sĩ đã từng vịn vào mùa thu, hoặc vịn vào một bóng hồng để đẩy những suy tưởng lẫn nhớ nhung của mình thoát xác thành những hình ảnh mới. Nhạc sĩ Từ công Phụng cũng không đi lệch con đường có sẵn này. Nhưng với ông, trong ca khúc Bài Cho Em, ranh giới giữa mỹ nhân và mùa thu chợt được xóa nhòa. Để nhường chỗ cho tình yêu và nỗi nhớ quấn quít bên chân những nốt nhạc tha thiết, trôi nổi, vang xa mong tìm lại một thời hoa bướm có đủ vui buồn. Tất cả dành cho em, gởi về em mênh mang như một dòng sông, chúng ta hãy cùng Từ Công Phụng dựa tình lên dòng sông, và để lòng trôi cùng âm nhạc :

Chiều nay ngồi viết riêng cho em
Cho em bài hát êm đềm, trôi theo từng tiếng tơ mềm
Nhờ mây gửi đến riêng cho em
Cho em ngàn lời yêu thương, trôi trên nụ cười phong kín

Mùa Thu chợt đến trong cô đơn
Buồn bay lên mờ lấp khung trời chiều lạnh lùng
Trời còn gọi tiếng mưa đêm nay
Mưa ơi! Đừng làm buồn mắt em thơ ngây

Ô hay! Mùa Thu đến bao giờ
Mưa bay buồn giăng mắc khung trời
Người về từ trên đó để nhìn làn môi thắm
Cớ sao em còn buồn để mùa Thu đến rồi đi

Giòng sông nào vắng xa chưa em
Ru lên hồn tuổi thơ này, thêm một lần chuốc u buồn
Hồn lên ngàn phím tơ vương êm Ru em bằng lời ca đêm, ru lên tuổi buồn em mang

Giòng sông rồi vắng xa thôi em
Đời trôi theo ngày tháng, mang nhiều kỷ niệm buồn
Tuổi thơ còn có mơ không em
Hay trôi miệt mài ngày tháng trong cô liêu

Khi yêu chúng ta thường mất đi ý niệm về thời gian, hoặc ngược lại, từng giờ từng khắc có thể gói gọn được rất nhiều kỷ niệm. Ở ca khúc Bây Giờ Là Tháng Mấy, nhạc sĩ Từ Công Phụng, có lẽ có cả hai trạng thái khác nhau này. Trong ca khúc, ông có ít nhất 3 lần lên tiếng hỏi người yêu mình về một cái móc thời gian, không cần phân định là đang yêu nhau, gần nhau hay sắp sửa một cuộc chia xa. Hỏi cho có hỏi vậy thôi. Cái vẩn vơ thật thi sĩ của Từ công Phụng chỉ là cái bàn đạp để ông vẽ lại nỗi nhớ thương, cùng những nét đẹp độc đáo, tiêu biểu của người yêu mình. Em hờn dỗi đủ để cho anh phải đi tìm một loài hoa. Mắt em đẹp đủ cho anh thấy cả mùa xuân. Và ngay trong cái lạnh lẽo của mùa đông, tâm hồn những người yêu nhau cũng không lẻ loi. Cái thời gian Từ Công Phụng muốn hỏi, hay đúng hơn là muốn nhắc tới, chính là cái ổ tình, một thời ông đã cùng ấm áp bên một người, để có cơ hội mở ra một dòng tình ca rất gần với sự thưởng ngoạn của đại chúng :

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm
Chiều nay nếu em đừng hờn dỗi,
trách nhau một lời thôi
Tâm hồn mình đâu lẻ đôi.

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm màu hoa em cài
Chiều nay nhớ em rồi và nhớ
áo em đẹp màu thơ,
môi tràn đầy ước mơ
Mai đây anh đưa em đi về,
mưa giăng chiều nắng tàn
cho buốt lạnh chúng mình.
Em ơi, thôi đừng hờn anh nữa,
nhìn nhau buồn vời vợi,
để mùa đông buốt giá bờ vai mềm.
Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm mùa xuân trên đời
Mùa đông chết đi rồi mùa xuân
mắt em đẹp trời sao
cho mình thương nhớ nhau.

Trong một đồng tình gần như tuyệt đối với nhà thơ Du Tử Lê, khi xác nhận, minh định vị trí của người phụ nữ bên cuộc đời mình, nhạc sĩ Từ Công Phụng đã biến những lời thơ của ông Lê Cự Phách thành những dòng nhạc chân thành, tha thiết. Cảm tạ ơn em không phải là một thỏa thuận riêng rẻ giữa nhạc sĩ và thi sĩ, mà còn là sự đồng thuận của đám đông, của chúng ta khi lắng nghe. Giữ Đời Cho Nhau, như một lời dặn dò, nhắc nhở đơn giản, nhưng chân tình. Một hơi thở thoáng ấm chỗ nằm. Một vóc áo hờ hững bất ngờ, đã có thể là một sự ban ơn cho chúng ta, nếu tình cờ chúng ta được hạnh phúc biết rung cảm, biết nắm bắt, dù một thoáng. Hãy nghe Du Tử Lê và Từ Công Phụng nói hộ những gì đã lâu chúng ta muốn nói, mà chưa thành lời, chưa công khai:

Ơn em thơ dại từ trời
Theo ta xuống biển vớt đời ta trôi.
Ơn em dáng mỏng mưa vời
Theo ta lên núi về đồi yêu thương.
Tạ ơn em
Tạ ơn em.

Ơn em ngực ngải môi trầm
Cho ta cỏ mặn trăm lần lá ngoan.
Ơn em hơi thoảng chỗ nằm
Dấu quanh dấu quẩn nỗi buồn một nơi.
Tạ ơn em
Tạ ơn em.

Ơn em tình những mù lòa
Như con sâu nhỏ bò qua giấc vùi.
Ơn em hồn sớm ngậm ngùi
Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau.
Tạ ơn em
Tạ ơn em

Trong cuộc sống, gần như không có gì vĩnh cửu. Riêng tình yêu, sự đánh giá cũng chẳng bao giờ giống nhau. Nhạc sĩ Từ Công Phụng, với một cảm hứng ông tìm thấy, ghi lại, đã phơi bày chút nào sự bi quan của ông. Những không vui này được lồng trong những nhận định không xa lạ và phảng phất những nét triết lý vốn đã có. Đã sống tất phải chết. Đã hợp ắt sẽ tan. Cuộc tình tuyệt vời đến đâu cũng sẽ kết thúc. Tất cả chỉ tùy thuộc vào sự phôi pha của tháng năm. Lặp lại và diễn đạt ý tưởng này bằng âm nhạc, không phải là việc dễ dàng. Nhưng Từ Công Phụng, không những chỉ làm được việc này. ông còn chứng tỏ được khả năng sử dụng ngôn ngữ rất thơ.“Rót cho đầy hồn nhau, đắp cho đầy đời nhau” Không bí hiểm, xa lạ, nhưng không phải ai cũng dùng được những động từ đắc ý, giàu hình ảnh như họ Từ. Như Một Que Diêm là một ca khúc đã có khoảng cách khá xa với những thể loại phổ thông :

Như Chiếc Que Diêm
Đời anh sớm muộn gì
Đời em sớm muộn gì
Tình ta sớm muộn gì …cũng hấp hối
Thôi cũng đành một kiếp trăm năm đời người sẽ qua
Cũng đành một thoáng chiêm bao tình người cũng xa
Cũng phôi pha những điêu ngoa, theo vết môi cười tàn tạ
Thôi cũng đành một kiếp phong ba lệ tình cũng xa
Xuống đời ta những nguôi ngoai rồi người cũng xa
Cũng xa ta, cũng xa ta theo dòng nghiệt ngã mù lòa
Vì lời em sớm muộn gì cũng một lần gian dối
Tình anh sớm muộn gì cũng đưa vào tăm tối
Đời anh sớm muộn gì, đời em sớm muộn gì
Tình ta sớm muộn gì cũng hấp hối
Rót cho đầy hồn nhau, đắp cho đầy đời nhau
Những men nồng tình sâu rã rời

Thôi cũng đành như chiếc que diêm một lần lóe lên
Thắp đời em sáng lung linh, buồn một cõi riêng
Những đêm sâu, những canh thâu
Nghe nước mắt nặng giọt sầu
Thôi cũng đành như kiếp rong rêu một lần hóa thân
Cuốn về phong kín tim ta một đời chói chang
Những đam mê, những ngô nghê
Với tình người nhỡ lời thề
Thôi cũng đành như tấm gương tan mờ phai vết xưa
Xót dùm cho tấm thân ta ngựa bầy đã xa
Những đêm mơ thấy tan hoang
Hương tình vừa chớm muộn màng

Nhạc sĩ Văn Cao từng thú thật ông đã yêu mùa thu rất đậm đà, vượt trên ba mùa còn lại của đất trời. Một nhạc sĩ khác, ông Đoàn Chuẩn cũng rất hết lòng với mùa thu. Từ Công Phụng chẳng thua gì những người viết nhạc có tuổi đời cao hơn.Ông đã dành cho mùa thu nhiều ca khúc. Chúng ta thử nghe Mùa Thu Mây Ngàn của tác giả. Buồn vương trên mây, trên tóc mỹ nhân. Mưa bay vừa ướt áo, vừa đủ cho một con phố chợt giàu những đôi vai, những gót chân. Tất cả những hình ảnh đó không có gì mới. Nhưng qua từng ký âm của Từ Công Phụng, chúng ta hẳn sẽ thấy được ông cho những cảnh sắc, hình vóc ước lệ muôn đời thở sống như thế nào:

Chiều nay có mùa thu đi về
Buồn vương mây ngàn giăng khắp lối
Mùa thu bơ vơ đến bên trời
Ru tóc em suối nguồn
Gọi hồn hong gió thu buồn

Ngày mai chúng mình xa nhau rồi
Cầm tay em nhìn sao không nói
Chiều nay mưa bay khắp phố nhỏ
Mưa ướt đôi vai mềm
Bùn lầy lấm gót chân em

đk:

Thu nay mây ngàn còn giăng mãi bên trời
Mùa thu lưu luyến bóng dáng anh đi
Đêm nay bên thềm cầm tay em khẽ nói
Ngày mai anh đi rồi
Anh có buồn gì không

Buồn không hỡi người đã đi rồi
Tìm đâu những ngày vui êm ấm
Người đi theo năm tháng không cùng
Thương mắt em hay buồn
Nhìn mùa thu chết bên sông

Hình ảnh là một trong những yếu tố quan trọng trong chức năng làm trưởng thành một sáng tác. Dựa vào mùa thu để làm giàu thêm gia tài âm nhạc của mình, Từ Công Phụng đã rất thành công trong việc dùng hình ảnh để nói lên tâm cảm của mình. Nội dung ca khúc vẫn không ngoài tình yêu. Nhưng tình yêu sẽ có thể được mới ra, thi vị hơn với một người thơm tay và có trình độ diễn đạt, đã được đánh giá cao như Từ Công Phụng. Hãy lắng nghe Như Ngọn Buồn rơi thánh thót qua dòng nhạc Từ Công Phụng.

Như mùa thu trút lá vàng
ngậm ngùi em khóc cho tuổi thơ qua mau
hồn nhiên cũng rơi khỏi tầm tay với xa
trên từng thung lũng buồn
em lệ nhòa trên tóc

Trên từng thung lũng buồn
từng thung lũng buồn
mùa thu đã trở mình trên gót nhỏ
dìu em đến người
bằng vòng tay nâng niu hạnh phúc

Trên từng cơn lốc mềm
hồn em đã ngủ vùi trong tiếng thở
tình tôi cũng mù theo cơn lũ nào
là lần em đã khóc cho tình yêu

Em như ngọn buồn rơi
tuổi thơ ngây đã xếp chân môi hồng
em rơi vào đời tôi
tình yêu em khôn lớn trong dịu dàng
ôi nỗi dịu dàng nào đã ngời sáng
trên môi người

trên từng cơn lốc xoay đời
thuyền tình đã đắm trong vòng tay u mê
dù ta có đi trên nghìn thu đắng cay
trên từng nỗi khốn cùng
nhưng tình đôi ta biết bao giờ nguôi…

Mắt Lệ Cho Người Tình là một ca khúc góp phần tạo một chỗ ngồi khá riêng biệt cho Từ Công Phụng, trong gia đình âm nhạc Việt Nam. Vẫn long lanh những giọt bi quan về nhân sinh, về tình yêu. Nhưng cái buồn của tác giả, của những người đồng điệu với ông vẫn đứng cách xa với vực thẳm bi thảm. Chúng ta có cảm tưởng như tác giả biết buồn để làm tăng thêm sự đậm đà của tình yêu. Cuộc đời vô vọng và em đã đi qua đời tôi, nhưng những dấu vết cuộc tình để lại luôn luôn cần thiết cho một cuộc sống đầy đủ thi vị, nó sẽ bất tử như đôi mắt em, đôi mắt chúng ta cùng biết nhớ nhung.:

Mưa soi dấu chân em qua cầu
Theo những cánh rong trôi mang niềm đau.
Đời em đã khép .. đi vội vàng
Tình ta cũng lấp lối thiên đàng
Như cánh chim khuất ngàn, như cánh chim khuất ngàn
Còn mong còn ngóng chi ngày yêu dấu.
Mưa soi dấu chân em qua cầu
Theo những cánh rong trôi mang niềm đau
Thời nào yêu hết trái tim buồn, lời nào yêu hết trái tim buồn
Xin giữ trong mắt lệ, xin giữ trong mắt lệ
Nhòa theo từng gót chân người xa vời.
Mưa âm thầm buổi chiều thổn thức
Sẽ nhạt nhòa từ ngàn năm nữa như em khóc hồn nhiên
Nỗi muộn phiền ngày tàn hơi thở
Em thấy không cõi đời vô vọng.
Xin em hãy cho tôi tạ tình, khi em đã đi qua khoảng đời tôi.
Dù một khoảng khắc sớm phai tàn
Và lệ em rớt trên môi nhạt
Đôi mắt em rất buồn, đôi chúng ta rất buồn
Vạn câu tình cũ, xin gửi cho đời.

Chẳng phải Ngồi Lại Bên Cầu Thương Dĩ Vãng như nhà thơ Hoài Khanh, Từ Công Phụng ngồi xuống và khẩn khoản mời người yêu ngồi bên cạnh mình để nghe mùa xuân tình tự. Mùa Xuân, mùa của hy vọng, của đổi mới, chẳng ở đâu xa. Nó nằm giữa đất trời và ở ngay trong lòng những người biết yêu nhau, đang yêu nhau. Hoa lá cỏ cây là tiếng nói của mùa xuân đang tình tự. Âm nhạc là tiếng thở giải bày tâm sự của người nhạc sĩ biết yêu. Chúng ta hãy thử nghe trong thời khắc tuyệt vời của đất trời, người nhạc sĩ nói những gì với người yêu của mình. Biết đâu chính mỗi chúng ta là một người yêu của nhạc sĩ.

Em, lại đây với anh
ngồi đây với anh
trong cuộc đời này
nghe thời gian lướt qua
mùa xuân khẽ sang
chừng như không gian đang sưởi ấm những giọt tình nồng

tay này tay nắm tay
nhìn nhau đắm say
như chưa bao giờ
nghe chừng trong mắt nâu
hồn anh đã tan thành mùa xuân ngọt ngào phủ ấm thiên đường đôi ta …

Đã qua đi ngày tháng uá môi sầu nhớ tình người buồn tênh …
Em chút giọt lệ ấm, khóc mừng một ngày hạnh phúc miên man …

qua … ngày buồn đã qua
vì đã có em trong cuộc đời này
em, ngồi đây với anh
cùng nhau lắng nghe
giòng sông đang thầm thì trong đất những khúc nhạc tình …

em, lại đây với anh
ngồi đây với anh
trong cuộc đời này
bên đàn chim hót ca
này em có hay
mùa xuân đang mờ toang trong mắt người tình… mênh mang

Tuổi Xa Người là một ca khúc mang nhiều tính chất bi quan của Từ Công Phụng. Sự hoài nghi làm cho ông cảm thấy lạc loài. Tình yêu là điểm tựa tối cần cho đời người. Xa vắng nó, sự cô đơn tức khắc vây bủa khắp nơi. Lòng người sẽ tê lạnh, dù đâu đấy vẫn như nghe còn có người gọi tên. Nỗi buồn đi từ rộng lớn đến góc độ hẹp nhất, như từng chân tóc mà vẫn có thể nhận ra sự hiện hữu vô cùng của nó. Nỗi buồn không những phá phách vô tư trên dung nhan của tuổi thơ mong manh, mà còn để dấu chân hằn sâu qua từng chặng đời. Mỗi ngày chúng ta thầm trừ đi một khoảnh khắc cuộc sống của mình. Khoảnh khắc quí giá nhất vẫn là thanh xuân. Khi tuổi trẻ bỏ xa người mỗi ngày một nhiều, chúng ta chắc sẽ không giữ nguyên vẹn mọi ước muốn, ngoài một nỗi buồn. Hiểu như vậy chúng ta hẳn thông cảm được với tác giả, và sự bi quan của ông cũng không có gì đáng ngạc nhiên:

Một chiều êm tay đan tay dìu nhau trên lối
Đưa em đi nhè nhẹ vào đời
Bằng vòng tay tôi nâng niu mùa thu thức giấc
Đưa em vào ngày tháng vỗ về
Kể từ em đem cô đơn mọc lên phố vắng
Khi em mang nụ cười khỏi đời
Từng chiều rơi nghe như cõi lòng mình tê tái
Ngỡ như đời còn gọi tên nhau

Ngày đó khi một lần, một lần tiếng hát
Đồng lõa đưa em vào vùng trời lấp lánh
Bằng những cánh sao trời đầy đôi mắt ngước trìu mến.
Em, em xa dần ngàn đời hoang vắng
tôi đi về buồn chưng kẽ tóc
bước chân này còn trọn kiếp hoang vu

Một mình đi lang thang trong mùa đông rét mướt
nghe bơ vơ hồn mình lạc loài
Buồn dậy lên trên dung nhan gầy xanh cuả tuổi
trên tháng ngày hằn vết đời mình
Trời mùa Đông hong khô đi niềm tin sỏi đá
trên đôi tay này mình còn gì
Và giòng sông trôi đi vô tình mang tất cả
cuộc đời này của người hay tôi

Con Sóng Tình Vỗ mãi một âm quen hay con sóng tình vỗ mãi một âm quên. Cả hai chữ cuối cùng “quen” hay “quên” đều có cái hay riêng của nó. Vượt qua tất cả những biến động bên mình để vỗ lại, hát lại một âm điệu quen thuộc, xưa cũ đầy dấu yêu quả thật chân tình. Cũng gạt bỏ mọi chuyện để nhắc nhở lại một âm điệu đã quên từ lầu, nay bất ngờ có cơ hội nhắc lại, lặp lại, vỗ lại, như một thức tỉnh không phải thiếu thi vị. Chúng ta hãy lắng nghe Trên Ngọn Tình Sầu, và tự chọn cho mình một chữ thích hợp, trong ca khúc mà có nhiều bản viết không thống nhất hai từ Quen hay Quên.

Hạnh phúc tôi hạnh phúc tôi
Từ những ngày con nước về
Ngoài trời mưa mau ngoài trời mưa mau
Tay vuốt mặt không cùng
Bầy sẻ cũ hom hem
Chiều mái xám rêu xanh
Trời êm cao chân nhỏ
Cũng không về trên dòng sông tội lỗi
Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh
Môi thâm khô từ thuở định hôn người
Ngày tháng hạ khi không mà trở rét
Giọt nắng vàng lung linh màu lạnh ngắt
Sao khi không người ngoảnh mặt kiêu sa

đk:

Chiều qua đó chân ai còn ríu rít âm thưa
Lời ai ru như mơ cho trời xuống thật gần

Người trông ngóng hương đưa mùi mái tóc đêm mưa
Nhẹ theo lá oan khiên lả tả mái hiên người

Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh
Còn dế buồn tự tử giữa đêm sương
Bầy sẻ cũ cũng qua đời lặng lẽ
Em ở đó bờ sông còn ẩm cát
Con sóng tình vỗ mãi một âm quen

Trên Ngày Tháng Đã Qua, như một hoan hỷ ca. Để chuẩn bị cho sự lạc quan, Từ Công Phụng đưa ra những giọt lệ của những cuộc tình không trọn. Đây chính là phó bản thường có của cuộc đời thường. Niềm tin lẫn âm nhạc sẽ là những cứu cánh, người nhạc sĩ đã cổ võ một cách tích cực, rút từ vốn sống của ông.

Rung một cánh nhạc buồn
Phím có hay người khóc trên cung đàn lẻ loi
Rơi một ngấn lệ sầu
Có ai hay người khóc cho duyên tình bẽ bàng
Rung một cánh nhạc buồn
Rơi một ngấn lệ sầu
Có ai hay người khóc trong tinh cầu lẻ loi
Ngoài kia mưa là những giòng lệ rơi
Theo cuộc tình khi cơn bão đi qua đời mình
Người ơi, người ơi tìm đâu thấy nửa đời xuân thắm
Với tình yêu chúng ta như giọt sương sớm mai
như giọt sương sớm mai long lanh trên cánh hoa vàng
Gom môt chút nắng vàng
Hát lên soi hạnh phúc trên tháng ngày đã qua
Em nhìn thấy chút gì
Có phải chăng rạn vỡ trong tâm hồn chúng ta
thôi còn ngấn lệ này với một chút nhạc buồn
Hát lên cho đời sống vơi đi niềm đớn đau

Có lẽ cuộc sống trở nên xinh xắn hơn, đậm đà hơn nếu đời người có những lần được thất tình. Tôi ngờ rằng một số thi nhạc sĩ và những người sinh hoạt văn nghệ khác thường mong mỏi cho mình gặp được những cảnh ngộ thấm thía như thế.

Nhạc sĩ Từ Công Phụng được bao nhiêu lần khóc vì người yêu. Có thể có và cũng có thể không. Nhưng ông vẫn viết những ca khúc đau lòng, vì nhiều người, vì chính chúng ta có thói quen tâm đắc với chuyện tan vở. Giọt Lệ Cho Ngàn Sau có lẽ sẽ còn được nhiều thế hệ sau cho tiếp tục chảy.

Lối rêu xưa sẽ mờ dấu chân người
người buồn cho mai sau, cuộc tình ta tan mau
Thoáng như chiếc là vàng bay
mùa thu qua, mùa thu qua hững hờ
Nhìn nhau cho thêm đau, nhìn nhau cho mưa mau
Mưa trên nụ cười mưa trên tình người
lệ nào em sẽ khóc ngàn sau

Với đôi tay theo thời gian tôi còn
một trời mây lang thang, một mình tôi lang thang
Lá vẫn rơi bên thềm vắng
từng thu qua, từng thu qua võ vàng
Nhìn nhau cho thêm đau, nhìn nhau cho mưa mau
Mưa trên cuộc đời mưa như nghẹn lời
lệ này em sẽ khóc ngàn sau …

Một mai khi xa nhau
người cho tôi tạ lỗi
dù kiếp sống đã rêu phong rồi
Giọt nước mắt xót xa
nhỏ xuống trái tim khô một đời tôi tê tái

Lắng nghe muôn cung sầu hắt xuống đời
Một trời tôi thương đau, một trời em mưa mau
Sống buông xuôi theo ngày tháng
từng thu qua vời trông theo đã mờ
Lệ rơi trên tim tôi, lệ rơi trên đôi môi
Yêu nhau một thời xa nhau một đời
Lệ này em nhỏ xuống hồn tôi
Yêu nhau một thời xa nhau một đời
Lệ này em nhỏ xuống hồn tôi…

Nội dung của một bài thơ, một ca khúc có giá trị thật sự vốn không cần phải minh họa, phụ diễn hoặc ăn ké vài lời đẩy đưa. Nhạc Từ Công Phụng nói chung hay ca khúc Kiếp Dã Tràng nói riêng, có sức sống mạnh mẽ trong giới thưởng ngoạn. Nghe những lời ba hoa bên lề ca khúc không thể nào tịnh tâm đi cùng âm thanh mà Từ Công Phụng đã đem lại cho chúng ta. Lời giới thiệu lúc nào cũng đứng khiêm nhường trong cái duyên phải có rất khiêm nhường của nó. Xin hãy nghe Từ Công Phụng quan niệm về cuộc đời qua ca khúc Kiếp Dã Tràng :

Chiều vàng vương gót mỏi ta dừng chân phiêu du
Lặng nghe sóng gọi ngọt ngào
Hàng dừa nghiêng bóng ru nhau thầm thì lời âu yếm
Dìu nhẹ đôi cánh mềm rã rời
Đàn chim bé nhỏ ngập ngừng
Nhẹ hương gió đưa về khoảng trời cũ

Một mình ta đứng nhìn mối tình duyên tan theo
Ngàn con sóng gào bạc đầu
Nhẹ sầu lên dấu chân ghi cuộc tình nhòa trên cát
Lời người nghe đã chợt lạc loài
Trên thân dã tràng tủi phận
Hoài công tháng năm xe cát biển Đông

Thời gian như ngừng trôi giữa chiều tàn tạ
Thầm gọi tên người đã vắng xa phương trời
Cuộc tình như cơn lốc mang theo hồn người
vào trùng dương khép kín u mê ngàn đời
Tình người đâu có thấu cho ta?

Thân mang kiếp dã tràng đem đời xe tơ duyên
Trên bãi cát vàng hão huyền
Chợt nghe lớp sóng xô lên đời mình nhiều cay đắng

Cuộc tình trên tháng ngày muộn phiền

Còn in vết hằn đời mình
Người ơi hãy ru tình ta vùi quên

Thời gian như ngừng trôi giữa chiều tàn tạ
Thầm gọi tên người đã vắng xa phương trời
Cuộc tình như cơn lốc mang theo hồn người
vào trùng dương khép kín u mê ngàn đời
Tình người đâu có thấu cho ta?

Thân mang kiếp dã tràng đem đời xe tơ duyên
Trên bãi cát vàng hão huyền
Chợt nghe lớp sóng xô lên đời mình niềm cay đắng
Cuộc tình trên tháng ngày muộn phiền
Còn in vết hằn đời mình Người ơi hãy ru tình ta … vùi quên

Với cuộc đời, trong một khoảnh khắc buồn bất chợt, Từ Công Phụng chợt nhận ra Đời Bỗng Phù Du. Và trên lưng của tháng ngày, có thể ông đã soi vào quá khứ lẫn tương lai, để kịp phát hiện mình là một người mộng du. Rồi buồn chán lẫn sợ hãi, ông nhìn chung quanh. Không gặp một cứu rỗi nào. Mà tìm thấy một loài cỏ dại buồn tênh, an phận với cuộc đời chênh vênh thầm lặng. Ám ảnh bởi sự sinh tồn mỏng mảnh của đời người, Từ công Phụng không thấy được sự thong dong của cỏ cây. Trong liên tưởng, ông nhận ra sự đồng cảnh với mình bởi những đam mê thường dẫn đến chia ly. Những cố gắng vươn sống cũng trở thành công dã tràng. Thê thảm hơn, ông còn chợt nhận ra mình là một dòng sông cạn, mệt nhoài bởi những nghiệt ngã của cuộc tình, cuộc đời. Rất may, trong phút giây ngã lòng đó, người nhạc sĩ kịp nhận ra cái phù du cũng chính là cái thiên thu của lẽ sống còn và không thể làm gì khác hơn là ký thác lòng mình, tình mình vào âm nhạc:

Tôi như người mộng du
sống cuộc đời bềnh bồng
ngó quanh đời quạnh hiu
buồn rơi theo năm tháng
chết trên lưng tháng ngày
tôi như loài cỏ dại
tôi như loài cỏ dại
suốt một đời chênh vênh
suốt một đời buồn tênh
em có thương thì xin
chút hiền ngoan thật lòng
vì cõi đời này là những đam mê
là những chia ly
là những đớn đau lẻ loi
nên vẫn hoài công đi se cát biển
nhớ mênh mông tình vẫn như không đời…đời
tôi như dòng sông cạn
uốn quanh đời mệt nhoài
cuốn theo dòng nghiệt ngã
buồn rơi theo năm tháng
úa trên lưng tháng ngày
tôi mang hồn cỏ dại
ngây ngô tự hỏi lòng
bỗng một ngày thiên thu
bỗng một đời phù du

Tuy vậy, cánh tay cứu rỗi của giai điệu, âm thanh… chưa và có lẽ còn rất lâu, mới đủ khả năng loại bỏ con người bi quan, đang sống nhờ trong tâm hồn Từ Công Phụng. Và vì thế, ông vẫn còn phải tiếp tục dựa vào âm nhạc để trôi trên lưng ngày tháng của ông. Nhờ đó từ năm 1995 đến năm 1997, giới yêu nhạc Việt Nam tiếp tục sưu tập những ưu tư, phiền muộn của người nhạc sĩ sinh ra từ xứ trầm hương này, qua các sáng tác Vẫn Một Đời Quạnh Hiu (1995), Một Góc Đời Phôi Pha (1997), Bên Kia Đời Quạnh Quẽ (1997)…

Hình như càng giàu tuổi đời, nỗi bi quan trước cuộc sống của Từ Công Phụng, càng phong phú. Nó giống như “tóc bạc, càng cắt càng dài ra” chăng ?… Khó có ai không thể không nghĩ về tuổi đời của mình. Ngày tháng trước mặt cứ tiếp tục hao đi. Thịt da thầm lặng thay đổi trong từng tí tắc, nhưng đâu dễ nhận ra. Càng ngó lui đời mình càng ngậm ngùi lo cho những ngày sắp tới. Cái lo, cái sợ đẻ ra cái cô đơn. Nếu may có chút tài vặt, viết chơi một đôi dòng, vẽ bậy vài hình ảnh… để lấp bớt khoảng trống. Còn không, đành phải đọc, phải nghe, phải nhìn.., nói chung là phải bám lấy một cái thích tình cờ nào đó.

Nằm nghe Từ Công Phụng tỏ tình qua tiếng hát của chính tác giả và nhiều ca sĩ tên tuổi khác, tôi chợt thấy thèm xem tận mắt những ca khúc họ Từ đã cho in, cho phát hành. Dĩ nhiên, không quên tò mò tìm hiểu một chút tiểu sử của tác giả.

Qua tài liệu của nhạc sĩ Trường Kỳ, và nhiều nguồn khác trên máy vi tính, tôi không tìm thấy năm sinh của Từ Công Phụng. Ở Tác Giả Việt Nam, Lê Bảo Hoàng ghi năm 1943 là năm đất Vân Lâm Ninh Thuận (thuộc Phan Rang), có ấu tử Từ Công Phụng ra đời trong nghi lễ Hồi Giáo hẳn hoi. Có thể chính xác và cũng có thể sai . Sai, đúng từ nguồn cung cấp. Nhưng điều chắc chắn là năm lên 18, Từ Công Phụng đã có ca khúc đầu tay. Và ca khúc trình làng đầu tiên rơi đúng vào năm thứ nhất của thập niên 60 với tên Bây Giờ Tháng Mấy ?… Từ đó đến nay, anh chàng tốt nghiệp cử nhân luật đại học luật khoa Sài Gòn, đã cho ấn hành bốn tuyển tập nhạc: Tình Khúc Từ Công Phụng (1968, tái bản 1969), Trên Ngọn Tình Sầu (1970, tái bản 1994), Giữ Đời Cho Nhau (1983 tái bản 1993), Một Góc Đời Phôi Pha (1999).

Lần mở từng tập nhạc có trong tay, chỉ cần dựa vào các tên bài (Bây gìờ tháng mấy 1 &2, Mùa xuân trên đỉnh bình yên, Mùa thu mây ngàn, Trời về đêm mưa, Còn một buổi chiều, Người về trên mây, Vùng trời kỷ niệm, Lời của thành phố, Đêm độc thoại, Tuổi xa người, Ngồi bên nhau, Vào mưa – Trên ngọn tình sầu, Kiếp dã tràng, Mưa trên ngày tháng đó, Từ khúc, Giọt lệ cho ngàn sau, Rời nhau, Như ngọn buồn rơi, Xứ thâm trầm, Lời của mẹ, Đêm không cùng, Lời Cuối, Mòn mỏi – Giữ đời cho nhau, Qua vùng biển nhớ, Hóa kiếp, Mắt lệ cho người tình, Nằm nghe em hát trên vùng biển, Một thoáng nhìn nhau, Tình tự mùa xuân, Một mình trên đồi nhớ, Thiên đường quạnh hiu, Trên tháng ngày đã qua, Như chiếc que diêm, Mùa xuân và tình yêu em – Khi tôi đến nơi đây, Đời bỗng phù du, Vẫn một đời hiu quạnh, Một góc đòi phôi pha, Bên kia đời quạnh quẽ, Mãi mãi bên em, Âm thầm mưa, Hóa thạch, Mây hồng, Giận hờn, Lối mòn thiên cổ, Đừng nữa nhé chia lìa), chúng ta quả có thể tin rằng: càng có thêm tuổi đời, Từ Công Phụng càng để mắt đến cuộc đời. Có lẽ vì vậy sự lạc quan trước cuộc sống ở trong ông vơi đi nhiều. Nhà thơ Ngu Yên, trong bài tựa cho tập Một Góc Đời Phôi Pha đã nghiệm thấy:

“…Đối diện với sinh tồn mong manh, ly tán thường tình, người nghệ sĩ thỉnh thoảng vẫn ngạc nhiên. Ngạc nhiên, có lẽ là một trong những điểm khác biệt giữa nghệ sĩ và người thường. Hàng ngày, nghệ sĩ vẫn tiếp tục ngạc nhiên về những sự kiện chung quanh. Nhờ ngạc nhiên, họ tiếp tục sáng tạo một cách nhìn mới, một ý nghĩa mới, hay một cảm xúc cá biệt về một điểm rất quen thuộc, có khi rất nhàm chán. Ngạc nhiên là tín hiệu của cô đơn. Bởi vậy, dưới bất cứ một góc nhìn nào, nghệ sĩ mãi mãi là người cô đơn…”

Từ Công Phụng càng ngày càng giàu cô đơn ra thật. Chuỗi cô đơn của ông có lẽ còn kéo dài vô cùng tận. Bởi như xác quyết của nhà thơ Du Tử Lê:

“…Qua, dòng sông âm nhạc mang tên Từ Công Phụng, tôi chợt hiểu, âm nhạc khởi đi từ những trái tim tài hoa lớn, là một gắn bó vượt khỏi biên giới một không gian, xóa bôi được mọi lằn ranh hữu hạn vắn vỏi năm, tháng…”

Du Tử Lê không quên quả quyết đánh giá, Từ công Phụng đã biến đời thường của ông thành “Đời nhạc Từ Công Phụng, khởi nguồn, đã tự mặc khoác lấy cho chúng tính bất biến của định mệnh. Định mệnh của/ đời trăng không già/mặt trời mãi thổn thức…”

Còn rất nhiều nhận xét về nhạc Từ Công Phụng. Những nhận xét đã hiện thành chữ, đã in lên giấy. Những nhận xét vĩnh viển tiềm ẩn trong đầu, có hoặc không thể hiện thành động tác gật gù, nho nhỏ hát theo, hoặc trầm tư xa vắng…Những cảm nhận mặc nhiên là những đánh giá. Cảm nhận của anh, cảm nhận của chị, cảm nhận của tôi, cảm nhận của mỗi người trong chúng ta luôn luôn có thật, luôn luôn xảy ra. Không có chúng, chúng ta sẽ không tìm nghe lại, không tìm nghe thêm. Thích, mê, tâm đắc hay bất cứ một ràng buộc vô hình nào khác, cũng khởi từ cảm nhận, đánh giá. Riêng với Từ Công Phụng, nghĩ và viết về nhạc của ông còn rất nhiều người. Ở đây, tôi xin trích thêm một nhận xét, mà tôi tin rằng tương đối gần với trình độ thưởng ngoạn âm nhạc của đại đa số bình thường:

“…Khởi đi từ Bây giờ tháng mấy, những tình khúc Từ Công Phụng như những đợt sóng biển tiếp nối nhau vỗ về cõi lòng của những người trẻ thuộc nhiều thế hệ. Chẳng có cuộc tình nào giống cuộc tình nào. Mỗi cuộc tình là một tế giới riêng lẻ. Mỗi ánh mắt là một tín hiệu âm thầm. Mỗi nụ cười là một hân hoan nhớ đời. Mỗi giọt nước mắt là một mất mát khó quên. Tình ca Từ Công Phụng đã len lỏi vào từng thế giới thân thiết đó.Chúng không phải là những tình ca lướt trên da thịt mà đã luồn lách vào từng giòng máu, từng hơi thở của những người yêu nhau…Từ Công Phụng đã cho những tình nhân thứ ngôn ngữ đằm thắm, thâm trầm đầy trí tuệ…”

Lời bạt của nhà văn Song Thao dành cho tập Một Góc Đời Phôi Pha, trích trên, quả thật sáng sủa và có giá trị chính xác cao.

Để kết thúc những dòng tán gẫu này, thay vì cảm ơn Từ Công Phụng, tôi chợt quyết định bán cái cho ông cái quyền ngỏ lời cùng chúng ta. Thế mới thật thú vị:

“Tình ca như những dòng sông hiền hòa chảy hoài từ ngàn kiếp. Đó là thứ hạnh phúc bắt gặp trong buổi sáng nắng dậy chan hòa, vcó bông hoa nở rộ và chim muông ngợi ca một ngày mới bắt đầu bằng nụ hôn nồng ấm của đôi tình nhân.

Tình ca là những lời phủ dụ ngọt ngào của tình yêu như dòng suối róc rách từ thiên thu dành cho đôi tình nhân của bao miên man thế hệ, như một kẻ đồng lõa cho sự tồn tại của nhân loại.

Xin cảm ơn Đấn Tạo Hóa đã ban cho loài người có trái tim biết rung động, có tâm hồn biết thổn thức để tình yêu và cuộc đời còn được thăng hoa bằng những bản tình ca.

Nếu chim muông chỉ có một thời để ca hát, cỏ cây chỉ có một thời ssể xanh tươi, và loài người chỉ có một thời để sống và một thời để chết, thì xin hãy hát lên những bản nhạc tình để ngợi ca một thời để sống trước khi bước vào những nỗi khốn cùng buồn thảm của cái chết lẻ loi.

Bởi vậy, tình ca là con đường tôi đã chọn và cưu mang một đời.Dù tôi có là chứng gian cho những cuộc tình không thực, nhưng ít ra tôi đã mang đến một chút hạnh phúc nhỏ nhoi, một chút kỷ niệm khó phai mờ cho những kẻ tình nhân của một thời yêu thương say đắm…

Xin cảm ơn những kẻ tình nhân đã nâng niu những bản tình ca của tôi từ những thập niên qua như là nhân chứng cho tình yêu của mình, dù chúng có mang những nỗi hân hoan trong đôi mắt hay nụ cười, dù chúng có chứa chan những giọt lệ ngậm ngùi cho một đời tình ngắn ngủi.

Xin các bạn hãy mở những trang tiếp theo, và hãy hát cho nhau nghe những lời tiếp tục ngợi ca tình yêu – cho tôi hay cho các bạn – vẫn mong là nỗi niềm của chúng ta một đời thủy chung dâng hiến”

Luân Hoán

Trung tâm Văn bút VN Hải Ngoại: Văn Đàn Lá Phong

posted Apr 23, 2020, 5:58 AM by Le Phan   [ updated Apr 23, 2020, 3:25 PM ]

Thân chào quý vị,
Trung tâm Văn bút VN Hải Ngoại vùng Quebec-Ontario 
thân chuyển đến quý vị một cuốn sách Văn Đàn Lá Phong dưới dạng PDF do Trung Tâm thực hiện. 
Thân mời quý vị vào xem...
Thân mến

Quý vị muốn xem xin vui lòng lấy file dạng PDF 
xuống để xem... (Ở phía dưới của trang)
xin cảm ơn


Sưu tầm văn học nghệ thuật: Nguyễn Ngọc Duy Hân

posted Mar 29, 2020, 5:53 AM by Le Phan

Hân hạnh giới thiệu 
Nguyễn Ngọc Duy Hân
Một nhà thơ, một nhà văn cũng là một họa sĩ, Duy & Hân hiện định cư tại Toronto, Canada. Các bút hiệu: Trịnh Tây Ninh, Ái Miên, Nguyễn Ngọc Duy Hân, Nguyễn Ngọc Duy

Tuyển tập gồm 100 bài viết đã đăng trên tuần báo Thời Mới Canada, từ số 101 tới 199 - viết trong khoảng tháng Ba 2018 tới tháng Ba 2020.  Mỗi trang là một bài viết ngắn, có khi chen vào vài câu thơ hoặc câu danh ngôn, cũng có khi là câu chuyện bằng tranh cho trẻ em học tiếng Việt.

Mời bấm vào đọc sách dạng e-book, lật từng trang như sách thật
Nếu ô quảng cáo hiện ra, bấm X để tắt đi.


Mời bấm vào xem Viết Cho Yêu Thương # 2 dạng PDF

Tuyển tập "Viết Cho Yêu Thương" số 1 gồm 100 bài từ số 1 tới 100 


Về Miền Quá Khứ - Tập Nhạc Chép Tay
Đây là tập nhạc Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, nhạc Tiền Chiến và nhạc Trẻ thời đó được chép bằng tay.

Thời gian sau 1975, sách, nhạc Vàng bị đốt, mấy chị em đi mượn và bỏ giờ ra ngồi chép lại từng bản nhạc để giữ làm kỷ niệm. Tính tới nay sách đã cũ hơn 40 năm.

Mời bấm vào đọc Tuyển tập "Những Viên Sỏi Nhỏ" 

"Đất Cũ" tập chuyện ngắn - Duy Hân thực hiện

Nỗi Niềm Riêng Ta - Tập thơ bút hiệu Trịnh Tây Ninh

Mời bấm vào xem trang blog của Duy Hân, gồm thơ nhạc, slideshow, hình ảnh

Bản Quốc ca "O Canada!" lời Việt

posted Feb 27, 2020, 4:52 PM by Le Phan

Vidéo YouTube


Toronto, 2017-06-27
Thư gửi quý vị lãnh đạo tôn giáo, hội đoàn và chủ biên báo chí truyền thông.

Kính thưa quí vị,

Chúng tôi được biết Toronto Symphony Orchestra nhân dịp kỷ niệm Canada 150 năm lập quốc đã thâu hình và phổ biến Quốc ca Canada hát bằng 12 thứ tiếng trên TSO Canada Mosaic Web site (http://canadamosaic.tso.ca/anthem/). Do đó chúng tôi đã có dự án soạn và phổ biến lời Việt cho bản Quốc ca Canada để cộng đồng người Việt của chúng ta có thể góp mặt với các sắc dân khác trên trang mạng của TSO.

Kết quả khởi đầu của dự án chúng tôi gồm có:
-  Lời Việt bản Quốc Ca "O Canada!" do Bắc Phong soạn.
-  Bản dịch lời Việt Quốc ca Canada sang tiếng Anh của Nguyễn Đình Phương.
-  Bản Quốc ca "O Canada!" lời Việt dưới dạng MP3 do Đoàn Chính hát với nhạc đệm của dàn nhạc giao hưởng TSO.
-  Youtube video bản Quốc ca "O Canada!" lời Việt (https://www.youtube.com/watch?v=6BLN9xnuvRE)

Chúng tôi đã liên lạc với Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải và được ông khích lệ cũng như yểm trợ tích cực dự án qua những hành động cụ thể như:
-  Đệ trình lên thượng viện Canada ngày 20 tháng sáu bản quốc ca Canada lời Việt để được ghi nhận và lưu trữ.
-  Phổ biến bản Quốc ca Canada lời Việt trên trang Web của ông (http://senatorngo.ca/).
-  Viết văn thư cho TSO yêu cầu họ phổ biến thêm bản tiếng Việt Quốc ca Canada lên trang mạng TSO.

Chúng tôi hy vọng dự án này cũng sẽ gây được sự hưởng ứng sâu rộng trong cộng đồng để chúng ta sẽ có thể cùng hát bản quốc ca Canada bằng tiếng mẹ đẻ mỗi khi chào cờ Canada trong những buổi sinh hoạt cộng đồng.  Chúng ta có thể hát bản quốc ca Canada bằng tiếng Việt hay bằng tiếng Anh, Pháp cùng với tiếng Việt tùy theo tinh thần và phương thức tổ chức của mỗi buổi sinh hoạt.

Do đó chúng tôi viết thư này để thỉnh cầu sự trợ giúp của quý vị trong việc giới thiệu bản Quốc ca Canada lời Việt đến tất cả những Cộng đồng người Việt tại Canada bằng cách:
-  Phổ biến bản ký âm Quốc ca Canada lời Việt trên báo chí và trang mạng truyền thông.
-  Phân phối bản in nhạc Quốc ca Canada tiếng Việt cho đồng bào trong các buổi sinh hoạt cộng đồng và mời đồng bào hát theo nhạc phát thanh.

Trong tinh thần phục vụ cộng đồng bất vụ lợi, chúng tôi rất mong được quý vị yểm trợ để dự án này được hoàn thành tốt đẹp nhân dịp kỷ niệm 150 năm lập quốc Canada.

Trân trọng,


Đinh Ngọc Bôi, điều hợp viên dự án 
Trần Thái Lực, thành viên
Nguyễn Đình Phương, thành viên
Đoàn Chính, thành viên
Kiều Duy Phong, thành viên
Nguyễn Hải Việt, thành viên

TS TRƯƠNG CÔNG HIẾU VỚI CÔNG TRÌNH TRƯỜNG TIỀN NƠI KINH THÀNH OTTAWA

posted Nov 25, 2019, 8:07 PM by Le Phan

TS TRƯƠNG CÔNG HIẾU VỚI CÔNG TRÌNH

TRƯỜNG TIỀN NƠI KINH THÀNH OTTAWA 


     

Ngày 17/11/2019, Liên Hội Người Việt Canada và Cộng Đồng Người Việt Ottawa dành cho tôi vinh dự thuyết trình giữa lòng thủ đô Canada. Nghi thức chào quốc kỳ Canada và VNCH do ban Thủ Đô đồng ca là một sự tiếp nối giữa quê nhà và quê người. Trong số đồng bào ưu tư về tiền đồ đất nước tham dự có những vị đến từ Little Saigon bên nước Mỹ và các đô thị cận kề như Montréal, Québec ; còn lại là kinh thành Ottawa. Trong số các thân hữu hiện diện có tiến sĩ Nguyễn Hải Bình, nguyên giáo sư Đại học Luật Khoa Saigon tiêu biểu cho giới sĩ phu của VNCH cùng với phu nhân là nhà văn Nguyễn Lệ Châu, luật sư Lâm Chấn Thọ, người khởi xướng việc phục hoạt hiệp định Paris 1973, tiến sĩ Trương Minh Trí của Liên Hội Người Việt Canada, nhà hoạt động cộng đồng Lê Phan, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Ottawa, tiến sĩ Trương Công Hiếu và phu nhân Hiếu Tâm. Ngày hôm sau (18/11), tiến sĩ Trương Công Hiếu, nhà nhiếp ảnh Trần Hy Hiền, trưởng nam của GS Trần Chánh Thành, cựu ngoại trưởng VNCH, hai thân hữu Lê Phan và Chung Thế Hùng đã hướng dẫn tôi đi thăm một số di tích lịch sử của kinh thành Ottawa, trong số có cầu Trường Tiền.

Thật đúng là duyên kỳ ngộ, ‘‘hữu duyên thiên lý năng tương ngộ’’ (有緣千里能相遇), vì cái tên ‘‘Trường Tiền’’ (場錢) có cấu trúc gần giống cầu sắt Alexandra nối liền Ottawa và Gatineau.

Hữu duyên, vì cái tên tiền định ‘‘Trường Tiền’’ của cố đô Huế còn có nghĩa là xưởng đúc tiền. Cầu ‘‘Trường Tiền’’bắc ngang sông Hương có từ năm 1899. Trường Tiền có nghĩa là xưởng đúc tiền. Đồng tiền do cơ xưởng đúc có bốn chữ Cảnh Hưng Thuận Bảo :   

Ngoài cây cầu Trường Tiền, thủ đô Ottawa còn có xưởng đúc tiền (mint). Anh Lê Phan đã giới thiệu sở Trường Tiền của kinh thành Ottawa như sau : ‘‘Trong quyển sách ‘‘Lịch sử 100 năm của Nhà máy Đúc tiền Hoàng gia Canada’’ (Royal Canadian Mint 100 Years of History), tiến sĩ Trương Công Hiếu đã được ghi nhận là người đầu tiên trên thế giới đã thay đổi hệ thống đúc tiền bằng những kỹ thuật dùng kim loại và thép để làm cho đồng tiền mỏng hơn, nhẹ hơn và không bị rỉ sét.’’ (trích website Viet Vancouver).

Hình chụp tiến sĩ Trương Công Hiếu trên tựa đề bài viết, phía trái đen trắng khi còn ở quê nhà, mắt hướng về tương lai. Phía bên phải nơi xứ người, mắt nhìn về cố hương. Năm 2006, ông đảm nhận chức vụ Tổng Giám Đốc Kỹ thuật của Sở Trường Tiền Canada (Royal Canadian Mint). Ngày 16/03/2018, vị Toàn quyền Canada ban tặng cho ông Huân chương Canada (Ordre du Canada). Huân chương này có từ năm 1967 là huy chương cao quý nhất của Canada, tưởng thưởng những vị cống hiến những công trình đặc biệt cho đất nước Canada.

 Anh Lê Phan còn cho biết tiến sĩ Trương Công Hiếu đã có công :

- tinh chế 4 số 9 (.9999), được dùng làm tiêu chuẩn quốc tế từ năm 1982 ;

- phát minh [COLOR=maroon], kỹ thuật sản xuất tiền xu với hình ảnh ba chiều (hologram).

Tôi có vinh dự được tiến sĩ Trương Công Hiếu trao tặng đồng tiền Canada, một công trình tim óc của tiến sĩ, được tác giả Albert M. Bech ghi nhận như sau :

‘‘Trong 40 năm vừa qua, người có nhiều công lao nhất trong sự tiến bộ về ngành đúc tiền, người đã đóng góp nhiều nhất những kiến thức mới về ngành đúc tiền trên thế giới chính là Tiến sĩ Trương Công Hiếu của Sở Đúc tiền Hoàng gia Canada (trích Story of World Money Fair, Berlin).

Nhờ sáng chế của tiến sĩ Trương Công Hiếu, đồng tiền Canada phát hành năm 2010 còn đem cả chiếc lá Érable nhuộm đỏ, quốc huy của Canada, sát cánh cùng (érable) sắc vàng, quốc kỳ VNCH.

Biểu tượng vừa kể mà tiến sĩ Trương Công Hiếu thể hiện trên đồng tiền Canada chính là hành trình từ quê nhà đến quê người của ông, làm rạng danh quê cha đất tổ, nơi có cây cầu Trường Tiền bắc ngang đất Thần Kinh.

Tôi mạo muội có bài đường thi cổ kính, riêng tặng tiến sĩ Trương Công Hiếu và phu nhân, để ghi lại kỷ niệm kinh thành Ottawa, nơi có Cơ xưởng Trường Tiền Hoàng gia Canada :

 

Sắc thắm hoàng kỳ mãi vẫn kiêu

Đồng tiền ‘‘Tiến sĩ’’ Hiếu in nhiều

‘‘Trường Tiền’’để lại cho nhân thế

Phát minh tiền bạc có ba chiều

Trí tuệ quê nhà được kính nể

Tâm huyết họ Trương có tuyệt chiêu

Lá vàng Érable, quê hương Việt

Phất phới tung bay thật mỹ miều.

 

 

 

Paris, 25/11/2019

Niagara Thác Đổ

posted Nov 25, 2019, 7:58 PM by Le Phan

Niagara Thác Đổ


Còn hơn hai tháng nữa, tôi mới có dịp đến thuyết trình ở Ottawa nhưng Niagara thác đổ dường như đã ầm vang trong tâm tưởng. Niagara Canada khiến tôi bồi hồi nhớ lại  Gougah của Đà Lạt năm xưa, tuy không hùng vĩ bằng, nhưng còn mang nguyên vẹn nét hoang sơ của núi rừng cao nguyên.

Niagara trong ký ức tôi, ngoài tiếng thác đổ, còn là bút ký của Chateaubriand. Năm 2009, Sébastien Baudoin soạn luận án tiến sĩ về ‘‘La poétique du paysage dans l’œuvre de Chateaubriand’’ nói nhiều về chất thơ trong văn Chateaubriand.

Đoạn văn ‘‘Dans les forêts du Nouveau-Monde’’ mở đầu bằng một ý tưởng chen lẫn giữa nhạc và thơ như sau : ‘‘Một đêm lạc bước trong khu rừng ngút ngàn, không xa thác Niagara ; tôi chợt thấy ánh chiêu dương tắt dần và cảm nhận trong nỗi cô liêu của núi rừng, cảnh trí tuyệt đẹp một đêm nơi miền hoang dã của Tân Thế Giới.’’

Trong đoạn cuối, tác giả chuyển hóa bút ký thành một tấu khúc tuyệt vời : ‘‘Auprès, tout était silence et repos, hors la chute de quelques feuilles, le passage brusque d’un vent subit, les gémissements rares et interrompus de la hulotte ; mais au loin, par intervalles, on entendait les roulements solennels de la cataracte de Niagara qui, dans le calme de la nuit, se prolongeaient de désert en désert, et expiraient à travers les forêts solitaires.’’

Chateaubriand sử dụng bảy nốt nhạc trong thang âm, nốt rê lưu lạc gặp lại nốt rê cố cựu (gamme dorienne). Nào ta hãy cùng nghe khúc nhạc dồn của tiếng thác Niagara, qua ngòi bút Chateaubriand :

‘‘(enten)dait, (prolon)geaient, (dé)sert, (dé)sert, (expi)raient, (tra)vers, (soli)taires.’’

Đó chính là tiếng thác đổ ngoài thiên nhiên và trong trong ngôn ngữ : ý tại ngôn ngoại (意在言外).

Về ngôn từ, Chateaubriand viết ‘‘cataracte’’ thay vì ‘‘chute’’. Cataracte, gốc hy lạp, ghép lại hai chữ ‘‘kata’’ (bên dưới) và ‘‘rasso’’ (vỡ tan), vẽ nên một bức tranh nhân sinh. Ngọn nước từ lưng trời, đổ xuống thế nhân, vỡ tan thành bụi mờ trắng xóa.

Tác giả dùng thì ‘‘imparfait’’, gốc tiếng latin, có nghĩa là dang dở. Cách dụng ngữ tượng thanh, là tiếng thác đổ tiếp nối chập chùng, giống như khúc đàn dang dở : ‘‘Symphonie inachevée’’.

Đoạn văn của Chateaubriand rất khó dịch, tôi mạo muội chuyển ngữ với 7 chữ vần trắc : ắt, thể hiện bảy nốt nhạc trong nguyên bản tiếng Pháp.

‘‘Quanh đây hoàn toàn tĩnh lặng, ngoài vài chiếc lá rơi xào xạc, một cơn gió thoảng qua, tiếng chim rừng nức nở. Ngoài chốn xa, tiếng thác Niagara từng chặp đổ xuống hùng vĩ, trong đêm khuya vắng ngắt, nỗi se sắt chạy dài trong hoang vắng triền miên, chìm lắng giữa núi rừng vắng lặng.’’

 

Ý thơ của Chateaubriand hóa thân vào vần thơ Việt :

 Từ trời thác đổ xuống sườn non

Quạnh quẽ duyên trao phận mỏi mòn

Tháng đợi năm chờ sầu lặng lẽ

Duyên kiếp lỡ làng nước cuốn tuôn.

 

Rừng cây bát ngát quanh triền đá

Lẳng lặng mà nghe thác đổ dồn

Biếng nhác chim rừng buồn chẳng hót

Mây bay gió cuốn tựa cung đàn !


Cầu Trường Tiền...

posted Nov 25, 2019, 7:54 PM by Le Phan

CẦU TRƯỜNG TIỀN
   
 
Quốc Văn Giáo Khoa Thư kể lại câu chuyện như sau :
 ‘‘Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, làng xóm, láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi : Ông đi du sơn du thủy, thế tất đã trông thấy nhiều cảnh đẹp. Vậy ông cho ở đâu là thú hơn cả. Người du lịch đáp lại rằng : Cảnh đẹp mắt tôi trông thấy đã nhiều, nhưng không đâu làm cho tôi cảm động, vui thú bằng lúc trở lại chốn quê hương, trông thấy cái hàng rào, cái tường đất cũ kỷ của nhà cha mẹ tôi. Từ cái bụi tre ở xó vườn, cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi ra cho tôi những mối cảm tình chứa chan, kể không sao xiết được.’’

Khách du lịch đã nói thay tâm trạng người viễn xứ. Sau chiều 17/11/2019 thuyết trình, do Liên Hội Người Việt Canada và Cộng Đồng Người Việt Ottawa tổ chức, tiến sĩ Trương Công Hiếu, họa sĩ Lê Phan hướng dẫn tôi đi thăm thủ đô Ottawa. Phía sau Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật phủ lớp tuyết trắng xóa, anh Lê Phan dẫn tôi đến ven sông, chỉ cho xem chiếc cầu sắt phía xa mà anh đặt tên là cầu Trường Tiền. 

Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy sen thì nhớ đồng quê Tháp Mười.  

Còn người bạn tri kỷ ở Ottawa, thấy cây cầu sắt bắc ngang sông Ottawa, lại nhớ cầu Trường Tiền xứ Huế : 
‘‘Cầu Trường Tiền sáu vài, mười hai nhịp
Em qua không kịp tội lắm anh ơi
Mấy lâu ni mang tiếng chịu lời
Có xa nhau chăng nữa, cũng tại ông trời mà xa’’

Cầu sắt Alexandra nối liền thủ phủ của Canada (Ottawa) và tỉnh lỵ Gatineau, dài 6 nhịp (arches). Cầu Trường Tiền bắc ngang sông Hương có 12 nhịp, từ thời vua Lê Thánh Tôn kết bằng song mây, sau đổi thành gỗ, mãi đến đời vua Thành Thái, kỹ sư Gustave Eiffel mới biến thành thép vững vàng.

Khi viết về mảnh đất quê hương, nhà văn Chateaubriand cho rằng sỏi đá cũng phải ngậm ngùi : ces cailloux, qui prennent la parole, offrent de plus une sorte de personnification presque inconnue. Huống hồ là cây cầu bắc ngang đất Thần Kinh, gợi nhớ Bát nhã Tâm kinh : Gate, gate, paragate, parasamgate, Bodhi, svaha. (Vượt qua, vượt qua, vượt qua bờ bên kia, hoàn toàn vượt qua, hoàn toàn giác ngộ). Khi đặt tên cho cầu sắt bắc ngang sông Ottawa là Trường Tiền (場錢), hẳn là anh Lê Phan nhớ đến Vài nét Huế của nhà thơ Nguyễn Bính :

Cầu cong như chiếc lược ngà
Sông dài mái tóc cung nga buông hờ
Đôi bờ đôi cánh tay vua
Cung nga úp mặt làm thơ thất tình.

Ở đây áo tím riêng màu
Bài thơ nón mỏng che đầu mỹ nhân
Loanh quanh xóm vắng, đường gần
Ấy ai làm dáng phi tần với ai.

Con sông không rộng mà dài
Con đò không chở những người chính chuyên.
Ở đây có nước sông Hương 
Có cây núi  Ngự, có đường Nam Giao.

Bồng bềng sáu nhịp cầu cao
Thờ ơ bóng mát nơi nào cũng xanh
Thâm u một dải hoàng thành
Đình suông con én không đành bay đi.

Con sông không rộng mà dài. Từ Bằng Lăng đến cửa Thuận An dài 33 km, so với sông Ottawa dài 1.197 km. Nhịp cầu uốn cong trông giống chiếc lược ngà. Chính vì hình tượng đó, cầu Alexandra mới hóa thân thành cầu Trường Tiền trong tâm tưởng người Việt viễn xứ.

Vì đã hứa với anh Lê Phan sẽ làm một bài thơ mang tên Cầu Trường Tiền, tôi xin có bài thơ đề tặng như sau :

Vắt vẻo cầu cong bắc ngang sông
Mười hai bến nước vẫn ngóng trông
Lạc nơi xứ lạnh toàn là tuyết 
Cây cành nặng trĩu những hoài mong.

Trường Tiền xứ Huế dấu bên song
Mây trôi nước cuốn vẫn trinh trong
Qua thôn Vỹ Dạ, cầu Gia Hội
Cuốn theo tâm sự nhịp cầu cong.

Hương giang chảy miết đến phương Đông
Cuốn theo lau lách bám ven sông
Lau còn nhớ mãi làng thôn cũ
Lách vẫn chờ mong, dạ mỏi mòn.

Alexandra nối bến sông
Đôi bờ kết lại tấc lòng son
Lưu thủy hành vân thôn Vỹ Dạ
Sóng vỗ chập chùng nước cuốn tuôn.


 

 Paris, 20/11/2019

GS. Lê Đình Thông - Thuyền Trăng Kính mừng sinh nhật bách niên của GS Vũ Quốc Thúc

posted Oct 21, 2019, 7:40 AM by Le Phan   [ updated Oct 21, 2019, 7:44 AM ]

GS. Lê Đình Thông – Thuyền Trăng
Kính mừng sinh nhật bách niên của GS Vũ Quốc Thúc


Sinh nhật trăm tuổi (16/09/2019) của GS Vũ Quốc Thúc nhằm rằm tháng tám năm Kỷ Hợi (13/09/2019), tuy xê xích ba ngày nhưng vẫn là ánh trăng rằm. Thầy trò cùng nhấp chén trà quê hương, trong khi chúng tôi ngâm nga hai câu thơ trong bài Mạn Hứng (漫興) của Nguyễn Trãi để chúc thọ thầy :

Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng

故山昨夜纏清夢

Nguyệt mãn Bình Than tửu mãn thuyền

月滿平灘酒滿船

Trăm năm chỉ là một con thuyền ‘‘trải qua các thời biến’’, như tựa cuốn hồi ký của thầy xuất bản cách nay đúng 10 năm (2009). Thuyền bách niên chuyên chở bao nhiêu nỗi u hoài thời thế, đến năm thứ 100 còn ngập ánh hào quang :

Thuyền trôi vẫn quyến sao đêm

Hào quang vẫn ngủ êm đềm trong mơ.

Vũ Hoàng Chương 

Trên bình diện nhân sinh, hào quang của bậc thầy đào tạo các môn sinh lúc nào cũng sáng tỏ. Trên bình diện quốc gia, hào quang bừng sáng, mai này sẽ đem lại tự do no ấm cho dân tộc. Thầy luôn vững tin vào tương lai đất nước :

Càn khôn ký bĩ nhi phục thái

乾 坤 既 否 而 復 泰,

Nhật nguyệt ký hối nhi phục minh.

日月 既 晦 而 復 明 。

(Càn khôn bỉ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh.)

Nguyễn Trãi

Tôi kính biếu Thầy ba tặng vật tinh thần đầy ý nghĩa của ba nhà báo CTKD :

Trăn Trở Cuối Đời của Hoàng Ngọc Nguyên. Tác giả xuất thân khóa I CTKD là nhà báo kỳ cựu, viết đều đặn bằng Việt ngữ và tiếng Anh-Mỹ, nhận lãnh trách nhiệm đệ tứ quyền với những nhận định sắc bén, luôn tôn trọng nhiệm vụ luận báo chí (déontologie du journalisme) từng được giảng dạy tại trường CTKD Đà Lạt. Tác giả đã dành một chương sách kể lại những kỷ niệm với GS Vũ Quốc Thúc, nói lên lòng tri ân và chúc thọ.

– Trang blog Thụ Nhân Bắc Một Nhịp Cầu do nhà báo Thạch Lai Kim, khóa I CTKD chủ biên, giới thiệu các Bản Tin của Thụ Nhân Paris, bài vở thơ văn thể hiện tinh thần tôn sư trọng đạo, theo truyền thống đại học nước nhà. Số lượt truy cập ngày 14/09/2019 :  274459.

– Trang website Diễn Đàn Thụ Nhân do nhà báo Võ Thành Xuân, khóa I CTKD, chủ trương, tập hợp các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà biên khảo CTKD trong nước và hải ngoại. Số lượt truy cập ngày 14/09/2019 : 393875.

Các công trình văn học trên đây minh chứng lời giảng dạy của thầy ở quê nhà luôn là khuôn vàng thước ngọc cho các môn sinh, theo đúng tôn chỉ Bách Niên Chi Kế Mạc Như Thụ Nhân (百年之計莫如樹人).

Hai ý nghĩa Thuyền Trăng (để chỉ thời gian) và Thụ Nhân (không gian) gom lại thành bài thơ chúc thọ GS Vũ Quốc Thúc như sau :

Thuyền trăng chở mãi đến trăm năm

Nợ nước lo tròn chẳng bận tâm

Chính Trị Kinh Doanh trường đại học

Kinh Bang Tế Thế quyết cùng làm

Trồng Người bách niên mà không mệt *

Tuổi hạc da mồi trí vẫn chăm

Tấm thân mòn mỏi, hồn minh mẫn

Thanh bình thịnh trị chẳng bao lăm !


Paris, 16/09/2019


* hối nhân bất quyện (誨 人 不 倦).

GS. Lê Đình Thông -Trăng Thu


Trăng rằm tháng Tám mãi trên non

Ánh Nguyệt rơi hoài dạ sắt son

Múa khúc Nghê Thường trăng mỏi mệt

Hằng Nga nghỉ đỡ vướng ngàn thông

Trăng vàng hải ngoại buồn da diết

Rớt  xuống dòng sông nước cuốn tuôn

Ánh Nguyệt bồng bềnh theo sóng vỗ

Mưa thu đẫm lệ lúc trăng tròn.


Thu 2019
Nguồn: http://lediemchihue.com/

1-10 of 23